Bài Giáo Lý – Khi chúng ta đón tiếp thì chúng ta đã được thưởng công rồi

Cùng nhau làm việc, giữa các Kitô hữu (Bản dịch toàn văn)

JANVIER 23, 2020 09:44 HÉLÈNE GINABATAUDIENCE GÉNÉRALEPAPE FRANÇOIS

Triều kiến chung ngày 22/01/2020

« Các Kitô hữu khác thực sự là các anh chị em của chúng ta trong Đức Kitô », Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã khẳng định như vậy, vì thế lòng hiếu khách là một « nhân đức đại kết quan trọng », « không phải chỉ là một hành động đại lượng một chiều ». Đức Giáo Hoàng đã giải thích rằng, khi chúng ta đón tiếp các Kitô hữu khác, « chúng ta được thưởng công, bởi vì chúng ta tiếp nhận những gì Chúa Thánh Linh đã gieo trồng nơi các anh chị em của chúng ta ». Đón tiếp các Kitô hữu thuộc các truyền thống khác, ngài nói thêm, chính là « thể hiện tình yêu của Thiên Chúa đối với họ » và « tiếp nhận những gì Thiên Chúa đã hoàn tất trong cuộc đời của họ ».

Đức Giáo Hoàng đã tập trung Bài Giáo Lý ngày thứ tư 22/01/2020 về chủ đề lòng hiếu khách, được lựa chọn bởi các cộng đoàn của đảo Malta và Gozo cho Tuần Lễ Cầu Nguyện cho sự hợp nhất các Kitô hữu. Trong đại hội trường Phaolô VI, trước hàng ngàn du khách và khách hành hương tụ tập trong buổi triều kiến chung hàng tuần, Đức Giáo Hoàng đã nhắc lại đoạn kể về vụ đắm thuyền của thánh Phaolô và các bạn đồng hành của ngài và về lòng hiếu khách mà dân chúng trên đảo Malta đã dành cho các ngài, trích ra từ sách Tông Đồ Công Vụ.

Ngày nay cũng thế, ngài nhấn mạnh, « trên toàn thế giới, những người nam, nữ di dân đã phải đương đầu với những chuyến đi đầy rủi ro để trốn chạy bạo lực, để trốn chạy chiến tranh, để trốn chạy nghèo đói. Cũng như thánh Phaolô và các bạn đồng hành của ngài, họ đã trải nghiệm sự lãnh đạm, sự hiểm ác của sa mạc, của sông sâu, của biển cả… ». Và Đức Giáo Hoàng đã kêu gọi : « Với tư cách là Kitô hữu, chúng ta phải cùng nhau làm việc để thể hiện tình yêu của Thiên Chúa được mặc khải bởi Chúa Giêsu Kitô cho những người di dân. Chúng ta có thể và chúng ta phải làm chứng (…) rằng mỗi con người đều quý giá đối với Thiên Chúa và được Người thương yêu ».

Sau đây là bản dịch toàn văn Bài Giáo Lý bằng tiếng Ý.

HG

Bài Giáo Lý bằng tiếng Ý của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Thân chào Quý Anh Chị Em !

Bài Giáo Lý ngày hôm nay thật là hợp với Tuần Lễ cầu nguyện cho sự thống nhất các Kitô hữu. Chủ đề của năm nay, vốn là lòng hiếu khách, đã được triển khai bởi các cộng đoàn Malta và Gozo, lấy ý từ đoạn sách Tông Đồ Công Vụ kể lại lòng hiếu khách của dân chúng Malta dành cho thánh Phaolô và các bạn đồng hành của ngài, cũng bị đắm thuyền cùng với ngài. Đó cũng chính là đoạn mà tôi đã dựa vào trong Bài Giáo Lý cách đây hai tuần.

Chúng ta hãy bắt đầu trở lại từ trải nghiệm thảm khốc của vụ đắm thuyền này. Chiếc thương thuyền trên đó có thánh Phaolô đã bị phó mặc cho phong ba bão táp. Từ 14 ngày qua, họ đi trên biển cả, thả trôi không lèo lái, và bởi vì không thấy mặt trời cũng chẳng thấy trăng sao, những người đi trên thuyền cảm thấy mất phương hướng, tuyệt vọng. Dưới chân họ, sóng biển vỗ mạnh vào mạn thuyền và họ sợ rằng thuyền có thể bị vỡ vì sức mạnh của sóng biển. Trên không, họ bị gió mưa quất rát mặt họ. Mãnh lực của biển cả và cơn bão vừa mạnh một cách kinh hồn vừa lãnh đạm với số phận của những người đi trên thuyền : họ có đến 260 người !

Nhưng thánh Phaolô vốn biết rằng sẽ không như thế. Đức tin của ngài nói với ngài rằng sự sống của ngài nằm trong tay Thiên Chúa, Đấng đã làm cho Chúa Giêsu sống lại từ kẻ chết và đã kêu gọi ngài, Phaolô, để mang Phúc Âm đến tận cùng trái đất. Đức tin của ngài cũng nói với ngài rằng, theo những gì Chúa Giêsu đã mặc khải, Thiên Chúa là một vị Cha thương yêu con cái. Bởi thế, thánh Phaolô đã nói với các bạn đồng hành của ngài trong chuyến đi và, được soi sáng bởi đức tin của ngài, ngài đã loan báo cho họ về Thiên Chúa sẽ không để một sợi tóc trên đầu họ phải bị mất đi.

Lời tiên tri này đã được thực hiện khi con thuyền mắc cạn trên bờ biển của đảo Malta và toàn bộ hành khách đều được bình an lên đến đất liền. Và ở đó, họ đã có một trải nghiệm mới. Ngược lại với bạo lực dữ tợn của biển cả trong cơn bão tố, họ đã nhận được sự làm chứng của « tình nhân đạo hiếm thấy » của cư dân trên đảo. Những người này, vốn là người xa lạ đối với họ, đã tỏ ra chú tâm tới những nhu cầu của họ. Những người đó đã đốt lên một đống lửa để sưởi ấm họ, cống hiến cho họ một nơi trú mưa và cho họ thức ăn nước uống. Dù là những người đó chưa nhận được Tin Mừng của Đức Kitô, họ đã thể hiện tình yêu của Thiên Chúa bằng những hành động tử tế cụ thể. Quả vậy, lòng hiếu khách tự nhiên và những cử chỉ ân cần truyền tới một cái gì đó từ tình yêu của Thiên Chúa. Và lòng hiếu khách của cư dân trên đảo Malta đã được thưởng công bởi những phép lạ chữa lành mà Thiên Chúa đã tiến hành trên đảo, thông qua thánh Phaolô. Như thế, nếu dân chúng Malta đã là một dấu chỉ sự Quan Phòng của Thiên Chúa cho thánh tông đồ, thì ngài cũng là chứng nhân của tình yêu thương xót của Thiên Chúa đối với họ.

Các bạn rất thân mến, tính hiếu khách là quan trọng ; và cũng là một nhân đức đại kết quan trọng. Điều này có nghĩa là, trước hết, cần công nhận các Kitô hữu khác thực sự là những anh chị em của chúng ta trong Đức Kitô. Chúng ta là anh em. Người ta có thể nói : « Nhưng người đó là Tin Lành, người kia là Chính Thống Giáo… ». Phải, nhưng chúng ta đều là anh em trong Đức Kitô. Không phải là một hành động đại lượng một chiều, bởi vì khi chúng ta tiếp đón những người Kitô hữu khác, chúng ta đón tiếp những gì Chúa Thánh Linh gieo trồng nơi các anh chị em của chúng ta, và điều này cũng trở thành một món quà cho chúng ta nữa, bởi vì Chúa Thánh Linh gieo rắc ân sủng khắp nơi. Đón tiếp các Kitô hữu của một truyền thống khác, trước tiên, có nghĩa thể hiện tình yêu của Thiên Chúa đối với họ, bởi vì họ đều là con cái của Thiên Chúa – là anh em của chúng ta -, và ngoài ra, điều này còn có nghĩa đón tiếp những gì Thiên Chúa đã làm trong cuộc đời của họ. Lòng hiếu khách đại kết đòi hỏi sự sẵn lòng để lắng nghe những người khác, chú ý đến những câu chuyện riêng tư về đức tin của họ và đến lịch sử của cộng đoàn của họ, cộng đoàn đức tin với một truyền thống khác, khác lạ với của chúng ta. Lòng hiếu khách đại kết đòi hỏi ý muốn biết trải nghiệm của các Kitô hữu khác với Thiên Chúa và sự chờ đợi những ân sủng thiêng liêng từ đó mà ra. Và đó là một ân sủng, khám phá điều này là một ân sủng. Tôi nghĩ tới thời gian đã qua, trên quê hương của tôi chẳng hạn. Khi nhiều vị thừa sai của Tin Lành thuộc phái Tin Mừng đến nơi, một nhóm nhỏ người công giáo đã đi đốt lều bạt của họ. Điều đó, không ! Điều đó không phải là Kitô giáo. Chúng ta là anh em, tất cả chúng ta là anh em và chúng ta phải cống hiến cho nhau lòng hiếu khách.

Ngày hôm nay, biển cả, nơi thánh Phaolô và các bạn đồng hành của ngài đã bị đắm thuyền, thêm một lần nữa, là một nơi nguy hiểm cho tính mạng của những người đi biển khác. Trên toàn thế giới, những con người di dân nam nữ đối đầu với những chuyến đi có nhiều rủi ro để trốn chạy bạo lực, để trốn chạy chiến tranh, để trốn chạy nghèo đói. Cũng như thánh Phaolô và các bạn đồng hành của ngài, họ đã trải nghiệm sự lãnh đạm, sự hiểm ác của sa mạc, của sông sâu, của biển cả… Rất nhiều khi, người ta đã không cho họ cập bến tại các hải cảng. Nhưng khốn nỗi, đôi khi họ lại còn gặp phải sự thù nghịch tệ hại hơn nữa của con người. Họ bị khai thác bởi những kẻ tội phạm buôn người : ngày hôm nay ! Họ bị đối xử như những con số và như một mối đe dọa bởi nhiều chính phủ : ngày hôm nay ! Đôi khi, sự bất hiếu khách xô đẩy họ, như một con sóng, vào cảnh nghèo đói hay những nguy hiểm mà họ đã phải trốn chạy.

Với tư cách là Kitô hữu, chúng ta phải cùng nhau làm việc để thể hiện đối với các di dân tình yêu của Thiên Chúa được mặc khải bởi Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta có thể và chúng ta phải làm chứng rằng không chỉ có sự thù nghịch và sự lãnh đạm, mà mỗi con người đều quý giá đối với Thiên Chúa và được Người thương yêu. Những chia rẽ, còn tồn tại giữa chúng ta, ngăn cản chúng ta không thể trở thành dấu chỉ đầy đủ tình yêu của Thiên Chúa. Cùng nhau làm việc để sống sự hiếu khách đại kết, đặc biệt là đối với những người mà cuộc sống dễ bị tổn thương nhất, sẽ làm cho tất cả chúng ta – Tin Lành, Chính Thống Giáo, Công Giáo, tất cả các Kitô hữu – trở thành những con người tốt nhất, những môn đệ tốt nhất và một dân tộc Kitô giáo hợp nhất. Điều này sẽ kéo chúng ta lại gần với sự thống nhất, vốn là thánh ý của Thiên Chúa đối với chúng ta.

© Traduction de Zenit, Hélène Ginabat

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

https://fr.zenit.org/articles/catechese-quand-nous-hebergeons-nous-sommes-recompenses/

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài Giáo Lý – Khi chúng ta đón tiếp thì chúng ta đã được thưởng công rồi

Tết Âm Lịch – Đức Giáo Hoàng chúc tết các gia đình

Hòa bình, đối thoại và liên đới giữa các quốc gia

JANVIER 22, 2020 11:42 ANNE KURIANAUDIENCE GÉNÉRALEPAPE FRANÇOIS

Triều kiến chung ngày 22/01/2020

Nhân dịp Năm Mới Âm Lịch nhằm ngày 25/01/2020, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã có lời chúc Tết đặc biệt cho các gia đình.

« Tại Viễn Đông và trong nhiều nơi trên thế giới, hàng triệu người nam nữ sẽ đón mừng Năm Mới âm lịch », ngài đã nhắc nhở trong buổi triều kiến chung do ngài chủ sự ba ngày trước Tết trong Đại Hội Trường Phaolô VI của Vatican.

Đức Giáo Hoàng đã gửi « lời chào thân mật », và cầu chúc « đặc biệt cho các gia đình được là nơi giáo dục các nhân đức tiếp đón, khôn ngoan, tôn trọng đối với tất cả mọi người và hòa đồng với thiên nhiên »

« Tôi mời gọi mọi người hãy cầu nguyện cho hòa bình, cho đối thoại và cho sự liên đới giữa các quốc gia, ngài nói thêm : đó những quà Tết cần thiết hơn bao giờ hết cho thế giới ngày hôm nay ».

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit. 

https://fr.zenit.org/articles/nouvel-an-lunaire-les-voeux-du-pape-aux-familles/

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Tết Âm Lịch – Đức Giáo Hoàng chúc tết các gia đình

« Thiên Chúa ở phía chúng ta » – Kinh Truyền Tin của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

« Không phải là nô lệ, mà là con cái Thiên Chúa » (Bản dịch đầy đủ)

JANVIER 19, 2020 16:19 ANITA BOURDINANGÉLUS ET REGINA CAELIPAPE FRANÇOIS

Kinh Truyền Tin ngày 19/01/2020

« Chúng ta hãy để mình được ngạc nhiên thêm một lần nữa bởi sự chọn lựa của Thiên Chúa đứng về phía chúng ta » : đó là lời mời gọi của Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong bài huấn đức về Đức Kitô chịu Phép Rửa, bằng cách bình giảng bài Phúc Âm ngày hôm nay, vào giờ Kinh Truyền Tin buổi trưa ngày chúa nhật 19/01/2020, trên Quảng Trường Thánh Phêrô.

Đức Giáo Hoàng đã nhấn mạnh giống như Đức Kitô dẫn dắt tới sự tự do : « Người là Con của Thiên Chúa làm Con Chiên, bị hy tế bởi tình yêu. Chính Người, chỉ một mình Người đã gánh vác, chỉ một mình Người đã đau đớn, Người đã chuộc tội, tội lỗi của mỗi người trong chúng ta, tội lỗi của thế gian, và cả tội lỗi của tôi nữa. Tất cả, Người đã gánh vác lấy tất cả trên mình Người và Người đã cất chúng ra khỏi chúng ta, để cuối cùng, chúng ta được tự do, không còn là nô lệ sự ác. Phải, (chúng ta) còn là kẻ tội lỗi khốn nạn, nhưng không là nô lệ sự ác, không, không phải là nô lệ ; mà là con cái, con cái của Thiên Chúa ! ».

Trong một tweet được đưa lên sau Kinh Truyền Tin trên trương mục của ngài @Pontifex_fr, Đức Giáo Hoàng nhắc lại đoạn này của bài huấn đức trong đó ngài mời gọi hãy nhìn ngắm dung nhan Chúa Kitô : « Cũng có thể ngắm nhìn một tượng ảnh của Chúa Kitô, Con của Thiên Chúa, đã làm con chiên, để giải thoát chúng ta cho khỏi điều ác. Phải, chúng ta còn là những kẻ tội lỗi nhưng không phải là những nô lệ, không, mà là con cái của Thiên Chúa ».

Sau đây là bản dịch nhanh lời phát biểu của Đức Giáo Hoàng Phanxicô.

AB

Bài giảng huấn của Đức Giáo Hoàng Phanxicô trước Kinh Truyền Tin

Thân chào Quý Anh Chị Em !

Chúa nhật thứ nhì Mùa Thường Niên là sự nối tiếp với lễ Hiển Linh và với lễ mừng  Chúa Giêsu chịu Phép Rửa. Đoạn Phúc Âm (x. Ga 1, 29-34) còn nói với chúng ta về sự hiển linh của Chúa Giêsu. Quả vậy, sau khi được chịu phép rửa trên sông Giođan, ngài đã được thánh hiến bởi Chúa Thánh Thần, Đấng đã ngự xuống trên Người và Người đã được tuyên bố là Con của Thiên Chúa bởi tiếng nói của Cha trên trời « x. Mt 3, 16-17). Thánh sử gia Gioan, trái ngược với ba vị khác, không thuật lại biến cố, mà ngài đề nghị với chúng ta sự làm chứng của ông Gioan Tẩy Giả. Ngài đã là chứng nhân đầu tiên của Đức Kitô. Thiên Chúa đã kêu gọi ngài và đã chuẩn bị ngài cho công việc đó.

Đấng Tẩy Giả không thể kìm hãm được ước muốn khẩn cấp là làm chứng cho Chúa Giêsu và ngài tiuyên bố : « Tôi đã thấy, nên xin chứng thực » (c.34). Ông Gioan đã thấy điều gì rắc rối, nghĩa là Con yêu dấu của Thiên Chúa lại liên đới với những kẻ tội lỗi ; và Thần Khí làm cho ngài thấu hiểu điều mới lạ chưa từng nghe thấy đó, một sự đảo lộn đích thực. Quả vậy, trong lúc mà trong mọi tôn giáo, chính con người phải tiến dâng và hy tế cái gì cho Thiên Chúa, trong biến cố Giêsu, chính Thiên Chúa lại dâng tiến Con mình cho sự cứu độ nhân loại. Ông Gioan thể hiện sự ngạc nhiên và sự đồng ý của mình cho sự mới mẻ đó được mang tới bởi Chúa Giêsu, thông qua một câu nói gây xúc động mà chúng ta nhắc lại trong mỗi Thánh Lễ : « Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian ! » (c.29).

Sự làm chứng của thánh Gioan Tẩy Giả mời gọi chúng ta luôn tái xuất hành trên con đường đức tin của chúng ta : tái xuất hành từ Chúa Giêsu Kitô, Con Chiên của lòng thương xót mà Chúa Cha đã ban cho chúng ta. Để cho chúng ta được ngạc nhiên trở lại bởi sự lựa chọn của Thiên Chúa đứng về phía chúng ta, liên đới với chúng ta là những kẻ tội lỗi, và để cứu độ thế gian khỏi sự ác bằng cách gánh lấy toàn bộ gánh nặng.

Chúng ta hãy học theo thánh Gioan Tẩy Giả đừng coi như là đã biết về Chúa Giêsu rồi, mà chúng ta biết tất cả về Người (x. c.31). Không phải như thế. Chúng ta đã dừng lại trên Phúc Âm, có thể ngay cả lúc nhìn ngắm một tượng ảnh Chúa Kitô, một « Thánh Nhan » ; Chúng ta hãy nhìn ngắm với đôi mắt và còn với tâm hồn, và chúng ta hãy để mình được dạy dỗ bởi Thần Khí, Đấng phán bảo chúng ta từ trong lòng ; Người đấy ! Người là Con của Thiên Chúa làm Con Chiên, bị hy tế bởi tình yêu. Người, Chính Người, chỉ một mình Người đã gánh vác, chỉ một mình Người đã đau đớn, Người đã chuộc tội, tội lỗi của mỗi người trong chúng ta, tội lỗi của thế gian, và cả tội lỗi của tôi nữa. Tất cả, Người đã gánh vác lấy tất cả trên mình Người và Người đã cất chúng ra khỏi chúng ta, để cuối cùng, chúng ta được tự do, không còn là nô lệ sự ác. Phải, (chúng ta) còn là những kẻ tội lỗi khốn nạn, nhưng không là nô lệ sự ác, không, không phải là nô lệ ; mà là con cái, con cái của Thiên Chúa !

Cầu xin Đức Trinh Nữ Maria chuyển cầu cho chúng ta sức mạnh để làm chứng cho Con Giêsu của Mẹ ; để loan báo Người với niềm vui, với một cuộc sống được giải thoát khỏi sự ác và một lời đầy đức tin kinh ngạc thán phục và biết ơn.

Copyright 2020 – Zenit pour la traduction, Anita Bourdin

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

https://fr.zenit.org/articles/le-choix-de-dieu-detre-de-notre-cote-angelus-du-pape-francois-traduction-complete/

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở « Thiên Chúa ở phía chúng ta » – Kinh Truyền Tin của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Một phái đoàn đại kết của Giáo Hội Tin Lành Luther của Phần Lan tại Rôma

Sự hiếu khách và biết ơn ; « những đức tính đại kết »

JANVIER 17, 2020 16:04 HÉLÈNE GINABATOECUMÉNISME, UNITÉ DES CHRÉTIENSPAPE FRANÇOISROME

Phái đoàn Đại Kết của Gíáo Hội Tin Lành Luther của Phần Lan tại Rôma

Vào ngày hôm trước Tuần lễ cầu nguyện cho sự hợp nhất các Kitô hữu, Đức Giáo Hoàng Phanxicô khẳng định rằng sự hiếu khách là một « nhân đức đại kết » là « thành phần của đức tin chung trong đời sống hàng ngày ». « Với tư cách là những Kitô hữu đã chịu Phép Rửa », ngài giải thích, « chúng ta tin rằng, Đức Kitô muốn gặp gỡ chúng ta chính là trong những con người đó, vốn trong cuộc sống, đã bị đắm thuyèn, với nghĩa đen cũng như nghĩa bóng. Người cống hiến sự hiếu khách không trở nên nghèo hơn, mà còn giầu hơn nữa ».

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tiếp kiến một phái đoàn đại kết của Gíáo Hội Tin Lành Luther của Phần Lan, hôm thứ sáu 17/01/2020, nhân dịp chuyến hành hương đại kết hàng năm tới Rôma, để cử hành ngày lễ kính thánh Henri, bổn mạng của đất nước này.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô cũng nhấn mạnh tới một nhân đức khác chung cho tất cả các Kitô hữu, đó là « lòng biết ơn » : « người Kitô hữu là những người biết tạ ơn vì phép Rửa của họ. Lòng biết ơn này nối liền và nới rộng tâm hồn chúng ta, mở ra với người thân cận, vốn không phải là một địch thủ, mà là người anh chị em đáng mến của chúng ta. Ngài mời gọi cộng đồng những người đã chịu Phép Rửa đừng bằng lòng với hiện tượng « người này ở cạnh người kia », nhưng mà « phải ở chung với nhau ». « Mong rằng ‘‘ sự ở chung với nhau’’ này tiếp tục được lớn lên, phát triển và mang hoa trái tại Phần Lan », ngài cầu chúc.

Sau đây là bản dịch bài diễn văn mà Đức Giáo Hoàng đã đọc trước họ.

HG

Bài diễn văn của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Thưa Quý Anh Chị Em thân mến,

Tôi thân mến chào đón Quý Anh Chị Em với những lời lẽ của thánh Phaolô : « Gửi tất cả anh em, những người được Thiên Chúa yêu thương, được kêu gọi làm dân thánh, ân sủng và bình an từ Thiên Chúa là Cha và Chúa Giêsu Kitô» (x. Rm 1,7). Tôi cảm ơn Đức Cha Teemu vì những lời của ngài, một lời mời gọi tốt đẹp cho sự hiểu thấu lẫn nhau ở giữa những không thấu hiểu của ngày hôm nay. Cuộc hành hương đại kết của Quý Anh Chị Em nhân dịp lễ kính thánh Henri đã dẫn đưa Quý Anh Chị Em trong năm nay nữa đến Rôma. Cùng nhau, Quý Anh Chị Em đã đi trên đường – và tất cả chúng ta cũng thế – trong một sự hiệp thông đức tin, để khích lệ và thêm sức cho chúng ta với nhau, để đi theo Chúa Kitô.

Chúa nhật tuần trước, chúng ta đã mừng Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa, nhằc nhở cho chúng ta ngày Rửa Tội của riêng chúng ta. Người Kitô hữu là một con người phải cảm tạ vì mình được Rửa Tội ; và sự biết ơn đó hợp nhất chúng ta trong cộng đoàn của tất cả những người đã chịu Phép Rửa. « Phép Thánh Tẩy để tha thứ tội lỗi », mà chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính, cũng là một lời kêu gọi rõ ràng nên thánh.

Bản Phúc Trình của nhóm đối thoại Công Giáo – Tin Lành Luther cho các nước Thụy Điển và Phần Lan, mang tên là Sự chứng minh trong đời sống của Hội Thánh, cũng khẳng định rằng : « Những ai đã được chịu Phép Rửa, cùng với các anh chị em của mình, có thể triển khai những cơ hội nên thánh của họ, xuất phát từ sự minh chứng chung trong Đức Kitô. Với tư cách là những phần tử của cùng một Nhiệm Thể duy nhất của Đức Kitô, các Kitô hữu được hợp nhất với nhau và đều phải gánh vác nặng nhọc cho nhau. Bởi vì Đức Kitô đã đến cứu chuộc cho toàn thế giới, Hội Thánh và các Kitô hữu với tư cách cá nhân, dù là giáo dân hay giáo sĩ, cũng có sứ vụ làm chứng cho Tin Mừng trong đời sống hàng ngày của mình » (s.203).

Sự hiếu khách cũng là thành phần của việc làm chứng cho đức tin chung trong đời sống hàng ngày. Tuần Lễ cầu nguyện cho sự thống nhất các Kitô hữu, bắt đầu vào ngày mai, chỉ cho chúng ta nhân đức đại kết này, và nhất là căn dặn chúng ta. « Họ đối xử với chúng tôi một cách nhân đạo hiếm có » (Cv 28,2), người ta có thể đọc được trong sách Tông Đồ Công Vụ, nói về những thổ dân trên đảo Malta, đã đón tiếp thánh Phaolô tông đồ cũng như khoảng 100 người bị đắm tầu với lòng hiếu khách.

Với tư cách là những Kitô hữu đã chịu Phép Rửa, chúng ta tin rằng Đức Kitô muốn gặp gỡ chúng ta đúng là trong những con người đó, họ vốn trong cuộc sống, đã bị đắm tầu, theo nghĩa đen cũng như nghĩa bóng. Ai cống hiến lòng hiếu khách thì sẽ không trở nên nghèo hơn, nhưng lại giầu có hơn nữa. Ai cho đi thì cũng được nhận lại. Quả vậy, lòng nhân đạo mà chúng ta thể hiện cho người khác khiến cho chúng ta trở thằnh một cách huyền bí, những người tham gia vào lòng nhân từ của Thiên Chúa làm người.

Các bạn Phần Lan thân mến, với tư cách là những sứ giả của lòng nhân đạo, với tư cách của những người nhận được lòng nhân hậu của Thiên Chúa nhập thể, chúng ta cùng nhau bước đi trên đường, trong cộng đoàn của tất cả những người đã chịu Phép Rửa. Các Kitô hữu là những người phải tạ ơn vì Phép Rửa của mình. Lòng biết ơn này nối liền và nới rộng tâm hồn chúng ta, mở ra cho người lân cận, vốn không phải là một đối thủ, mà là người anh chị em đáng mến của chúng ta, Cộng đoàn của tất cả những người đã chịu Phép Rửa không chỉ là sự kiện « người này ở cạnh người kia » và chắc chắn càng không phải là « người này chống lại người kia », mà nó có chiều hướng trở thành, bằng một cách luôn sâu sắc hơn một tình trạng « ở chung với nhau ».

Đại Kết thiêng liêng và đối thoại đại kết là để đào sâu cái tình trạng « ở chung với nhau » này. Mong rằng tình trạng « ở chung » này tiếp tục lớn mạnh lên, phát triển ra và mang hoa trái tại Phần Lan. Để chuyện này có thể xẩy ra, tôi cầu nguyện Thiên Chúa ban cho Quý Anh Chị Em dư đầy ân sủng và phép lành của Người. Xin Quý Anh Chị Em vui lòng, cả Quý Anh Chị Em nữa, hãy cầu nguyện cho tôi với. Cảm ơn !

© Traduction de Zenit, Hélène Ginabat

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

https://fr.zenit.org/articles/une-delegation-oecumenique-de-leglise-lutherienne-de-finlande-a-rome/

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Một phái đoàn đại kết của Giáo Hội Tin Lành Luther của Phần Lan tại Rôma

Bài Giáo Lý về sách Tông Đồ Công Vụ – « Lời của Thiên Chúa không thể kìm hãm được

« Thấm nhuần nhà chúng ta bằng Phúc Âm » (Bản dịch toàn văn)

JANVIER 15, 2020 18:44 HÉLÈNE GINABATAUDIENCE GÉNÉRALEPAPE FRANÇOIS

Triều kiến ngày 15 tháng 01 năm 2020

Cuối sách Tông Đồ Công Vụ « chứa đựng và tóm lược tất cả động lực của Lời Thiên Chúa, Lời không thể kìm hãm được muốn chạy đi truyền đạt ơn cứu độ đến cho mọi người », Đức Giáo Hoàng Phanxicô giải thích. Chuyện kể không kết thúc với « cái chết của thánh Phaolô » mà với « động lực thuyết giảng của ngài, của một Lời ‘‘không hề bị xiềng xích’’. Đức Giáo Hoàng đã nhấn mạnh rằng, nếu « thánh Phaolô đã không có tự do hành động », thì trái lại, « ngài lại có tự do để nói bởi vì Lời đã không bị xiềng xích »

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã ban Bài Giáo Lý cuối cùng về sách Tông Đồ Công Vụ, nhân buổi triều kiến chung ngày thứ tư 15/01/2020, trong đại sảnh đường Phaolô VI của Vatican, trước một đám đông lớn các du khách và khách hành hương đến từ nước Ý và trên toàn thế giới. Ngài đã bình giảng đoạn cuối của chương 28 nơi đó thánh Luca gợi lên hai năm trong đó thánh Phaolô tông đồ, bị quản chế tại gia ở Rôma, đã tự do loan báo Lời của Thiên Chúa cho tất cả những người đến với ngài.

« Ngôi nhà đó rộng mở cho tất cả những tấm lòng đang tìm kiếm », Đức Giáo Hoàng đã nói thêm, « là hình ảnh của Hội Thánh vốn, mặc dù bị bách hại, bị người ta không hiểu và bị xiềng xích, không hề nản lòng tiếp đón với trái tim mẹ hiền tất cả những con người nam, nữ để loan báo cho họ tình yêu của Chúa Cha đã hiển thị nơi Chúa Giêsu ». Và cầu khẩn Thánh Thần để Người « làm cho chúng ta cũng được can đảm, như thánh Phaolô, thấm nhuần những nhà cửa chúng ta bằng Phúc Âm và làm cho chúng trở thành nhà hội của tình huynh đệ, nơi đón tiếp Chúa Kitô hằng sống, ‘‘đến với chúng ta trong mọi người và mọi thời đại’’ »

Sau đây là bản dịch Bài Giáo Lý bằng tiếng Ý của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

HG

Bài Giáo Lý của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Quý Anh Chị Em thân mến,

Ngày hôm nay, chúng ta kết thúc Bài Giáo Lý về sách Tông Đồ Công Vụ, với chặng truyền giáo cuối cùng của thánh Phaolô, nên biết là tại Rôma (x. Cv 28,14).

Chuyến đi của thánh Phaolô, vốn cũng là một và giống với chuyến đi của Tin Mừng, chứng minh rằng những con đường của con người, nếu chúng được trải nghiệm với đức tin, có thể trở thành một nơi qua lại của ơn cứu chuộc của Thiên Chúa, thông qua Lời của đức tin, vốn là chất men công hiệu trong lịch sử, có khả năng biến đổi những tình trạng và mở ra những con đường luôn mới mẻ.

Với sự đi tới của thánh Phaolô vào trái tim của Đế Quốc đã chấm dứt sách Tông Đồ Công Vụ, vốn không chấm dứt với cuộc tử đạo của thánh Phaolô, mà bằng sự gieo rắc dư đầy Lời Chúa. Kết cuộc sách kể của thánh Luca, xoáy vào chuyến đi của Tin Mừng trên thế gian, chứa đựng và tóm lược tất cả động lực của Lời Thiên Chúa, Lời không thể kìm hãm muốn chạy đi để truyền đạt ơn cứu độ đến cho mọi người.

Tại Rôma, trước hết thánh Phaolô gặp gỡ các anh em của ngài trong Chúa Kitô, họ đón tiếp ngài và mang đến cho ngài lòng can đảm (x. Cv 28,15) và lòng hiếu khách nồng hậu của họ khiến có thể hình dung được họ chờ đợi và mong muốn ngài đến biết là bao. Rồi ngài đã được chấp thuận được ở một mình dưới sự canh chừng của quân đội, nghĩa là với một quân nhân làm người canh gác ngài ; ngài đã bị quản chế tại gia. Mặc dù điều kiện tù tội, thánh Phaolô vẫn có thể gặp gỡ các thân hào Do Thái để giải thích tại sao ngài đã bị bắt buộc kháng cáo lên hoàng đế Cesar và để nói với họ về Nước Thiên Chúa. Ông tìm cách thuyết phục họ về Chúa Giêsu, bằng cách xuất phát từ Sách Thánh và chỉ ra sự xuyên suốt giữa điều mới lạ của Đức Kitô và « niềm hy vọng của dân Israel » (Cv 28,20). Thánh Phaolô tự nhận mình là người do thái một cách sâu đậm và nhìn thấy trong Tin Mừng mà ngài giảng dạy, nghĩa là trong sự loan báo Đức Kitô chịu chết và đã sống lại, sự hoàn tất những lời hứa với dân được chọn.

Cuộc gặp gỡ không chính thức thứ nhất này, cho thấy rằng những người Do Thái rất sẵn lòng, đã được tiếp theo bằng một cuộc gặp khác chính thức hơn trong đó, suốt cả một ngày, thánh Phaolô loan báo nước Thiên Chúa và tìm cách mở lòng các người đối thoại với ngài ra với đức tin nơi Chúa Giêsu, bằng cách xuất phát « từ lề luật của ông Mosê và các ngôn sứ » (Cv 28,23). Vì tất cả họ không được thuyết phục, ngài tố cáo sự chai đá trong lòng của dân Thiên Chúa, nguyên nhân sự xử phạt của họ (x. Is 6, 9-10) và cử hành với lòng đam mê ơn cứu độ của các dân ngoại, họ đã tỏ ra nhậy cảm với Thiên Chúa và có khả năng lắng nghe Lời của Phúc Âm sự sống (x. Ac 28,28)

Vào lúc này của câu chuyện, thánh Luca kết luận tác phẩm của ngài bằng cách cho chúng ta thấy không phải cái chết của thánh Phaolô, mà thấy động lực thuyết giảng của ngài, của một Lời « không bị xiềng xích » (2 Tm 2,0) – Thánh Phaolô không được tự do di chuyển, nhưng ngài được tự do ăn nói bởi vì Lời không bị xiềng xích –  đây là một Lời sẵn sàng để được gieo đẫy tay bởi thánh tông đồ. Thánh Phaolô đã làm « với một cách rất mạnh dạn, không gặp ngăn trở nào » (Cv 28,31), trong một ngôi nhà nơi ngài đón tiếp những ai muốn nhận được sự loan báo nước Thiên Chúa và công nhận Đức Kitô. Ngôi nhà đó mở ra cho tất cả những tâm hồn đang tìm kiếm là hình ảnh của Hội Thánh, dù là bị bách hại, không được thấu hiểu và bị xiềng xích, vẫn không hề nản lòng đón nhận với một tấm lòng mẹ hiền tất cả mọi người nam và nữ để loan báo cho họ tình yêu của Chúa Cha, Đấng đã hiển thị nơi Chúa Giêsu.

Quý Anh Chị Em thân mến, vào cuối cuộc hành trình này, được cùng nhau trải nghiệm bằng cách đi theo bước đi của Phúc Âm trên thế giới, mà Thánh Thần đã làm sống lại nơi mỗi người chúng ta ơn gọi trở thành những người đi rao truyền Phúc Âm can đảm và vui mừng. Cầu xin Người làm cho chúng ta cũng có khả năng, như thánh Phaolô, thấm nhuần ngôi nhà của chúng ta với Phúc Âm và biến nó thành nhà hội đường của tình huynh đệ, nơi đón nhận Đức Kitô hằng sống, Người « đến với chúng ta nơi mọi người nơi mọi thời đại » (x. II Tiền Tụng Mùa Vọng).

© Traduction de Zenit, Hélène Ginabat

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

https://fr.zenit.org/articles/catechese-sur-les-actes-des-apotres-la-parole-de-dieu-est-irrepressible/

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài Giáo Lý về sách Tông Đồ Công Vụ – « Lời của Thiên Chúa không thể kìm hãm được

Đức Cựu Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã không « đồng ký tên » cuốn sách về độc thân linh mục

Cải chính của thư ký riêng của ngài là Đức Cha Gänswein

JANVIER 14, 2020 14:52 ANNE KURIANBENOÎT XVIROME

Viếng thăm ngài Biển Đức XVI, Giáng Sinh 2018

Ngài Biển Đức XVI không phải là đồng tác giả của cuốn sách Từ thâm sâu trong lòng chúng tôi mang chữ ký của Đức Hồng Y Robert Sarah bênh vực cho đời sống độc thân của linh mục. Ngài « đã khước từ là cha đẻ của cuốn sách này » mà nội dung đã làm tốn nhiều giấy mực, vị thư ký riêng của ngài là Đức Cha Georg Gänswein đã tuyên bố vào hôm trước ngày cuốn sách được xuất bản (15/01/2020 phiên bản tiếng Pháp).

Đức cựu Giáo Hoàng, Đức Cha Gänswein xác định với hãng thông tấn của nước Áo là Kathpress, đã yêu cầu nhà xuất bản Fayard bỏ tên và tấm hình của ngài ra khỏi bìa của cuốn sách, và chữ ký của ngài cũng phải được lấy ra khỏi bài tựa và bài kết luận, vì ngài « không hề hợp tác » vào hai bài đó. Trái lại, bản văn chứa đựng trong cuốn sách là của ngài. Ngài đã viết vào mùa hè năm 2019 – trước khi Thượng Hội Đồng Các Giám Mục nêu lên vấn đề truyền chức linh mục cho những người đã có vợ – và đã để văn bản đó cho sự sử dụng của Đức Hồng Y Sarah.

Như thế vị cựu Giáo Hoàng « đã biết rằng bài viết sẽ được xuất hiện trong một cuốn sách », mà không biết chương trình của tòa soạn và không ký kết bất cứ quyền hạn nào với nxb Fayard. Theo Đức Cha Gänswein, đây là một « sự hiểu lầm », « không đặt vấn đề thiện chí của ĐHY Sarah ».

Vị tổng trưởng của Thánh Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích đã công bố một Tweet xác định lời yêu cầu này của ngài Biển Đức XVI : « Xét vì những chỉ trích xẩy ra bởi sự xuất bản cuốn sách Từ thâm sâu trong lòng chúng tôi, đã được quyết định rằng tác giả của cuốn sách trong các kỳ xuất bản tới sẽ là : ĐHY Sarah, với sự đóng góp của ngài Biển Đức XVI. Ngược lại, bản văn đầy đủ vẫn tuyệt đối không thay đổi ».

ĐHY Sarah cũng đã công bố ba bức thư của cựu giáo hoàng, mang lại những chi tiết về sự đóng góp của ngài. Trong thư đầu, đề ngày 20/9/2019, ngài Biển Đức XVI tiết lộ rằng « ngài đã bắt đầu viết vài suy nghĩ về thiên chức linh mục » nhưng cảm thấy sức khỏe yếu kém, ngài đã ngưng công việc này của ngài.

Ngài loan báo rằng ngài tiếp tục cầm bút lại sau yêu cầu « bất ngờ » của vị tổng trưởng liên quan « đến một bài viết về chức linh mục, với một sự chú tâm đặc biệt về đi sống độc thân ». « Tôi để ngài tùy nghi, coi xem nếu những ghi chép này mà tôi cảm thấy còn rất thiếu, ngài viết thêm, có thể dùng được không »

Sau đó, Đức cựu Giáo Hoàng đã gửi bài viết của ngài ngày 12/10/2019. Rồi ngày 25/11, ngài viết thêm và cảm ơn Đức Hồng Y : « Tôi cảm động sâu đậm vì cách mà ngài đã hiểu những ý định cuối cùng của tôi. Tôi đã viết 7 trang soi sáng về phương pháp học trên bài viết của tôi và tôi sung sướng để nói rằng ngài đã biết nói cốt lõi trong có nửa trang ».

Ngài Biển Đức XVI như thế đã cho phép phổ biến bài viết của ngài, có thể không biết rằng tên ngài đã được chỉ định là đồng tác giả của cuốn sách.

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

https://fr.zenit.org/articles/celibat-sacerdotal-benoit-xvi-na-pas-co-signe-le-livre-du-card-sarah/

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Đức Cựu Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã không « đồng ký tên » cuốn sách về độc thân linh mục

Luật độc thân của các linh mục : Đức Hồng Y Sarah tán thành sự phân tích của ông Andrea Tornielli

ĐGH Biển Đức XVI đã cộng tác với cuốn sách

JANVIER 14, 2020 13:08 ANNE KURIANBENOÎT XVIROME

« Từ thâm sâu trong lòng chúng tôi »

« Cuốn sách Từ thâm sâu trong lòng chúng tôi không tuyệt đối chống Đức Giáo Hoàng. Văn bản được đăng tải hồi sáng nay bởi @Tornielli là chính đáng » Đó là lời tuyên bố của Đức Hồng Y Bernard Sarah trong một bản tweet vào cuối ngày 13/01/2020.

Tổng trưởng Thánh Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích, đã phản ứng như vậy trước những chỉ trích được tung ra sau khi loan báo việc xuất bản cuốn sách có sự cộng tác của ĐGH Biển Đức XVI, bênh vực luật độc thân linh mục (xuất bản ngày 15/01/2020). Theo báo chí Ý, Đức cựu Giáo Hoàng đã yêu cầu ngay ngày hôm sau là phải rút tên ngài ra với tư cách là đồng tác giả của cuốn sách.

Bác bỏ những lời cáo buộc về ngài, Đức Hồng Y Sarah xác nhận sự phân tích của vị giám đốc xuất bản của Bộ Truyền Thông của Tòa Thánh, Andrea Tornielli : « Chúng tôi đã thực sự làm việc trong một tinh thần con cái. Thật là không lành mạnh khi luôn muốn đặt những người của Gíáo Hội vào thế chống đối nhau ».

Trong bài xã luận của mình, ông Andrea Tornielli đã nhắc đến « một sự đóng góp về luật độc thân linh mục, trong tinh thần vâng lời của con cái đối với Đức Giáo Hoàng ». Nhắc nhở rằng « luật độc thân linh mục không phải và chưa bao giờ là một tín lý », ông đã viện dẫn lập trường của Đức Giáo Hoàng Phanxicô về vấn đề này, được biểu lộ đặc biệt vào tháng 01 năm ngoái trên chuyến bay trở về từ Panama : « Cá nhân tôi, tôi nghĩ rằng luật độc thân là một ân điển cho Hội Thánh… Tôi không đồng ý để cho phép một tình trạng độc thân do lựa chọn, không…   Đây là suy nghĩ của tôi, cá nhân, tôi sẽ không làm điều đó, điều này rõ ràng. Tôi là một người khép kín chăng ? Có thể. Nhưng tôi không muốn trình diện trước Thiên Chúa với cái quyết định này ».

Đức Hồng Y Sarah cũng đã gửi đi nhiều tweet, trong đó có một cái để thông báo rằng Đức cựu Giáo Hoàng sẽ không là đồng tác giả : « Xét vì những chỉ trích đã gây ra bởi sự xuất bản cuốn sách Từ thâm sâu trong lòng chúng tôi, đã có quyết định rằng tác giả cuốn sách cho những lần xuất bản tới sẽ là : Hồng Y Sarah, với sự đóng góp của Biển Đức XVI. Ngược lại, văn bản đầy đủ vẫn tuyệt đối không thay đổi ».

Ngoài ra, ngài cũng đưa ra những chi tiết về sự đóng góp của Biển Đức XVI khi phổ biến hình ảnh của ba bức thư trao đổi với Đức cựu Giáo Hoàng. Trong thư thứ nhất, đề ngày 20/9/2019, vị này tâm sự rằng ngài đã « bắt đầu viết một vài suy nghĩ về chức linh mục » nhưng vì cảm thấy sức khỏe giảm sút, ngài đã ngưng công việc của ngài.

ĐGH Biển Đức XVI loan báo ngài sẽ cầm bút trở lại sau sự yêu cầu « bất ngờ » của Đức Hồng Y Sarah liên quan đến « một văn bản về chức linh mục, với một sự chú ý đặc biệt đến vấn đề độc thân ». « Tôi để ngài tùy ý coi xem nếu những ghi chép này mà tôi cảm thấy rất thiếu, ngài viết thêm, có thể dùng được không ».

Sau đó Đức cựu Giáo Hoàng đã gửi bài viết của ngài ngày 12/10/2019. Rồi ngày 25/11, ngài viết nữa và cảm ơn Đức Hồng Y : « Tôi cảm động sâu đậm vì cách mà ngài đã hiểu những ý định cuối cùng của tôi. Tôi đã viết 7 trang soi sáng về phương pháp học trên bài viết của tôi và tôi sung sướng để nói rằng ngài đã biết nói cốt lõi trong có nửa trang ». Đức Biển Đức XVI cho phép xuất bản bài viết của ngài, có lẽ ngài không biết là tên của ngài đã được nêu ra như là đồng tác giả cuốn sách.

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

https://fr.zenit.org/articles/celibat-des-pretres-le-card-sarah-approuve-lanalyse-dandrea-tornielli/

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Luật độc thân của các linh mục : Đức Hồng Y Sarah tán thành sự phân tích của ông Andrea Tornielli

« Một đóng góp về độc thân linh mục, trong tư cách vâng lời con cái với Đức Giáo Hoàng », bởi A. Tornielli

Về nội dung của một cuốn sách xuất bản hôm thứ tư 15/01/2020

JANVIER 13, 2020 15:29 HÉLÈNE GINABATBENOÎT XVIROMESACERDOCE

Ông Andrea Tornielli

Vị giám đốc biên tập của Bộ Truyền Thông Tòa Thánh, Andrea Tornielli, đã công bố hôm thứ hai 13/01/2020 một bài xã luận về một cuốn sách của vị cựu giáo hoàng Biển Đức XVI và của ĐHY Robert Sarah, tổng trưởng Thánh Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích. Cuốn sách được xuất bản bằng tiếng Pháp bởi nhà xuất bản Fayard và sẽ ra mắt ngày thứ tư 15/01/2020.

Sau đây là bản dịch chính tức bài xã luận được phổ biến trên trang tiếng Pháp của trang nhà Vatican News.

HG

« Từ thâm sâu trong lòng chúng tôi »

« Một đóng góp về độc thân linh mục, trong vâng phục con cái với Đức Giáo Hoàng »

Một cuốn sách về chức linh mục mang chữ ký của vị cựu giáo hoàng Joseph Ratzinger và hồng y Robert Sarah, tổng trưởng Bộ Phụng Tự Thánh, sẽ được xuất bản tại Pháp vào ngày 15/01/2020.

Người ta biết được qua những trích đoạn của tờ nhật báo Le Fifaro rằng các tác giả đi vào tranh luận về tính độc thân và khả năng truyền chức cho các linh mục có vợ. Vị cựu giáo hoàng và hồng y Sara – tự giới thiệu như hai vi giám mục trong « sự vâng phục con cái đối với Đức Giáo Hoàng Phanxicô » đang « tìm kiếm chân lý » trong một « tinh thần của tình yêu vì sự thống nhất của Hội Thánh » – bảo vệ kỷ luật độc thân và đưa ra những lý do, theo hai ngài, khuyên can đừng thay đổi. Vấn đề độc thân chiếm hết 175 trang của cuốn sách, với hai văn bản, một của vị cựu giáo hoàng và văn bản kia của vị hồng y, cũng như một bài dẫn nhập và một bài kết luận mang chữ ký của cả hai vị.

Hồng Y Sarah, trong bài viết của mình nhắc lại rằng có « một quan hệ mang tính bản thể và bí tich giữa thiên chức linh mục và sự độc thân. Mọi sự yếu đi của quan hệ này đặt lại vấn đề huấn quyền của Công Đồng và của các Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Gioan-Phaolô II và Biển Đức XVI. Tôi yêu cầu Đức Giáo Hoàng Phanxicô hãy bảo vệ chúng tôi một cách vĩnh viễn cho khỏi một sự bất trắc như thế bằng cách sử dụng quyền phủ quyết trước mọi sự làm suy yếu luật độc thân linh mục, dù là chỉ giới hạn cho vùng này hay vùng khác ». Một lần nữa, Tổng trưởng Bộ Phụng Tự Thánh đi đến mức tố cáo « một thảm họa mục vụ, một sự hỗn loạn về Gíáo Hội học và một sự lu mờ của hiểu biết về thiên chức linh mục » trong khả năng có thể truyền chức cho những nam nhân có vợ.

Ngài Biển Đức XVI, trong một sự đóng góp ngắn ngủi, khi suy nghĩ về vấn đề, đã đi ngược lên nguồn gốc do thái của Kitô giáo, khẳng định rằng chức linh mục và tình trạng độc thân được hợp nhất từ lúc đầu của « giao ước mới » giữa Thiên Chúa và nhân loại, được thiết lập bởi Chúa Giêsu. Và ngài nhắc rằng ngay « trong những Gíáo Hội cổ », nghĩa là vào thiên niên thứ nhất, « những nam nhân có vợ đã chỉ có thể nhận bí tích truyền chức thánh khi họ cam kết kiêng kỵ tình dục ».

Sự độc thân linh mục không phải và chưa bao giờ là một tín lý. Đó là một kỷ luật của hàng giáo sĩ của Hội Thánh Lamã vốn tượng trưng cho một ân điển quý giá, được định nghĩa như thế bởi tất cả các vị giáo hoàng gần đây. Hội Thánh công giáo theo nghi thức Đông phương dự kiến khả năng truyền chức linh mục cho các nam nhân có vợ, và những ngoại lệ cũng đã được chấp nhận cho Hội Thánh Lamã, chính là bởi ĐGH Biển Đức XVI trong Tông Hiến Anglicanorum coetibus dành cho những người theo Anh Giáo xin được hiệp thông với Hội Thánh công giáo, trong đó có dự trù « chấp nhận những nam nhân có vợ vào Chức Thánh tùy theo từng trường hợp, theo những tiêu chuẩn khách quan được Tòa Thánh phê chuẩn ».

Cũng phải nhắc lại rằng đối với vấn đề này, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nhiều lần phát biểu ; ngài khi còn là hồng y, trong đàm đạo về cuốn sách của Rabbin Abraham Skorka, đã giải thích rằng ngài ủng hộ sự duy trì độc thân « với tất cả những lợi thế cũng như những bất lợi mà nó có, bởi vì đó là 10 thế kỷ kinh nghiệm tích cực nhiều hơn là sai lầm. Truyền thống có một sức nặng và một hiệu lực ».

Vào tháng 01 năm ngoái, trong một cuộc đối thoại với các ký giả trên chuyến bay trở về từ Panama, Đức Giáo Hoàng đã nhắc lại rằng trong Hội Thánh đông phương, sự chọn lựa độc thân hay lấy vợ là có thể được trước khi lãnh chức phó tế, nhưng ngài đã nói thêm, về vấn đề Hội Thánh Lamã : « Tôi luôn nhớ tới câu nói này của Thánh Phaolô VI : « Tôi thà cho đi sự sống của tôi trước khi thay đổi luật độc thân ». Điều này đã tới trong tâm hồn tôi và tôi muốn nói lên, bởi vì đó là một câu nói can đảm, trong một thời điểm khó khăn hơn lúc này, 1968/1970… Cá nhân tôi, tôi nghĩ rằng tình trạng độc thân là một ân điển cho Hội Thánh… Tôi không đồng ý để cho phép tình trạng độc thân trong lựa chọn, không »

Trong câu trả lời của ngài, ngài cũng đã nói đến sự thảo luận giữa các nhà thần học về khả năng chấp nhận những trường hợp miễn trừ cho một số vùng xa xôi, như các đảo trên Thái Bình Dương, tuy nhiên ngài cũng nói rõ rằng « không có quyết định nào từ phía tôi cả. Quyết định của tôi là : độc thân để lựa chọn trước chức phó tế là không. Đó là quyết định của tôi, của cá nhân tôi, tôi sẽ không làm, điều này phải rõ ràng. Tôi là một người « khép kín » chăng ? Có thể. Nhưng tôi không muốn đến trước Thiên Chúa với cái quyết định này ».

Vào tháng 10 năm 2019, Thượng Hội Đồng Các Giám Mục về vùng Amazone đã được cử hành và chủ đề đã được thảo luận. Như người ta có thể thấy trong tài liệu đúc kết, một số giám mục đã yêu cầu có thể truyền chức linh mục cho những phó tế vĩnh viễn có vợ. Tuy nhiên thật là đang chú ý là ngày 26/10/2019, trong bài diễn văn bế mạc, Đức Giáo Hoàng, sau khi đã theo dõi tất cả những giai đoạn, những bài diễn văn và những cuộc thảo luận trong phòng họp, đã không hề đả động đến chủ đề truyền chức cho các nam nhân có vợ, cũng chẳng nhắc sơ tới. Thay vào đó, ngài đã nhắc lại 4 chiều kích của Thượng Hội Đồng : chiều kích liên quan đến du nhập văn hóa, chiều kích sinh thái, chiều kích xã hội và sau cùng là chiều kích mục vụ, là « bao gồm tất cả ».

Cũng trong bài diễn văn đó, Đức Giáo Hoàng đã nói đến tính sáng tạo trong những thừa tác mới và về vai trò của người phụ nữ, và dựa vào sự khan hiếm giáo sĩ trong nhiều vùng truyền giáo, ngài đã nhắc rằng nhiều linh mục của một quốc gia thuộc Châu Mỹ Latinh được gửi tới Hoa Kỳ và Âu Châu để phục vụ trong các Gíáo Hội địa phương, nhưng, để đáp lại, từ phía các quốc gia phía Bắc này, « không có ai để được gửi vào vùng Amazone từ những nước này ».

Sau cùng, trong khi cảm ơn các phương tiện truyền thông, thật là ý nghĩa Đức Giáo Hoàng Phanxicô cũng trong dịp này đã yêu cầu họ, trong lúc phổ biến tài liệu đúc kết, nên nói nhiều hơn về những chẩn đoán, « vốn là phần mà Thượng Hội Đồng Các Giám Mục đã thực sự phát biểu hay nhất » : chẩn đoán văn hóa, chẩn đoán xã hội, chẩn đoán mục vụ và chẩn đoán sinh thái. Đức Giáo Hoàng đã mời gọi họ đừng rơi vào nguy cơ nấn ná « trên những gì họ đã quyết định trong vấn đề kỷ luật này, trên những gì họ đã quyết định trong vấn đề khác, trên phe thắng và trên phe  thua ». 

© Vatican News

 Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

https://fr.zenit.org/articles/une-contribution-sur-le-celibat-sacerdotal-en-filiale-obeissance-au-pape-par-a-tornielli/

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở « Một đóng góp về độc thân linh mục, trong tư cách vâng lời con cái với Đức Giáo Hoàng », bởi A. Tornielli

Kinh Truyền Tin – Người môn đệ tốt làm điều thiện không để người ta chú ý

Lời Đức Giáo Hoàng trước kinh kính Đức Mẹ (Bản dịch toàn văn)

JANVIER 12, 2020 14:22 ANNE KURIANANGÉLUS ET REGINA CAELIPAPE FRANÇOIS

Kinh Truyền Tin ngày 12 /01/2020

« Kẻ huênh hoang không phải là một môn đệ tốt. Người môn đệ tốt thì khiêm nhượng, hiền lành, làm điều thiện mà không để ai biết », Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tuyên bố lúc Kinh Truyền Tin mà ngài chủ sự trên Quảng Trường Thánh Phêrô hôm 12/01/2020.

« Trong lễ Chúa Giêsu chịu phép Rửa, chúng ta khám phá lại lễ Rửa Tội của chúng ta », Đức Giáo Hoàng đã nhấn mạnh khi nhắc đến ngày lễ hôm nay, kết thúc Mùa Giáng Sinh : « Chúng ta là những đứa con yêu quý – Chúa Cha thương yêu tất cả chúng ta ! -, (chúng ta) là đối tượng niềm vui của Thiên Chúa, là anh em của nhiều anh em, được trao cho một sứ vụ lớn để làm chứng và loan báo cho tất cả mọi người về tình thương yêu vô biên của Chúa Cha ».

« Anh chị em hãy ăn mừng trong lòng cái ngày Rửa Tội của anh chị em mỗi năm, Đức Giáo Hoàng cũng đã khuyến khích. Hãy làm chuyện đó. Đó cũng chính là một bổn phận giữ trọn đức công chính đối với Chúa, Đấng quá tốt lành đối với chúng ta ».

Sau đây là bản dịch những lời mà ngài đã ban trước kinh kính Đức Mẹ.

Suy niệm của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Thân chào Quý Anh Chị Em !

Một lần nữa, ngày hôm nay tôi lại có niềm vui để ban phép Rửa cho một số các em bé, nhân ngày Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa. Chúng ta hãy cầu nguyện cho các em và cho gia đình các em.

Phụng vụ năm nay đề nghị với chúng ta biến cố Chúa Giêsu chịu Phép Rửa theo lời kể của Phúc Âm Thánh Mátthêu (x.Mt 3, 13-17). Thánh sử gia mô tả cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu, người xin được Phép Rửa, và thánh Gioan Tẩy Giả, người muốn từ chối và nhắc nhở là : « Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi » (c.14). Quyết định này của Chúa Giêsu khiến ông Gioan Tẩy Giả ngạc nhiên : quả vậy, Đấng Mêsia không cần phải thanh tẩy ; chính Người trái lại là Đấng thanh tẩy. Nhưng Thiên Chúa là Đấng Chí Thánh, đường lối của Người không phải là của chúng ta, và Chúa Giêsu là Đường của Thiên Chúa, con đường không lường trước được. Chúng ta hãy nhớ rằng Thiên Chúa là Đấng Thiên Chúa của những ngạc nhiên.

Thánh Gioan đã tuyên bố là giữa ngài và Chúa Giêsu có một khoảng cách xa thăm thẳm không vượt qua được. « Tôi không đáng xách dép cho Người » (Mt 3,11), ngài nói. Nhưng Con Thiên Chúa đã ngự đến chính là để lấp đầy khoảng cách giữa con người và Thiên Chúa. Nếu Chúa Giêsu hoàn toàn ở phía Thiên Chúa, Người cũng hoàn toàn ở phía con người, và Người hợp nhất cái gì đã bị phân chia. Bởi vậy, Người trả lời ông Gioan ; « Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính » (c.15). Đấng Mêsia yêu cầu được chịu phép rửa, để công chính được giữ trọn, nghĩa là để kế hoạch của Chúa Cha đi qua con đường vâng phục của con cái và sự liên đới với con người mỏng giòn và tội lỗi. Đó là con đường của khiêm nhường và đầy sự gần gũi với Thiên Chúa đối với con cái của Người.

Ngôn sứ Isaia cũng loan báo sự công chính của Tôi Tớ Thiên Chúa, Người đã thi hành sứ vụ của Người trên thế gian với một kiểu trái với tinh thần thế gian : « Nó sẽ không kêu to, không nói lớn, không để ai nghe tiếng giữa phố phường. Cây lau bị giập, nó không đành bẻ gẫy, tim đèn leo lét, cũng chẳng nỡ tắt đi » (Is 42, 12-3). Đó là thái độ dịu hiền – chính đìều này là điều Chúa Giêsu dạy cho chúng ta bằng sự khiêm nhường của Người, sự dịu hiền – thái độ của sự đơn sơ, của sự tôn trọng, của sự điều độ và của đời sống ẩn dật, còn được yêu cầu trong ngày hôm nay với các môn đệ của Chúa. Biết bao – thật đáng buồn phải nói ra – biết bao môn đệ của Chúa khoe khoang mình là môn đệ của Chúa. Kẻ huênh hoang không phải là một người môn đệ tốt. Người môn đệ tốt thì khiêm nhượng, hiền lành, làm điều thiện không để ai biết. Trong hoạt động truyền giáo, cộng đoàn Kitô hữu được kêu gọi đi gặp người khác, luôn đề nghị chứ không áp đặt, luôn làm chứng, luôn chia sẻ cụ thể đời sống người khác.

Chúa Giêsu vừa được chịu phép rửa dưới sông Giođan, thì các tầng trời đã mở ra và Thần Khí đáp xuống trên Người như chim bồ câu, trong lúc một tiếng nói vang lên từ Trời phán xuống : « Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người » (Mt 3,17). Trong lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa, chúng ta khám phá lại lễ Rửa Tội của chúng ta. Cũng như Chúa Giêsu là Con yêu dấu của Chúa Cha, chúng ta cũng vậy, chúng ta được tái sinh từ nước và Thánh Thần, chúng ta biết rằng chúng ta là những con cái yêu dấu – Chúa Cha thương yêu tất cả chúng ta ! -, là đối tượng của niềm vui Chúa Cha, là anh em của nhiều anh em, được giao phó một sứ vụ to lớn để làm chứng và loan báo cho tất cả mọi người tình yêu vô biên của Chúa Cha.

Lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa này nhắc nhở lễ Rửa Tội của chúng ta. Chúng ta cũng vậy, chúng ta được tái sinh trong Phép Rửa. Trong Phép Rửa, Chúa Thánh Thần đã ngự xuống và ở trong chúng ta. Bởi vậy quan trọng là phải biết ngày nào là ngày Rửa Tội của chúng ta. Chúng ta biết ngày nào là ngày sinh của chúng ta, nhưng chúng ta không phải ai cũng biết ngày chúng ta Rửa Tội. Nhiều người trong Quý Anh Chị Em có thể không biết ngày đó… Đây là một bài tập về nhà làm. Khi Quý Anh Chị Em về nhà, hãy đi hỏi : ngày tôi rửa tội là ngày nào ? Tôi đã được rửa tội khi nào ? Và Quý Anh Chị Em hãy ăn mừng trong lòng ngày lễ rửa tội của Quý Anh Chị Em hàng năm. Quý Anh Chị Em hãy làm điều này. Đó cũng là một bổn phận về giữ đức công chính đối với Chúa, Đấng đã rất nhân hậu với chúng ta.

Cầu xin Rất Thánh Nữ Đồng Trinh Maria phù trợ chúng ta luôn hiểu thêm về ân sủng của bí tích Thánh tẩy và sống ân sủng này với sự mạch lạc trong những tình huống của hết mọi ngày.

Traduction de Zenit, Anne Kurian

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

https://fr.zenit.org/articles/angelus-le-bon-disciple-fait-le-bien-sans-se-faire-remarquer/

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Kinh Truyền Tin – Người môn đệ tốt làm điều thiện không để người ta chú ý

Diễn Văn trước ngoại giao đoàn – sự ân cần bận tâm của Đức Giáo Hoàng với thế giới

Chống lại nạn buôn người và sự thảm hại của những người bị cưỡng bách di dân

JANVIER 09, 2020 13:42 ANNE KURIANPAPE FRANÇOISROME

Chúc mừng năm mới cho ngoại giao đoàn bên cạnh Tòa Thánh ngày 09/01/2020

Lòng trắc ẩn của Đức Giáo Hoàng Phanxicô và Hội Thánh đối với toàn thế giới đã hiện lên trong bài diễn văn chúc Năm Mới trước ngoại giao đoàn bên cạnh Tòa Thánh, ngày 09/01/2020, tại Vatican.

Trước các vị Đại Sứ của 183 quốc gia có quan hệ ngoại giao với Vatican, Đức Giáo Hoàng đã làm một vòng thế giới về những tình trạng đáng lo ngại, ngài biện hộ đặc biệt cho « một thế giới không có vũ khí hạt nhân » : « người ta không thể xây dựng một nền hòa bình đích thực trên sự đe dọa của một viễn tượng tiêu hủy hoàn toàn nhân loại có thể xẩy ra ».

Ngài đã tố cáo trong những chuyện khác « vết thương của nạn bóc lột và buôn người, được nuôi dưỡng bởi những kẻ vô đạo đức đang khai thác sự nghèo đói và đau khổ của những người đang phải chạy trốn các cuộc xung đột hay sự nghèo đói cùng cực ». « Trong số họ, có nhiều người là con mồi của bọn mafia chính cống, chúng giam giữ họ trong những điều kiện vô nhân đạo và hạ cấp và biến họ thành những đối tượng để bị tra tấn, bạo lực tình dục, tống tiền », ngài buồn rầu.

Ngài đã kêu gọi có « nhưng giải pháp lâu bền » cho cuộc khủng hoảng di dân : « Trên thế giới, có hàng ngàn người – với những đơn xin tỵ nạn hợp pháp, những nhu cầu nhân đạo và bảo vệ thực sự -, đã không được xác định một cách thích đáng. Một số đông trong họ đã mạo hiểm sự sống còn trong những chuyến đi nguy hiểm bằng đường bộ và nhất là đường biển. Với sự đau đớn, người ta tiếp tục ghi nhận là Địa Trung Hải đã biến thành một nghĩa trang rộng lớn ».

Bài diễn văn của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Kính thưa Quý Ngài, Thưa Quý Ông Bà,

Một năm mới mở ra trước chúng ta và, như những tiếng khóc của một đứa trẻ sơ sinh, nó mời gọi chúng ta vui mừng và đảm nhận lấy một thái độ hy vọng. Tôi muốn rằng từ ngữ Hy Vọng, vốn đối với người Kitô hữu là một nhân đức căn bản, sẽ làm sinh động nhãn quan để với nó, chúng ta bước vào trong thời kỳ đang chờ đón chúng ta.

Tất nhiên, hy vọng đòi hỏi thực tế. Hy vọng đòi hỏi sự nhận thức của nhiều vấn đề có liên quan đến thời đại của chúng ta và những thách đố hiện ra trước mắt. Hy vọng đòi hỏi phải gọi những vấn đề bằng tên của chúng và phải có can đảm để đối phó với chúng. Hy vọng đòi hỏi đừng quên rằng cộng đồng nhân loại mang những dấu hiệu và những thương tích của các cuộc chiến tranh đã liên tục kế tiếp nhau theo thời gian, với một khả năng tàn phá ngày càng gia tăng, và không ngừng đặc biệt đánh vào những người nghèo khó nhất và những người yếu đuối nhất [1]. Khốn nỗi, năm mới dường như không được gieo trồng những dấu hiệu đáng khích lệ, mà thay vào đó đã bùng lên những căng thẳng và những bạo động.

Chính là dưới ánh sáng của những hoàn cảnh đó mà chúng ta không thể ngừng hy vọng. Hy vọng đòi hỏi sự can đảm. Hy vọng đòi hỏi nhận thức rằng điều ác, sự đau khổ và chết chóc không thắng được và rằng những vấn đề phức tạp nhất cũng có thể và phải được đương đầu và giải quyết. Sự hy vọng « là nhân đức đặt chúng ta trên con đường, cho chúng ta đôi cánh để tiến về phía trước, dù cho các trở ngại có vẻ như không thể vượt qua được » [2].

Trong tinh thần đó, ngày hôm nay tôi đón tiếp quý vị Đại Sứ thân mến, để trình bầy những lời chúc tết nhân dịp năm mới. Tôi đặc biệt cảm ơn vị Niên Trưởng ngoại giao đoàn, Ngài George Poulides, Đại Sứ của Chypre, vì những lời thân thiện mà ngài đã gửi cho tôi nhân danh quý ngài tất cả, và tôi cảm ơn sự hiện diện của quý ngài, đông đủ và mang nhiều ý nghĩa, cũng như vì sự dấn thân mà quý ngài dành hàng ngày để củng cố các mối quan hệ nối liền Tòa Thánh với các Quốc Gia của quý ngài và các Tổ Chức quốc tế phục vụ cho sự chung sống hòa bình giữa các dân tộc.

Hòa bình và sự phát triển con người toàn diện, thực chất, là mục tiêu chính của Tòa Thánh trong lãnh vực ngoại giao. Hướng tới các mục tiêu đó, là những nổ lực của phủ Quốc Vụ Khanh và các Thánh Bộ của Giáo Triều Lamã cũng như các Tòa Khâm Sứ đại diện Giáo Hoàng mà tôi cảm ơn vì sự tận tụy các vị đó đã hoàn thành hai sứ mệnh đã được giao phó là đại diện Giáo Hoàng cũng như bên cạnh các Gíáo Hội địa phương và bên cạnh các Chính Phủ của quý ngài.

Trong viễn cảnh này cũng có các Hiệp Định mang tính chung, được ký kết hay phê chuẩn trong năm vừa qua, với các nước : Cộng Hòa Côngô, Cộng Hòa Trung Phi thân mến, Burkina Faso và Angola, cũng như Thỏa Hiệp giữa Tòa Thánh và nước Cộng Hòa Italia về việc áp dụng Công Ước Lisboa về việc công nhận các văn bằng đại học tại Châu Âu.

Cũng thế, các chuyến Tông Du, ngoài là một lối ưu đãi qua đó Người Kế Vị Thánh Phêrô Tông Đồ xác nhận các anh em của mình trong đức tin, còn là môt dịp để giúp cho sự đối thoại ở cấp chính trị và tôn giáo. Năm 2019, tôi đã có dịp thăm viếng nhiều thực tế mang ý nghĩa. Tôi muốn cùng với các ngài duyệt qua những giai đoạn mà tôi đã thực hiện, để nắm bắt cơ hội có được một cách nhìn rộng lớn hơn về nhiều câu hỏi có vấn đề của thời đại chúng ta.

Đầu năm ngoái, nhân dịp Ngày giới trẻ thế giới lần thứ 36, tôi đã gặp gỡ giới trẻ tại Panama, họ đến từ 5 lục địa, với tràn đầy ước mơ và hy vọng, họ tập họp ở đó, để cầu nguyện và để thổi bùng lên mong ước và dấn thân để tạo dựng một thế giới nhân bản hơn [3]. Thật luôn là một niềm vui và một sự may mắn lớn lao có thể gặp được giới trẻ. Họ là tương lai và niềm hy vọng của các xã hội chúng ta, nhưng họ cũng là hiện tại.

Tuy nhiên, phải đau buồn ghi nhận rằng, một số người lớn, kể cả nhiều thành viên của hàng giáo sĩ, đã trở thành thủ phạm của những tội ác rất trầm trọng chống lại phẩm giá của những người trẻ, của các em bé và của thanh thiếu niên, bằng cách xâm phạm sự trong trắng và riêng tư của họ. Đây là những tội ác xúc phạm đến Thiên Chúa, gây ra những thiệt hại về thể chất, tâm lý và tinh thần cho các nạn nhân và xúc phạm đến đời sống của toàn thể các cộng đồng [4]. Trong sự mở rộng của cuộc gặp gỡ với hàng giám mục trên toàn thế giới mà tôi đã triệu tập về Vatican hồi tháng Hai vừa qua, Tòa Thánh lập lại sự cam kết của mình để ánh sáng được soi rọi vào những lạm dụng đã vi phạm và để sự bảo vệ trẻ vị thành niên được bảo đảm, thông qua một loạt các tiêu chuẩn cho phép đối đầu với những trường hợp tương tự trong lãnh vực giáo luật canon và qua sự hợp tác với các chính quyền dân sự, ở cấp địa phương và quốc tế.

Trước những thương tích trầm trọng như thế, có vẻ như là còn khẩn cấp hơn nữa là người lớn đừng từ chối bổn phận giáo dục vốn là của họ, hơn thế nữa, họ đảm nhận sự tham gia này với một sự hăng hái lớn hơn để dẫn dắt giới trẻ tới sự trưởng thành tinh thần, nhân bản và xã hội.

Vì lý do đó, tôi mong muốn quảng bá một sự kiện toàn cầu vào ngày 14 tháng 5 tới đây với chủ đề : Tái xây dựng hiệp ước giáo dục thế giới. Đây là một cuộc gặp gỡ nhằm để « làm sống lại sự dấn thân cho và với các thế hệ trẻ, bằng cách làm mới lại niềm đam mê của một nền giáo dục cởi mở hơn và bao gồm hơn, có khả năng kiên nhẫn lắng nghe, khả năng đối thoại xây dựng và hiểu biết lẫn nhau. Hơn bao giờ hết, cần phải hợp nhất các nỗ lực của chúng ta trong một giao ước giáo dục rộng lớn để đào tạo những con người chín chắn, có khả năng vượt lên những chia rẻ và chống đối, và để vá lại các quan hệ nhắm tới một nhân loại nhiều huynh đệ hơn » [5].

Mọi sự thay đổi, như sự thay đổi thời đại mà chúng ta đang trải qua, đòi hỏi một hành trình giáo dục, sự xây dựng một ngôi làng giáo dục [6], tạo ra một mạng lưới các quan hệ nhân bản và cởi mở. Ngôi làng này  phải đặt con người vào trung tâm, tạo điều kiện cho óc sáng tạo và tinh thần trách nhiệm cho một kế hoạch dài hạn và đào tạo những con người sẵn sàng phục vụ cộng đồng.

Như thế, phải có một quan niệm giáo dục bao gồm nhiều trải nghiệm sống và quá trình học tập và cho phép giới trẻ, cá nhân hay tập thể, phát triển nhân phẩm của họ. Giáo dục không dừng lại trong các lớp học của nhà trường hay của các trường Đại Học, mà nó được bảo đảm chính bằng cách tôn trọng và tăng cường quyền giáo dục sơ khởi của gia đình, và quyền của các Giáo Hội và của những nhóm xã hội để nâng đỡ và hợp tác với các gia đình trong việc giáo dục con cái.

Giáo dục đòi hỏi đi vào một cuộc đối thoại chân thành và chung thủy với giới trẻ. Trước hết, chính họ phải nhắc nhở chúng ta sự khẩn cấp của sự đoàn kết liên thế hệ, vốn đáng tiếc, đã thất bại trong những năm gần đây. Thực chất, ở nhiều vùng trên thế giới, có một xu hướng nhằm co rút lại, nhằm bảo vệ những quyền lợi và đặc quyền đã có ; nhằm quan niệm một thế giới bên trong một chân trời giới hạn đối xử một cách dửng dưng với người già và nhất là không còn cống hiến không gian cho sự sống sinh ra. Sự lão hóa tổng quát của một phần dân chúng thế giới, đặc biệt ở Tây Phương, là một sự tượng trưng đáng buồn và tiêu biểu cho điều này.

Ngay cả khi một mặt, chúng ta không được quên rằng giới trẻ chờ đợi lời nói và gương sáng của người lớn, đồng thời chúng ta phải luôn nhớ rằng họ có nhiều thứ để cống hiến với lòng hăng say của họ, sự dấn thân của họ và khát vọng sự thật của họ, qua đó họ luôn nhắc nhở chúng ta sự kiện rằng hy vọng không phải là điều không tưởng và hòa bình là một của cải luôn có thể được.

Chúng ta đã thấy chuyện đó trong phương cách mà nhiều bạn trẻ đã tham gia để động viên những nhà lãnh đạo chính trị về vấn đề thay đổi khí hậu. Việc bảo toàn ngôi nhà chung phải là nỗi bận tâm của mọi người chứ không là đối tượng chống đối chủ thuyết giữa những nhãn quan khác nhau về thực tế, và còn ít hơn nữa giữa các thế hệ, bởi vì « đụng chạm đến thiên nhiên – như ĐGH Biển Đức XVI -, con người tìm lại được chiều kích đúng của mình, con người tái khám phá ra rằng mình là một vật thụ tạo, nhỏ bé nhưng đồng thời cũng là độc nhất vô nhị, có khả năng ‘‘đón tiếp Thiên Chúa’’ bởi vì nội tâm được mở ra tới vô biên » [7]. Sự bảo vệ nơi chốn đã được Đấng Tạo Hóa ban cho chúng ta để sinh sống, như thế, không thể lơ là, hay là thu gọn vào một hệ vấn đề tinh hoa. Giới trẻ nói với chúng ta rằng không thể như thế được, bởi vì có một thách thức cấp bách, ở mọi tầng cấp, phải bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta và « hợp nhất toàn bộ gia đình nhân loại trong việc tìm kiếm một sự phát triển lâu bền và toàn diện » [8]. Họ nhắc nhở chúng ta về sự cấp bách của một sự trở lại sinh thái, vốn « phải được hiểu một cách toàn diện, như một sự chuyển đổi của các quan hệ mà chúng ta có với các chị em và anh em chúng ta, với các sinh vật khác, với thiên nhiên trong sự đa dạng rất phong phú của nó, với Đấng Tạo Hóa là nguồn gốc của mọi sự sống » [9].

Khốn nỗi, sự cấp bách của việc trở lại sinh thái này dường như đã không đạt được trong chính trị quốc tế, mà câu trả lời cho hệ thống vấn đề được đặt ra bởi những vấn nạn toàn cầu như là về biến đổi khí hậu vẫn còn rất yếu và là nguyên nhân của sự lo ngại to lớn. Cuộc Họp lần thứ 25 của Hội Nghị các Bên tham gia vào Công Ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu (COP25), diễn ra tại Madrid vào tháng 12 vừa qua, tượng trưng cho một hồi chuông báo động nghiêm trọng liên quan đến ý chí của Cộng Đồng quốc tế đối phó với hiện tượng nóng lên toàn cầu bằng sự khôn ngoan và hữu hiệu, sự kiện này đòi hỏi một sự đáp ứng tập thể có khả năng làm cho công ích chiếm lợi thế hơn các lợi ích riêng tư.

Những nhận xét này nhắc nhở sự chú ý của chúng ta về Châu Mỹ Latinh, đặc biệt là Hội nghị đặc biệt của Thượng Hội Đồng Các Giám Mục về vùng Amazone, vừa diễn ra tại Vatican hồi tháng 10 vừa qua. Thượng Hội Đồng Các Giám Mục đã là một biến cố căn bản là của Gíáo Hội, được thúc đẩy bởi ý chí lắng nghe những niềm hy vọng và những thách đố của Gíáo Hội tại vùng Amazone và để mở ra những con đường mới cho việc loan truyền Phúc Âm cho Dân của Thiên Chúa, đặc biệt là cho những dân tộc bản địa. Tuy nhiên, Hội Nghị Thượng Hội Đồng Các Giám Mục đã không thể không đề cập đến những vấn đề khác, bắt đầu bằng vấn đề sinh thái toàn diện, vốn liên quan đến chính sự sống của vùng đất này, quá rộng lớn và quan trọng đối với toàn thế giới, bởi vì « rừng Amazone là một ‘‘trái tim sinh học’’ cho trái đất này đang ngày càng bị đe dọa » [10].

Ngoài tình trạng trong vùng Amazone, sự gia tăng các cuộc khủng hoảng chính trị trong một số mỗi ngày một tăng các quốc gia của châu Mỹ dấy lên nỗi lo ngại, với những căng thẳng và những hình thức bạo lực khác thường làm trầm trọng thêm những tranh chấp xã hội và gây ra những hậu quả nghiêm trọng về xã hội – kinh tế và nhân đạo. Những phân cực luôn mạnh mẽ hơn không giúp giải quyết những vấn đề  thật và cấp bách của người dân, nhất là những người nghèo khó nhất và những người dễ bị tổn thương nhất, và còn ít hơn nữa, bạo lực không bao giờ có thể được chấp nhận để đối phó với những vấn đề chính trị và xã hội. Trước cử tọa này, tôi muốn nhắc đặc biệt tới nước Vênêsuêla, để cho sự cam kết tìm kiếm những giải pháp đừng bị suy yếu đi.

Một cách tổng quát, những tranh chấp trong vùng châu Mỹ, dù là có những nguồn gốc đa dạng, chúng đều có chung những bất bình đẳng sâu đậm, những bất công và nạn tham nhũng đặc hữu, cũng như những hình thức đa dạng của sự nghèo khổ, vốn là một sự xúc phạm đến phẩm giá của con người. Như thế các nhà lãnh đạo chính trị phải nỗ lực để khẩn cấp tái lập lại một nền văn hóa đối thoại cho công ích và để củng cố những cơ chế dân chủ và thúc đẩy sự tôn trọng luật pháp, nhằm ngăn ngừa những chệch hướng phản dân chủ, túy dân và cực đoan.

Trong chuyến tông du thứ nhì của tôi trong năm 2019, tôi đã tới các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, chuyến viếng thăm đầu tiên của một người Kế Vị thánh Phêrô tới bán đảo Ả Rập. Tại Abou Dabi, tôi đã ký kết với Đại Imam của Al-Azhar Ahmad al-Tayyib, Tài liệu về tình Huynh Đệ Con Người vì Hòa Bình Thế Giới và cùng tồn tại chung. Đây là một văn bản quan trọng nhằm giúp cho sự hiểu biết lẫn nhau giữa các Kitô hữu và người Hồi giáo và sự cùng tồn tại trong những xã hội luôn mang tính đa sắc tộc và đa văn hóa, bởi vì, lên án mạnh mẽ việc sử dụng « danh Thiên Chúa để biện giải cho những hành động giết người, đầy ải, khủng bố và áp bức » [11], nhắc nhở tầm quan trọng của quan niệm quyền công dân, vốn « dựa trên sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ nhờ đó mà mọi người được hưởng thụ công lý »[12]. Điều này đòi hỏi sự tôn trọng tự do tôn giáo và cam kết từ bỏ việc sử dụng mang tính phân biệt đối xử thuật ngữ ‘‘thành phần thiểu số’’, vốn mang trong mình những mầm mống của mặc cảm bị cô lập và tự ti và chuẩn bị địa thế cho những đụng độ và cho sự bất hòa, kỳ thị các công dân dựa trên sự thống thuộc tôn giáo [13]. Vì mục đích đó, đặc biệt quan trọng là phải đào tạo các thế hệ tương lai cho đối thoại liên tôn, như là con đường vương giả để nhận thức, để hiểu biết và nâng đỡ lẫn nhau giữa các thành viên của các tôn giáo khác nhau.

Hòa bình và hy vọng cũng đã là trọng tâm của chuyến viếng thăm Maroc của tôi, ở đó, với Đức Vua Mohamad VI, tôi đã ký kết một lời kêu gọi chung về Giêrusalem, « công nhận tính độc nhất và thiêng liêng của Giêrusalem / Al Qods Acharif và mong muốn ý nghĩa thiên liêng và ơn gọi đặc biệt là Thành Phố Hòa Bình của mình » [14]. Từ Giêrusalem, thành phố thân yêu của các tín hữu của ba tôn giáo độc thần, được ơn gọi là một nơi biểu tượng của gặp gỡ và sống chung hòa bình, trong đó được vun trồng sự tôn trọng lẫn nhau và đối thoại [15], ý nghĩ của tôi chỉ có thể mở rộng trên toàn Đất Thánh, để nhắc lại sự khẩn cấp cho toàn thể cộng đồng quốc tế, với lòng can đảm và sự chân thành và trong sự tôn trọng luật pháp quốc tế, tái xác định sự ủng hộ hết mình cho tiến trình hòa bình Do Thái – Palestine.

Một sự tham gia cách đều đặn từ phía Cộng Đồng quốc tế là rất cần thiết hơn lúc nào hết trong các vùng Địa Trung Hải và Trung Đông. Tôi đề cập trước hết đến cái vỏ bọc im lặng có rủi ro che đậy cuộc chiến đã tàn phá nước Syria trong thập niên này. Thật là đặc biệt khẩn cấp phải tìm ra những giải pháp thích hợp và sáng suốt cho phép nhân dân Syria thân yêu, đang bị kiệt sức vì chiến tranh, có thể tìm lại được hòa bình và bắt đầu tái thiết đất nước. Tòa Thánh đón nhận một cách thuận lợi mọi sáng kiến nhằm đặt nền móng cho việc giải quyết tranh chấp và biểu lộ, một lần nữa sự biết ơn của mình với nước Jordany và Lebanon vì đã tiếp nhận và gánh vác, với nhiều hy sinh, hàng ngàn người tỵ nạn Syria. Khốn nỗi, ngoài những mệt mỏi gây ra bởi sự tiếp nhận, nhiều yếu tố của sự bấp bênh về kinh tế và chính trị khác nữa, tại Lebanon và trong nhiều quốc gia khác, đang gây ra những căng thẳng giữa dân chúng, khiến cho lâm vào rủi ro sự ổn định mong manh của vùng Trung Đống.

Các dấu hiệu đến từ toàn thể vùng này cho thấy đặc biệt đáng lo ngại, tiếp theo sự leo thang căng thẳng giữa Iran và Hoa Kỳ, và có thể có rủi ro nhất là đặt tiến trình tái thiết Irak vốn đã chậm trễ vào những thử thách to lớn, cũng như tạo ra những nền móng của một cuộc tranh chấp to lớn hơn mà tất cả chúng ta đều muốn can ngăn. Vì thế, tôi lập lại lời kêu gọi các bên liên hệ tránh sự cứng rắn của đối đầu và giữ cho « ngọn lửa đối thoại và tự chế được thắp lên » [16] trong sự tôn trọng đầy đủ luật pháp quốc tế.

Tôi cũng nghĩ tới nước Yemen, đang trải nghiệm những khủng hoảng nhân đạo trầm trọng nhất trong lịch sử mới đây, trong một bầu khí lãnh đạm chung của Cộng Đồng quốc tế, và tới nước Libya, từ nhiều năm nay, đã sống trong một tình trạng tranh chấp bị làm trầm trọng thêm bởi những cuộc tấn công của các nhóm cực đoan và bởi một sự gia tăng những bạo lực trong những ngày vừa qua. Một bối cảnh như thế là một vùng đất mầu mỡ cho vết thương của sự khai thác và của nạn buôn người, được nuôi dưỡng bởi những kẻ vô đạo đức, chúng khai thác sự nghèo khó và sự đau khổ của những người chạy trốn các tình trạng chiến tranh và nghèo đói cùng cực. Trong số họ, nhiều người là mồi ngon của những nhóm mafia chính cống, chúng giam giữ họ trong những điều kiện vô nhân đạo và hạ cấp và biến họ thành những đối tượng bị tra tấn, bị bạo lực tình dục, bị tống tiền.

Nói chung, cần nêu lên là trên thế giới, có nhiều ngàn người – với những đơn xin tỵ nạn hợp pháp, xin giúp đỡ nhân đạo và bảo vệ có thể kiểm chứng -, mà không được xác nhận đúng mức. Một số lớn trong họ đã liều mạng trong những chuyến đi nguy hiểm bằng đường bộ và nhất là bằng đường biển. Với nỗi đau buồn, người ta tiếp tục ghi nhận Biển Địa Trung Hải vẫn là một nghĩa trang rộng lớn [17]. Như vậy, thật cấp bách là các quốc gia phải nhận lấy trách nhiệm để tìm ra những giải pháp lâu bền.

Về phần mình, Tòa Thánh quan sát với một niềm hy vọng to lớn, những nỗ lực được thực hiện của nhiều quốc gia để chia sẻ gánh nặng của sự tái hội nhập và cung cấp cho những người di dân, đặc biệt vì lý do những cấp bách nhân đạo, một nơi an toàn để sinh sống, một nền giáo dục, cũng như khả năng được làm việc và được đoàn tụ với gia đình của họ.

Thưa quý ngài Đại Sứ thân mến,

Trong những chuyến đi của năm ngoái, tôi cũng đã có dịp tới ba nước Đông Âu, trước tiên là tới Bulgari và Bắc Macédonia, và trong dịp thứ nhì, tới Rumani. Đây là ba quốc gia khác biệt nhau, nhưng hợp nhất vì đã, trong nhiều thế kỷ, là cầu nối giữa Đông và Tây, và là ngã tư của các nền văn minh, của các sắc dân và của các nền văn minh đa dạng. Khi thăm viếng các nước đó, tôi đã có thể trải nghiệm, thêm một lần nữa, sự đối thoại và nền văn hóa gặp gỡ là quan trọng như thế nào để xây dựng những xã hội hòa bình, trong đó mỗi người có thể biểu lộ một cách tự do sự thống thuộc của riêng mình vào một sắc dân hay một tôn giáo.

Cũng trong bối cảnh Âu Châu, tôi muốn nhắc lại tầm quan trọng của việc hỗ trợ sự đối thoại và sự tôn trọng luật pháp quốc tế để giải quyết « các cuộc tranh chấp đóng băng » vẫn còn tồn tại trên châu lục này – đối với một số nước, từ nhiều thập niên qua – và đòi hỏi một giải pháp, bắt đầu từ những tình trạng liên quan đến vùng Tây Balkan và tại vùng Nam Caucase, đặc biệt là nước Georgia. Hơn nữa, trước hội nghị này, tôi muốn biểu lộ sự khuyến khích của Tòa Thánh đối với những cuộc đàm phán về việc thống nhất đảo Chypre, bằng cách củng cố sự hợp tác vùng và thúc đẩy sự ổn định của toàn vùng Địa Trung Hải, cũng như sự biết ơn đối với những dự tính nhằm giải quyết tranh chấp trong vùng Đông Ukraina và chấm dứt sự đau khổ của dân chúng.

Đối thoại – chứ không phải vũ khí – là khí cụ cốt yếu để giải quyết những tranh chấp. Về vấn đề này, tôi muốn, trước cử tọa ngày hôm nay, nhắc tới sự đóng góp được cống hiến, thí dụ, tại Ukraina bởi Tổ Chức An Ninh Và Hợp Tác Tại Âu Châu (OSCE), đặc biệt trong năm nay kỷ niệm 45 năm Văn Bản cuối cùng của Hensinki, kết thúc Hội Nghị về An Ninh và Hợp Tác tại Âu Châu (CSCE), được khởi sự từ năm 1973 để tạo thuận lợi cho sự hòa dịu và hợp tác giữa các quốc gia của Tây Âu và Đông Âu, khi lục địa này còn bị chia đôi bởi bức màn sắt. Đó là một chặng quan trọng của một tiến trình được khởi xướng trên những đổ nát của Đệ Nhị Thế Chiến và đã thấy được trong sự đồng thuận và đối thoại một khí cụ cốt yếu để giải quyết tranh chấp.

Từ năm 1949, tại Tây Âu, với sự thành lập Hội Đồng Âu Châu và sự phê chuẩn Công Ước Nhân Quyền Âu Châu nối tiếp, đã đặt nền móng cho tiến trình hội nhập Âu Châu, vốn đã tìm thấy trong Tuyên Ngôn ngày 09/5/1950 của Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Pháp vào lúc bấy giờ, ông Robert Schuman, một trụ cột căn bản. Ông Schuman khẳng định rằng « hòa bình chỉ có thể được duy trì bởi những nỗ lực sáng tạo, tỷ lệ thuận với những nguy cơ đe dọa nó ». Nơi những Cha Đẻ của Âu Châu hiện đại, đã có nhận thức rằng châu lục chỉ có thể phục hồi sau sự xâu xé của chiến tranh và của những chia rẽ mới chỉ độc nhất xuất hiện qua một tiến trình tiệm tiến trao đổi lý tưởng và tài nguyên.

Ngay từ những năm đầu, Tòa Thánh đã chú tâm tới dự án Âu Châu, khi kỷ niệm 50 năm sự hiện diện của Tòa Thánh như là Quan Sát viên bên cạnh Hội Đồng Âu Châu, cũng như sự thiết lập các mối quan hệ ngoại giao với Cộng Đồng Âu Châu vào lúc đó. Đây là một lợi ích mong muốn nhấn mạnh đến một quan niệm xây dựng bao gồm, được làm sống động bởi một tinh thần tham gia và liên đới, có khả năng làm cho Âu Châu trở thành một gương sáng về tiếp nhận và về công bằng xã hội, dưới dấu hiệu của một sự bảo đảm căn bản của phát triển cho thành phần tham gia từ lâu và một cơ hội hòa bình, sau những tranh chấp hỗn loạn và những xâu xé, đối với các quốc gia mong muốn tham gia.

Cho dù Âu Châu không mất đi tinh thần đoàn kết vốn, trong nhiều thế kỷ qua, đã là đặc trưng cho mình, kể cả trong những lúc khó khăn nhất của lịch sử. Cho dù nó không mất đi cái tinh thần đã bám rễ, trong đức tính trung thành của Lamã và trong Đức Ái của Kitô giáo vốn mô tả một cách đúng đắn tâm hồn của các dân tộc Âu Châu. Vụ cháy Nhà Thờ Đức Bà Paris đã cho thấy, thật là rất mỏng manh và dễ phá hủy kể cả cái gì có vẻ là vững chắc. Những thiệt hại của ngôi thánh đường thân yêu của không những các người công giáo mà còn ý nghĩa đối tới toàn thể nước Pháp và toàn thể nhân loại, đã đánh thức chủ đề của các giá trị lịch sử và văn hóa của Châu Âu và những cỗi rễ trên đó nó đặt nền tảng. Trong bối cảnh với những giá trị quy chiếu thiếu vắng, sẽ dễ tim thấy những yếu tố chia rẽ hơn là sự nhất quán.

Ngày kỷ niệm 30 năm Bức Tường Bá Linh sụp đổ đã đặt ra trước mắt chúng ta một trong những biểu tượng đau lòng của lịch sử cận đại của châu lục, nhắc nhở chúng ta rằng thật là dễ dàng biết bao để dựng lên những rào cản. Bức Tường Bá Linh vẫn tượng trưng cho một thứ văn hóa của sự chia rẽ, phân tán con người ra với nhau và mở ra con đường quá khích và bạo động. Chúng ta luôn ghi nhận điều đó nhiều hơn trong ngôn ngữ hận thù được phổ biến rộng rãi trên internet và qua những phương tiện truyền thông xã hội. Đối mặt với những rào cản của hận thù, chúng ta mong muốn những cây cầu của sự hòa giải và của sự đoàn kết, đối mặt với điều làm ly tán, chúng ta muốn điều làm gom tụ, ý thức rằng « Không có một nền hòa bình nào có thể củng cố (…) nếu, đồng thời, những hận thù và oán ghét không dịu xuống bằng một sự hòa giải được xây dựng trên lòng bác ái qua lại » [18], như cách đây 100 năm, vị tiền nhiệm của tôi, ĐGH Biển Đức XV đã viết.

Thưa quý ngài Đại Sứ thân mến,

Tôi đã có thể thấy được những chỉ dấu của hòa bình và hòa giải nhân chuyến tông du Phi Châu của tôi, nơi đó niềm vui của những người, cùng nhau, cảm thấy là một dân tộc và đối mặt với những khó khăn hàng ngày trong một tinh thần chia sẻ, là hiển nhiên. Tôi đã trải nghiệm tính cách cụ thể của niềm hy vọng qua nhiều cử chỉ mang tính khích lệ, bắt đầu bằng những bước tiến bộ vừa qua đạt được tại Mozambique, với việc ký kết Thỏa Ước chấm dứt vĩnh viên chiến sự ngày 01/8/2019 vừa qua.

Tại Madagascar, tôi đã ghi nhận rằng có thể xây dựng sự an toàn ở nơi có sự bấp bênh, có thể thấy được hy vọng ở nơi chỉ có tai ương, có thể thấy đựợc sự sống ở nơi nhiều người loan báo chết chóc và tàn phá [19].  Trên chiều hướng đó, gia đình và tinh thần cộng đồng vốn giúp thiết lập sự tin tưởng cần thiết cho nền tảng của mọi quan hệ con người, là cốt yếu. Tại đảo Maurice, tôi đã nhận thấy « các tôn giáo khác nhau, với những căn tính riêng biệt, hoạt động tay trong tay để góp phần vào nền hòa bình xã hội và nhắc nhở giá trị hướng thượng của sự sống chống lại mọi hình thức đơn giản hóa » [20]. Tôi tin tưởng rằng sự hăng hái mà tôi đã có thể đụng chạm được trong chuyến tông du tiếp tục được cụ thể hóa bằng những cử chỉ đón tiếp và những dự án có khả năng phát huy công bằng xã hội, trong khi tránh được những động lực co rút lại.

Mở rộng tầm nhìn tới những vùng khác của lục địa, trái lại, thật là đau buồn mà ghi nhận rằng, đặc biệt tại Burkina Faso, tại Mali, tại Niger và tại Nigeria, vẫn tếp tục có những hành động bạo lực nhắm vào những người vô tội, trong đó có nhiều Kitô hữu bị bách hại và giết hại chỉ vì sự trung thành của họ với Phúc Âm. Tôi kêu gọi Cộng Đồng quốc tế hãy ủng hộ những nỗ lực mà các quốc gia này đang thực hiện trong cuộc chiến để thắng vết thương của khủng bố đang làm đổ máu ngày càng nhiều trên những vùng rộng lớn của Châu Phi, cũng như những vùng khác trên thế giới. Dới ánh sáng của các biến cố này, cần thiết là những sách lược phải được thực hiện với những can thiệp không chỉ trong lãnh vực an ninh, mà còn trong sự giảm nghèo, trong sự phát triển và sự trợ giúp nhân đạo, trong sự phát huy tính cai trị tốt và những quyền dân sự, trong sự cải thiện hệ thống y tế. Đó là những trụ cột của một sự phát triển xã hội đích thực.

Cũng như thế, cần phải khích lệ những sáng kiến nhằm phát huy tình huynh đệ giữa tất cả những biểu hiện văn hóa, sắc tộc và tôn giáo của cùng đất này, đặc biệt là ở vùng Sừng Phi Châu, tại Cameroun, và còn ở Cộng Hòa Dân Chủ Congo, nhất là  trong các vùng phía Đông của đất nước này, nơi bạo lực vẫn còn tồn tại. Các cuộc tranh chấp và những cấp bách về nhân đạo, bị làm thêm trầm trọng bởi những đảo lộn khí hậu, làm gia tăng số người di tản và ảnh hưởng đến những người đã sống trong một tình trạng nghèo đói cùng cực rồi. Một số lớn các quốc gia bị ảnh hưởng bởi những tình cảnh này đang thiếu những cơ chế thích hợp để giúp cung ứng những nhu cầu của tất cả những người di tản.

Về vấn đề này, tôi muốn nhấn mạnh ở đây rằng, rất tiếc, đã chưa có một sự đáp ứng quốc tế mạch lạc nào để đối phó với hiện tượng di tản nội địa, phần lớn bởi vì nó không được định nghĩa trên mặt quốc tế, bởi vì nó xẩy ra bên trong biên giới quốc gia. Kết quả là những người di tản nội địa vẫn không nhận được sự bảo vệ mà họ xứng đáng được hưởng, họ lệ thuộc hoàn toàn và khả năng đáp ứng và các chính sách của quốc gia của chính họ.

Gần đây Hội Nghị Cao Cấp của Liên Hiệp Quốc về Di Tản Nội Địa (l’United Nations High-Level Panel on Internal Displacement) đã bắt đầu, tôi hy vọng nó sẽ giúp cho có sự chú ý và hỗ trợ ở cấp thế giới cho những người di tản, bằng cách có những khuyến nghị cụ thể.

Trong viễn cảnh này, tôi cũng nhìn về nước Suđăng, với mong ước là các công dân của nước này có thể được sống trong hòa bình và thịnh vượng và hợp tác cho sự tăng trưởng dân chủ và kinh tế của đất nước ; nước Cộng Hòa Trung Phi, nơi mà hồi tháng 2 năm ngoái đã được ký kết một Hiệp Định toàn diện chấm dứt hơn 5 năm nội chiến ; nước Nam Suđăng mà tôi hy vọng có thể viếng thăm trong năm nay và tôi đã dành trọn một ngày tỉnh tâm vào tháng 4 năm ngoái với sự hiện diện của các vị trách nhiệm của đất nước này và sự đóng góp quý báu của đức Tổng Giám Mục của Canterbury, Đức Cha Grace Justin Welby, và vị Nguyên Điều Phối Viên của Gíáo Hội Tin Lành Calvin xứ Ecosse, Mục Sư John Chalmers. Tôi tin tưởng rằng với sự trợ giúp của Cộng Đồng quốc tế, những người có trách nhiệm chính trị tiếp tục cuộc đối thoại để thực hiện những thỏa hiệp đã đạt được.

Chuyến tông du cuối cùng trong năm vừa chấm dứt là tại vùng Đông Á Châu. Tại Thái Lan, tôi đã có thể ghi nhận sự hài hòa được mang lại bởi nhiều nhóm sắc tộc làm nên quốc gia này, với sự đa dạng về triết lý, văn hóa và tôn giáo. Đây là một sự nhắc nhở quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay đang có xu hướng san bằng những dị biệt và coi đó trước hết dưới con mắt kinh tế – tài chánh, với rủi ro là xóa bỏ những đặc tính cốt yếu phân biệt các dân tộc khác nhau.

Sau cùng, tại Nhật Bản, tôi đã đụng chạm được với sự đau khổ và nỗi kinh hoàng mà chúng ta có khả năng giáng lên cho nhau với tư cách là những con người [21]. Khi nghe chứng từ của những Hibakusha, những người sống sót sau bom nguyên tử tại Hiroshima và Nagasaki, đã tỏ ra rất hiển nhiên rằng người ta không thể xây dựng một nền hòa bình đích thực dựa trên sự đe dọa một sự hủy diệt toàn bộ nhân loại xẩy ra bởi vũ khí hạt nhân. Các Hibakusha « đã gìn giữ sống động ngọn lửa của lương tâm tập thể, làm chứng cho các thế hệ tiếp nối sự kinh hoàng của những gì đã xẩy ra vào tháng 8 năm 1945 và những đau khổ vô tả vẫn tiếp tục cho đến ngày hôm nay. Sự làm chứng của họ thức tỉnh và lưu giữ theo cách này ký ức của các nạn nhân nhằm để lương tâm nhân loại luôn trở thành mạnh mẽ hơn trước mọi ý muốn thống trị và hủy diệt » [22], đặc biệt là sự hủy diệt bởi những thiết bị với tiềm năng hủy diệt rất cao, như các vũ khí hạt nhân. Các vũ khí này, không chỉ gây ra một bầu khí sợ hãi, nghi ngờ và thù địch, mà còn phá hủy hy vọng. Sự sử dụng chúng là vô đạo đức, « một tội ác, không những đối với con người và nhân phẩm, mà còn đối với mọi khả năng của tương lai trong ngôi nhà chung của chúng ta » [23].

Một thế giới « không có vũ khí hạt nhân là có thể và là điều cần thiết » [24], và đã đến lúc tất cả những người trách nhiệm chính trị phải nhận thức đầy đủ về điều này, bởi vì không phải sở hữu răn đe những phương tiện hủy diệt hàng loạt mạnh mẽ có thể làm cho thế giới an toàn hơn, nhưng đúng ra là sự hoạt động kiên nhẫn của tất cả những người thiện chí cống hiến cụ thể, mỗi người trong lãnh vực của mình, để xây dựng một thế giới hòa bình, liên đới và tương kính lẫn nhau.

Năm 2020 cống hiến một cơ hội quan trọng trong chiều hướng này, từ ngày 27/4 đến ngày 22/5 sẽ diễn ra tại New York Hội Nghị kiểm tra Hiệp Ước không phổ biến vũ khí hạt nhân lần thứ X. Tôi hết lòng cầu chúc vào dịp này, Cộng Đồng quốc tế thành công trong việc tìm được một sự đồng thuận cuối cùng và hiệu quả trên những phương cách để cập nhật hóa công cụ pháp lý quốc tế này, vốn tỏ ra còn quan trọng hơn trong một thời điểm như lúc này.

Cuối danh sách các địa điểm tôi đã đến thăm trong năm vừa chấm dứt, tôi muốn có một tư tưởng đặc biệt dành cho một đất nước mà tôi đã không tới thăm. Đó là Úc Châu, đã chịu đựng một cách nặng nề những vụ hỏa hoạn dữ dội kéo dài nhiều tháng nay mà ảnh hưởng đã lan ra nhiều vùng khác của Châu Đại Dương. Tôi muốn cam kết với dân chúng Úc Châu, và đặc biệt là những nạn nhân và tất cả những người sống trong những vùng bị hỏa hoạn, sự sát cánh và lời cầu nguyện của tôi.

Kính thưa Qúy Ngài Đại Sứ và Quý Ông Bà

Năm nay, Cộng Đồng quốc tế kỷ niệm 75 năm ngày thành lập Liên Hiệp Quốc. Tiếp theo những thảm kịch được trải nghiệm trong hai cuộc thế chiến, với bản Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, được ký kết ngày 26/6/1945, bốn mươi sáu quốc gia đã khai sinh ra một hình tức hợp tác đa phương mới. Bốn mục tiêu của Tổ Chức, được minh định trong điều 1 của bản Hiến Chương, vẫn còn hiệu lực cho đến ngày nay và chúng ta có thể nói rằng sự tham gia của Liên Hiệp Quốc, trong 75 năm qua, trong phần lớn đã là một thành công, đặc biệt để tránh một cuộc thế chiến khác xẩy ra. Những nguyên tắc thành lập Tổ Chức – ước vọng hòa bình, tìm kiếm công lý, tôn trọng phẩm giá con người, hợp tác nhân đạo và trợ giúp – biểu lộ những khát vọng chính đáng của tinh thần nhân bản và tạo thành lý tưởng trong đó ngầm hiểu có các quan hệ quốc tế.

Nhân dịp kỷ niệm này, chúng tôi muốn tái khẳng định những gì gia đình nhân loại phải làm vì công ích, tiêu chí định hướng của hành động đạo đức và triển vọng vốn phải huy động mỗi quốc gia hợp tác để bảo đãm cuộc sống và sự an ninh trong hòa bình của mọi quốc gia khác, trong một tinh thần bình đẳng phẩm giá và đoàn kết thực tế, trong lãnh vực của một hệ thống pháp lý xây dựng trên công lý và trên tìm kiếm sự thoả hiệp công bằng [25].

Một hành động như thế sẽ hữu hiệu hơn khi người ta tìm cách vượt lên cách tiếp cận ngang xương, thường được sử dụng trong ngôn ngữ và trong các văn bản của các cơ quan quốc tế, nhằm liệt các quyền căn bản vào những tình huống không quan trọng, mà quên đi rằng chúng được xây dựng trong nội tại của chính bản chất của con người. Khi một sự gắn kết khách quan thiếu đi ngôn từ nơi các Tổ Chức quốc tế, người ta có rủi ro thúc đẩy sự lìa xa hơn là kéo tới gần, của những thành viên Cộng Đồng quốc tế, với cuộc khủng hoảng hậu quả của hệ thống đa phương, đáng tiếc là được mọi người đều thấy được.Trong bối cảnh đó, có vẻ là cấp bách phải tiếp nối con đường hướng tới một cuộc cải tổ toàn diện của hệ thống đa phương, khởi từ hệ thống Liên Hiệp Quốc, vốn làm cho nó hữu hiệu, bằng cách chính đáng tính đến bối cảnh địa dư chính trị hiện thời.

Kính thưa Quý Ngài Đại Sứ,

Đi tới phần kết thúc những suy luận của tôi, tôi cũng muốn nêu lên hai ngày kỷ niệm sẽ diễn ra trong năm nay, chắc là xa lạ với cuộc gặp gỡ của chúng ta ngày hôm nay. Ngày thứ nhất là kỷ niêm 500 năm ngày tạ thế của ông Rapaël, người nghệ sĩ vĩ đại của Urbino, ông mất tại Rôma ngày 06/4/1520. Chúng ta nợ ông Raphaël một di sản vô cùng tuyệt mỹ. Cũng giống như tài nghệ của nghệ nhân biết cấu tạo một cách hài hòa những vật liệu thô và những âm thanh khác nhau biến chúng thành những phần của một tác phẩm nghệ thuật, ngành ngoại giao cũng được kêu gọi làm hài hòa những nét đặc thù của các dân tộc và các quốc gia khác nhau để xây dựng một thế giới của công lý và hòa bình, vốn là một bức tranh đẹp mà tất cả chúng ta đều mong muốn có thể được chiêm ngắm.

Raphaël đã là một người con quan trọng của một thời đại, thời đại Phục Hưng, đã làm phong phú cho toàn thể nhân loại. Một thời đại, không miễn trừ những khó khăn, nhưng được hoạt náo bởi lòng tin tưởng và niềm hy vọng. Qua người nghệ nhân xuất sắc này, tôi muốn gửi tới nhân dân Ý những lời chúc thân mến, tôi chúc họ tái khám phá cái tinh thần mở ra tương lai vốn đã nêu đặc tính cho thời kỳ Phục Hưng và đã làm cho bán đảo này nên tươi đẹp và phong phú về nghệ thuật, về lịch sử và về văn hóa.

Một trong những chủ đề thích được lựa chọn của tranh vẽ Raphaël là Đức Maria. Ông đã dành nhiều bức họa cho ngài mà ngày nay người ta có thể thưởng ngoạn trong nhiều viện bảo tàng trên thế giới. Hội Thánh công giáo cử hành năm nay lễ kỷ niệm 70 năm ngày tuyên bố Đức Trinh Nữ Maria Hồn Xác Lên Trời. Với sự ngước nhìn lên Đức Maria, tôi muốn gửi một suy nghĩ đặc biệt tới tất cả các phụ nữ, nhân 25 năm sau Hội Nghị Thế Giới của Liên Hiệp Quốc về Phụ Nữ lần thứ Tư, diễn ra tại Bắc Kinh vào năm 1995, cầu chúc rằng, trên toàn thế giới, vai trò quý giá của người phụ nữ trong xã hội luôn phải được công nhận và phải chấm dứt mọi hình thức bất công, bất bình đẳng và bạo lực đối với họ. « Mọi bạo lực làm trên người phụ nữ là một sự mạo phạm đến Thiên Chúa » [26]. Tiến hành bạo lực hay hành động khai thác đối với một phụ nữ không chỉ là một tội phạm, mà chính là một tội ác nhằm phá hủy sự hài hòa mà Thiên Chúa đã muốn ban xuống cho thế giới : sự hài hòa, sự thơ mộng và sắc đẹp [27].

Lễ Đức Mẹ Maria Hồn Xác Lên Trời cũng mời gọi chúng ta hãy nhìn xa hơn, sự hoàn tất con đường trân thế của chúng ta, vào ngày mà công lý và hòa bình sẽ được tái lập đầy đủ. Chúng ta cảm thấy được khích lệ, thông qua ngành ngoại giao, vốn là dự tính của con người, chưa hoàn hảo nhưng cũng vẫn quý giá, để làm việc với lòng hăng say để dự kiến những kết quả của ước muốn hòa bình này, trong lúc biết rằng mục tiêu là có thể. Với sự cam kết có, tôi xin nhắc lại với mỗi người trong Quý Vị, thưa Quý Đại Sứ thân mến và Quý Vị khách quý đang tụ họp nơi đây, và với mỗi quốc gia của Quý Vị lời chúc thân ái của tôi cho một Năm Mới đầy hy vọng và phúc lành.

Cảm Ơn !

© Librairie éditrice du Vatican

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

[1] Xem Thông điệp cho Ngày Hòa Bình Thế Giới lần tứ 53, 08/12/2019, số 1

[2] Ibid.

[3] Xem Cuộc gặp gợ vi các nhà Cầm Quyền và ngoại giao đoàn và các đại diện xã hội , Panama, 24/01/2019.

[4] Xem Tự Sắc Vos estis lux mundi, 7/5/2019.

[5] Thông Điệp nhân dịp phổ biến Thỏa Ước Giáo Dục 12/9/2019

[6] Cf. Ibid.

[7] Kinh Truyền Tin, Les Combes, 17/7/2005.

[8] Xem Tông Thư Laudato si’, 24/5/2015, s. 13.

[9] Thông điệp cho Ngày Hòa Bình Thế Giới lần tứ 53, 08/12/2019, s 4.

[10] Tài liệu kết thúc Hội Nghị Đặc Biệt của Thượng Hội Đồng Các Giám Mục cho Amazone : ‘‘Những đường mới cho Hội Thánh và cho một nền sinh thái toàn diện’’ s.2

[11] Tài liệu về tình Huynh Đệ Nhân Bản cho Hòa Bình Nhân Loại và Hòa Bình thế giới và sống chung, Ab Dabi, 04/02/2019.

[12] Ibid.

[13] Xem Ibid.

[14] Lời Kêu Gọi của Vua Mahomed VI v của Đức Giáo Hoàng Phanxicô về Giêrusalem /Al Qods Thành Thánh và nơi gặp gỡ, Rabat, 30/3/2019.

[15] Xem Ibid.

[16] Kinh Truyền Tin , 05 /01/2020.

[17] Xem Discours Bài diễn văn tại Quốc Hội Âu Châu, Strasbourg, 25/11/2014

[18] ĐGH Biển Đức XV Tông Thư Pacem, Dei munus pulcherrimum, 23/5/1920.

[19] Xem Chào mừng tại Thị Xã Thân Hữu – Akamasoa, Antananarivo, 08/9/2019.

[20] Diễn văn trớc chính quyền và đại biểu xã hội dn sự và ngoại giao đoàn , Port Louis, 09/9/2019.

[21] Xem Diễn văn về vũ khí hạt nhân, Nagasaki, 24/9/2019.

[22] Thông điệp cho Ngày Hòa Bình Thế Giới lần tứ 53, 08/12/2019, s. 2.

[23] Diễn văn trong cuộc Gặp Gỡ vì Hòa Bình, Hiroshima, 24/9/2019.

[24] Diễn văn về vũ khí hạt nhân, Nagasaki, 24/9/2019

[25] Xem ĐGHGioan XXIII, Tông thư Pacem in terris, 11/4/1963, s. 54.

[26] Bài giảng trong Thánh Lễ Đức Maria Mẹ Thiên Chúa, Ngày Hòa Bình Thế Giới lần tứ 53, 01/01/2020

[27] Xem Người phụ nữ là sự hài hòa của thế giới. Suy niệm trong Nhà Nguyện của Domus Santae Mathae, 09/02/2017.

——

https://fr.zenit.org/articles/discours-au-corps-diplomatique-la-sollicitude-du-pape-pour-le-monde/

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Diễn Văn trước ngoại giao đoàn – sự ân cần bận tâm của Đức Giáo Hoàng với thế giới