« Con đường tự do » Bài Giáo Lý về Thư gửi tín hữu Galát

Lòng khiêm nhượng, tình huynh đệ, lòng tin cậy, niềm vui mừng, sự dịu hiền, đức vâng phục, và không « cứng nhắc » (bản văn đầy đủ)

JUIN 23, 2021 15:03 ANITA BOURDINAUDIENCE GÉNÉRALEPAPE FRANÇOIS

Triều kiến chung ngày 23/6/2021

« Nhưng làm sao chúng ta có thể nhận biết những người này ? » : Đức Giáo Hoàng Phanxicô đề nghị một tiêu chuẩn để phân định giữa những người rao giảng đích thực Phúc Âm và những người mang đến sự rối loạn cho những cộng đoàn Kitô giáo, ngày hôm nay giống như ở thời điểm lá Thư của thánh Phaolô gửi tín hữu Galát.

Đức Giáo Hoàng quả đã bắt đầu chuỗi Bài Giáo Lý mới về Thư gửi tín hữu Galát, ngày thứ tư 23/6/2021, từ SânThánh Đamase của Vatican, trước sự hiện diện của hàng trăm người mà Đức Giáo Hoàng đã chào mừng hồi lâu trước lúc khai mạc buổi triều kiến, trong đó có một người hóa trang thành « Người Nhện » (Spiderman) mà Đức Giáo Hoàng đã chào mừng vào cuối Bài Giáo Lý của ngài cùng với các nhân vật hiện diện.

Để phân định khi nào một « tông đồ » mang lại sự rối loạn thay vì loan báo niềm vui của Phúc Âm, Đức Giáo Hoàng chỉ ra tiêu chuẩn của sự « cứng nhắc » : « Một trong những đặc trưng của cách thức hành động của họ là sự cứng nhắc. Trước sự rao giảng Phúc Âm vốn khiến chúng ta được tự do, vốn làm cho chúng ta vui mừng, họ lại cứng nhắc. Luôn là sự cứng nhắc : phải làm điều này, phải làm điều kia… Sự cứng nhắc là bản tính của những người đó ».

Đó là một trong những mục tiêu của các Bài Giáo Lý mới này để giúp cho những người đã chịu phép Rửa biết phân định con đường của « tự do », của « niềm vui », của « lòng khiêm nhường », của « tình huynh đệ », của sự « tin cậy », của sự « sự dịu hìền » và của đức « vâng lời ». : « Theo dõi giáo huấn của thánh Phaolô trong Thư gửi tín hữu Galát sẽ có ích cho chúng ta để hiểu được phải đi theo con đường nào. Con đường được chỉ rõ bởi thánh Tông Đồ là con đường giải thoát và luôn mới mẻ của Chúa Giêsu Chịu Đóng Đinh và Phục Sinh ; đó là con đuờng của sự loan truyền, nó được thực hiện thông qua lòng khiêm nhượng và tình huynh đệ, các giảng sư mới không hề biết thế nào là khiêm nhượng, thế nào là tình huynh đệ ; đó là con đường của sự tin cậy hiền hòa và vâng phục, các giảng sư mới không biết cả sự dịu hiền lẫn sự vâng phục ».

Sau đây là bản dịch chính thức Bài Giáo Lý được Đức Giáo Hoàng ban ra bằng tiếng Ý.

AB

1. Nhập đề Thư gửi các tín hữu Galát

Thân chào Quý Anh Chị Em !

Sau hành trình lâu dài dành cho cầu nguyện, ngày hôm nay chúng ta bắt đầu một chuỗi Bài Giáo Lý mới. Tôi hy vọng rằng với hành trình về cầu nguyện này chúng ta đã có thể cầu nguyện một cách tốt hơn đôi chút, có thể cầu nguyện nhiều hơn đôi chút. Ngày hôm nay, tôi muốn suy ngẫm về một số chủ đề mà thánh Phaolô Tông Đồ đề nghị trong Thư gửi tín hữu Galát. Đây là một thư rất quan trọng, tôi có thể nói nó mang tính quyết định, không chỉ để biết nhiều hơn về thánh tông đồ, mà hơn nữa để cân nhắc một số các luận chứng mà ngài đã đương đầu trong chiều sâu, bằng cách chỉ ra vẻ đẹp của Phúc Âm. Trong thư này, thánh Phaolô kể ra nhiều thông tin mang tính tiểu sư, giúp chúng ta biết được sự hoán cải của ngài và quyết định đặt cuộc đời ngài vào việc phục vụ Chúa Giêsu Kitô. Ngoài ra, ngài đã đương đầu với nhiều chủ đề rất quan trọng đối với đức tin, như những chủ đề về sự tự do, về ơn phúc và cách sống Kitô giáo, vốn hết sức mang tính thời đại bởi vì chúng đụng chạm tới nhiều khía cạnh của đời sống của Hội Thánh ngày nay. Đây là một thư rất thời sự. Nó dường như được viết cho thời đại chúng ta.

Điều đặc trưng thứ nhất toát ra từ Thư này là công trình truyền bá Phúc Âm vĩ đại được thể hiện bởi thánh tông đồ, ngài ít ra đã hai lần tới thăm các cộng đoàn của Galát trong các cuộc hành trình truyền giáo. Thánh Phaolô nói với các Kitô hữu của vùng đất này. Chúng ta không biết chính xác ngài nhắc đến vùng địa dư nào, và chúng ta cũng không có thể khẳng định chắc chắn ngày giờ ngài viết thư này nữa.  Chúng ta biết các tín hữu Galát là một dân tộc cổ, trải qua nhiều thăng trầm, họ đã định cư trong khu vực rộng lớn này của vùng Anatolie, thủ phủ của nó là thành phố Ancrya, ngày nay là Ankara, thủ đô của nước Thổ Nhĩ Kỳ. Thánh Phaolô chỉ kể lại rằng, vì bị một bệnh, ngài đã buộc phải dừng chân trong vùng này (x. GL 4,13). Thánh Luca, trong sách Tông Đồ Công Vụ, trái lại đã tìm được một động cơ mang tính thiêng liêng hơn. Ngài nói rằng « họ đã đi qua xứ Phrygia và đất galát, vì Chúa Thánh Thần đã ngăn cản họ rao giảng Lời Chúa tại Á Châu » (Cv 16,6).

Hai sự kiện này không mâu thuẫn nhau : thay vào đó, chúng chỉ ra rằng con đường rao truyền Phúc Âm không luôn tùy thuộc vào ý chí và dự án của chúng ta, mà đòi hỏi sự sẵn sàng để mình được uốn nắn và đi theo những hành trình khác vốn không được tiên liệu. Trong Quý Anh Chị Em, có một gia đình đã chào mừng tôi : họ nói rằng họ phải học tiếng Látvia, và tôi cũng không biết còn một ngôn ngữ khác nữa, bởi vì họ phải đi như những nhà thừa sai tới những vùng đất đó. Ngày nay cũng thế, Chúa Thánh Thần mang tới nhiều nhà truyền giáo, họ đã rời bỏ quê hương mình để đi tới một vùng đất khác để thi hành sứ vụ. Nhưng điều mà chúng ta ghi nhận là  trong công trình Phúc Âm hóa không mệt mỏi, thánh tông đồ đã thành công xây dựng nhiều cộng đoàn nhỏ, rải rác trong khắp vùng Galát.

Khi ngài đến một thành phố nào, một vùng đất nào, thánh Phaolô đã không xây ngay một nhà thờ lớn, không. Ngài đã tạo ra những cộng đoàn nhỏ vốn là chất men của nền văn hóa Kitô giáo của chúng ta ngày hôm nay. Ngài đã bắt đầu tạo dựng những cộng đoàn nhỏ. Và những cộng đoàn nhỏ này lớn lên và tiến lên phía trước. Ngày hôm nay cũng vậy, phương pháp mục vụ này vẫn được áp dụng trong mỗi vùng truyền giáo. Tôi đã nhận được một bức thư, hồi tuần rồi, của một vị thừa sai của vùng Papouasie – Tân Ghinê ; ngài nói với tôi rằng ngài rao giảng Phúc Âm trong rừng, cho những người vốn không hề biết Chúa Giêsu Kitô là ai. Thật là đẹp ! Bắt đầu tạo dựng những cộng đoàn nhỏ. Ngày hôm nay cũng vậy, phương pháp này là phương pháp rao giảng Phúc Âm của sự Phúc Âm hóa đầu tiên.

Điều mà chúng ta cần phải ghi nhận là sự lo âu mục vụ của thánh Phaolô vốn đầy lòng nhiệt huyết. Sau khi xây dựng các Giáo Hội, ngài nhận ra một mối nguy to lớn – mục tử như là người cha hay người mẹ đã nhận thấy ngay những nguy hiểm cho các con cái của các ngài – các Giáo Hội này phải trải qua để lớn lên trong đức tin. Các Giáo Hội đã lớn lên và các nguy hiểm kéo tới. Như có người đã nói : « Những con kên kên đã tới giết hại trong cộng đoàn ». Nhiều Kitô hữu đến từ Do Thái Giáo quả đã xâm nhập cộng đoàn, họ bắt đầu dùng các mánh khóe xảo quyệt để gieo rắc các lý thuyết trái với giáo huấn của thánh tông đồ, đi đến cả sự bôi nhọ con người của ngài. Họ bắt đầu bởi chủ thuyết : « Điều này thì được, điều kia thì không », và sau đó họ bôi nhọ thánh tông đồ. Đây là con đường hành động cố hữu của họ : gỡ bỏ uy quyền của thánh tông đồ. Như ta đã thấy, đó là một cách hành động cổ xưa là tự giới thiệu mình trong nhiều dịp như là những người duy nhất nắm giữ chân lý – những người trong sáng – và tìm cách hạ thấp giá trị, kể cả vu khống, thành quả đạt được bởi những người khác.

Những người chống đối thánh Phaolô chủ trương rằng dân ngoại cũng phải chịu phép cắt bì và phải sống theo những lề luật của ông Môsê. Họ quay lại phía sau, với những giới răn khi trước, những chuyện đã bị coi là lỗi thời bởi Phúc Âm. Người Galát chắc đã phải từ bỏ bản sắc văn hóa của mình để làm nô lệ cho các tiêu chí, cho các điều răn và những phong tục riêng của người Do Thái. Không chỉ thế thôi đâu. Những người chống đối cho rằng thánh Phaolô không phải là tông đồ đích thực nên không có thẩm quyền gì để rao giảng Phúc Âm. Và chúng ta thường hay thấy điều này. Chúng ta hãy nghĩ tới một số cộng đoàn hay một vài giáo phận : người ta bắt đầu với những câu chuyện và sau đó đi đến việc làm mất uy tín của cha sở hay Đức Giám Mục. Đó chính là con đường của ma quỷ, của những kẻ chia rẽ, những kẻ không biết xây dựng. Và trong Thư gửi tín hữu Galát này, chúng ta thấy cách làm đó.

Các tín hữu Galát đã ở trong tình trạng khủng hoảng. Họ phải làm gì đây ? Nghe và làm theo những điều thánh Phaolô đã giảng dạy cho họ, hay là nghe các giảng sư mới đang tố cáo ngài ? Thật không khó gì để hình dung tình trạng hoang mang trong lòng mọi người. Đối với họ, đã được biết Chúa Giêsu và tin vào công trình cứu độ được thực hiện với cái chết và sự sống lại của Người, đích thực là sự bắt đầu của một đời sống mới, của một đời sống tự do. Họ đã đi vào một hành trình giúp cho họ cuối cùng cũng được tự do, trong lúc mà lịch sử của họ đã được dệt nên bằng nhiều hình thức nô lệ tàn bạo, đặc biệt là ách nô lệ thần phục hoàng đế Rôma. Bởi vậy, trước những chỉ trích của các giảng sư mới, họ cảm thấy lạc lõng và cảm thấy không chắc chắn về cách ứng xử : « Nhưng ai là người có lý ? Thánh Phaolô hay những người mới đến bây giờ và dạy những điều khác ? Tôi phải nghe ai bây giờ ? Tóm lại, cuộc đặt cược này thật là quan trọng !

Điều kiện này không khác mấy với kinh nghiệm mà nhiều Kitô hữu thời đại chúng ta phải sống. Quả vậy, ngày hôm nay cũng vậy, không thiếu những giảng sư, đặc biệt qua những phương tiện truyền thông tân tiến, có thể làm rối loạn các cộng đoàn. Trước hết, họ không xuất hiện để loan báo Phúc Âm của Thiên Chúa yêu thương loài người trong Chúa Giêsu bị đóng đinh và sống lại, nhưng để khẳng định với sự nhấn mạnh, như những ‘‘người canh giữ chân lý’’ – chính là sự tự nhận của họ -, đâu là cách tốt nhất làm người Kitô hữu. Và họ mạnh mẽ khẳng định rằng Kitô giáo đích thực và Kitô giáo mà họ gắn liền, thường hay được nhận định với một số những hình thức của quá khứ, và giải pháp cho những khủng hoảng hiện thời là trở lại phía sau để không mất đi tính xác thực của đức tin. Ngày hôm nay cũng thế, như lúc trước, có cám dỗ khép mình lại trên một số những điều chắc chắn có được trong những truyền thống quá khứ.

Nhưng làm thế nào để chúng ta có thể nhận biết những người đó ? Thí dụ, Một trong những đặc trưng của cách thức hành động của họ sự cứng nhắc. Trước sự rao giảng Phúc Âm vốn khiến chúng ta được tự do, vốn làm cho chúng ta vui mừng, họ lại cứng nhắc. Luôn là sự cứng nhắc : phải làm điều này, phải làm điều kia… Sự cứng nhắc là bản tính của những người đó. Theo dõi giáo huấn của thánh Phaolô trong Thư gửi tín hữu Galát sẽ có ích cho chúng ta để hiểu được phải đi theo con đường nào. Con đường được chỉ rõ bởi thánh Tông Đồ là con đường giải thoát và luôn mới mẻ của Chúa Giêsu Chịu Đóng Đinh và Phục Sinh ; đó là con đuờng của sự loan truyền, nó được thực hiện thông qua lòng khiêm nhượng và tình huynh đệ, các giảng sư mới không hề biết thế nào là khiêm nhượng, thế nào là tình huynh đệ ; đó là con đường của sự tin cậy hiền hòa và vâng phục, các giảng sư mới không biết cả sự dịu hiền lẫn sự vâng phục. Và con đường dịu hiền và vâng phục này tiến tới trong sự chắc chắn rằng Chúa Thánh Thần tác động trong mọi thời đại của Hội Thánh. Sau cùng, đức tin vào Chúa Thánh Thần hiện diện trong Hội Thánh, làm cho chúng ta tiến tới và sẽ cứu độ chúng ta.

© Dicastère pour la communication – Librairie éditrice vaticane

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

“La voie de la liberté”: catéchèse sur l’Epître aux Galates (texte complet) – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở « Con đường tự do » Bài Giáo Lý về Thư gửi tín hữu Galát

Lễ Thánh Phêrô và Phaolô – Đức Giáo Hoàng Phanxicô làm phép các dây pallium

Những dây này sẽ được ban cho các tổng giám mục tại giáo phận của các ngài

JUIN 21, 2021 23:05 ANITA BOURDINPAPE FRANÇOIS

Dây Pallium

Đức Giáo Hoàng Phanxicô sẽ làm phép các dây Pallium, để ban cho các vị tổng giám mục của Hội Thánh công giáo được bổ nhiệm trong năm nay, và ngài sẽ chủ sự Thánh Lễ, ngày 29/6/2021, trong ngày lễ trọng kính các thánh Phêrô và Phaolô tông đồ, bổn mạng của Hội Thánh Rôma

Theo truyền thống, những dây Pallium này được dệt tại Rôma bởi các nữ tu dòng Biển Đức và được đặt gần mộ thánh Phêrô trước khi được làm phép.

Cuộc cử hành sẽ diễn ra vào lúc 09giờ30, trong Đền Thánh Phêrô, trên bàn thờ Tuyên Xưng Đức Tin, với sự tham dự giới hạn của tín hữu, vì sự hạn chế y tế.

Dây pallium làm bằng tấm dạ nỉ trắng, được thêu các thánh giá bằng lụa đen, được trao ban cho các tổng giám mục thuộc Hội Thánh Rôma và được đeo trên áo lễ như một dấu chỉ sự hiệp thông với người kế vị thánh Phêrô.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô « không còn bắt buộc » ban dây pallium trong lễ cử hành tại Rôma, nhưng ngài làm phép và sẽ được « trao ban » cho các tân tổng giám mục trong Giáo Hội địa phương bởi Đức Khâm Sứ Tòa Thánh, ngoại trừ trường hợp đặc biệt.

Thí dụ, Đức Giáo Hoàng đã trao ban dây Pallium cho đức Thượng Phụ Pierbattista Pizzaballa, ngày 28/10/2020, trong nhà nguyện Chúa Thánh Thần của Nhà Thánh Martha, tại Vatican.

Dây Pallium nhắc nhở nhiệm vụ của người mục tử là chăm lo cho Dân của Thiên Chúa : đó là ý nghĩa của len nỉ của con chiên và lụa đen ở đầu dây Pallium nhắc nhở chân của con chiên.

ĐGH Biển Đức XVI đã giải thích biểu tượng dây Pallium nhân Thánh Lễ đăng cơ của ngài ngày 24/4/2005 : « Dấu chỉ thứ nhất chính là dây Pallium, tấm vải bằng len trinh trắng, đã được đặt trên hai vai của tôi. Dấu chỉ rất cổ xưa, mà các vị giám mục của Rôma mang trên mình từ cuối thế kỷ thứ Tư, có thể được coi như hình ảnh cái ách của Chúa Kitô, mà giám mục của thành phố này, người Tôi Tớ của các Tôi Tớ của Thiên Chúa, mang lấy trên vai. Ách của Thiên Chúa là thánh ý của Thiên Chúa, mà chúng ta đón nhận. Và thánh ý này đối với tôi, không phải là gánh nặng nội tâm đè nén chúng tôi và lấy đi sự tự do của chúng tôi. Biết được Thiên Chúa muốn điều gì, biết được đâu là con đường đời – đó là niềm vui của dân Israel, đó là đặc ân to lớn của họ.  Đó cũng là niềm vui của chúng ta, thánh ý của Thiên Chúa không nô lệ hóa chúng ta, mà thanh tẩy chúng ta – đôi khi bằng một cách đau đớn – và dẫn đưa chúng ta về với bản thân chúng ta. Bằng cách này, chúng ta không chỉ phụng sự chính Người, mà chúng ta cũng phục vụ ơn cứu độ của tất cả mọi người, tất cả lịch sử »

Quả vậy, chuyện xưa nhất của việc truyền ban dây Pallium bởi Đức Giáo Hoàng cho một giám mục là chuyện trao dây Pallium cho thánh Césaire thành Arles (470-542) bởi Đức Giáo Hoàng Symmaque.

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Saint-Pierre et Saint-Paul : bénédiction des pallia par le pape François – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Lễ Thánh Phêrô và Phaolô – Đức Giáo Hoàng Phanxicô làm phép các dây pallium

Kinh Truyền Tin – Thay vì sửa chữa các vấn đề « hãy quấy rầy Thiên Chúa »

Kêu lên cùng Người (Bản dịch toàn văn)

JUIN 20, 2021 13:07 ANNE KURIAN-MONTABONEANGÉLUSPAPE FRANÇOIS

Kinh Truyền Tin ngày 20/6/2021

« Biết bao lần chúng ta cứ mải mê sửa chữa những vấn đề thay vì đi tới với Chúa và phó thác cho Người những lo âu của chúng ta ! » Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã lấy làm tiếc trong giờ Kinh Truyền Tin ngày chúa nhật này 20/6/2021, ngài cũng khuyến khích hãy « quấy rầy Thiên Chúa »

« Đức tin bắt đầu bằng sự kiện tin rằng chúng ta không tự đủ cho mình, bằng sự kiện cảm thấy rằng chúng ta cần Thiên Chúa », ngài khẳng định bằng cách suy niệm về bài Phúc Âm cơn bão bị dẹp tan : « Khi chúng ta kêu lên cùng Người, Người có thể làm cho chúng ta những điều tuyệt vời. Đó là sức mạnh khiêm nhường và phi thường của cầu nguyện, đã làm các phép lạ ».

Sau đây là bản dịch những lời của Đức Giáo Hoàng trước kinh kính Đức Mẹ Maria, do ngài chủ sự từ cửa sổ của dinh tông tòa trông xuống Quảng Trường Thánh Phêrô tại Vatican.

Lời của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Thân chào Quý Anh Chị Em !

Bài Phúc Âm ngày hôm nay kể lại chuyện trận bão bị  Chúa Giêsu dẹp tan (Mc 4,35-41). Con thuyền trên đó các môn đệ đang vượt hồ đã bị tấn công bởi sóng to gió lớn. Các ông sợ đắm thuyền, với tất cả những ước mơ và những dự án cuộc đời của mình. Chúa Giêsu cũng ở trên thuyền cùng với các ông, nhưng người ở phía sau thuyền, dựa đầu vào chiếc gối mà ngủ. Các môn đệ trên thuyền sợ hãi, kêu cứu với Người : « Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi ; Thầy chẳng lo gì sao ? » (c. 38).

Ai biết được bao nhiêu lần chúng ta cũng vậy, bị tấn công bởi những thử thách của cuộc đời, chúng ta đã kêu lên Chúa : ‘‘Tại sao Người lại im lặng và không làm gì cho con sao ?’’. Nhất là khi chúng ta có cảm tưởng đang chìm thuyền, bởi vì tình yêu hay là dự án trong đó chúng ta đã đặt những hy vọng lớn lao sẽ sụp đổ ; hoặc khi chúng ta đang bị phó mặc cho giông bão nặng nề của sự lo âu : hay khi chúng ta cảm thấy bị chìm đắm trong những vấn đề và thất lạc ở giữa biển cả của cuộc đời, không thấy bờ không thấy bến. Hay nữa, trong những lúc mà chúng ta có ít sức mạnh hơn để tiến tới, bởi vì chúng ta không có việc làm hay một chẩn đoán bất ngờ làm cho chúng ta run sợ vì sức khỏe của chúng ta hay vì sức khỏe của một người thân. Có nhiều lúc, trong đó chúng ta cảm thấy trong giông bão, chúng ta cảm thấy gần như chấm dứt.

Trong những hoàn cảnh này và trong nhiều hoàn cảnh khác nữa, chúng ta cũng cảm thấy bị nghẹt thở bởi sự sợ hãi, và như các môn đệ, chúng ta có nguy cơ không thấy được điều quan trọng nhất. Trên con thuyền, quả là có Chúa Giêsu ở đó, dù rằng Người ngủ, và Người chia sẻ với những người của Người tất cả những gì đang diễn ra. Nếu một mặt giấc ngủ của Người làm chúng ta ngạc nhiên, mặt kia nó đặt chúng ta vào thử thách. Chúa ở đó, hiện diện ; quả vậy, Người chờ đợi – có thể nói như thế – rằng chính chúng ta ôm lấy Người, khẩn cầu khẩn Người, đặt Người vào giữa những gì chúng ta đang sống. Giấc ngủ của Người thúc đẩy chúng ta hãy tỉnh thức. Bởi vì, để làm môn đệ của Chúa Giêsu, tin rằng Thiên Chúa đang hiện diện ở đó, rằng Người có thật, vẫn là chưa đủ, nhưng phải nhập cuộc với Người, cũng phải lên tiếng với Người, kêu than lên với Người. Cầu nguyện, quá nhiều khi, là một tiếng kêu : ‘‘Lậy Chúa, xin cứu con !’’. Tôi theo dõi chương trình ‘‘A sua immagine’’, hôm nay, Ngày Người Tỵ Nạn… tất cả những người đã đến trên những con thuyền và họ kêu cứu vào lúc thuyền bị đắm : ‘‘Xin cứu chúng tôi !’’. Trong cuộc đời chúng ta đã xẩy ra điều tương tự : ‘‘Lậy Chúa, xin hãy cứu con !’’, và cầu nguyện trở thành tiếng kêu.

Ngày hôm nay, chúng ta có thể tự hỏi : những ngọn gió nào đã đổ ập xuống cuộc đời của tôi, những cơn sóng nào đã ngăn cản cuộc hải hành của tôi và gây nguy hiểm cho cuộc sống thiêng liêng của tôi, cho cuộc đời gia đình của tôi, thậm chí cho cả cuộc sống tâm lý của tôi ? Chúng ta hãy thưa tất cả điều này với Chúa Giêsu, hãy kể lại với Người tất cả. Người mong muốn như vậy, Người muốn chúng ta đeo sát bên Người để tìm một chỗ trú trước những cơn thủy triều của cuộc đời. Phúc Âm kể rằng các môn đệ đến gần Chúa Giêsu và đánh thức Người và thưa với Người (x. c.38). Đó là sự khởi thủy đức tin chúng ta ; công nhận rằng một mình, chúng ta không có khả năng chống lại sóng gió trên biển, rằng chúng ta cần Chúa Giêsu như các thủy thủ cần những ngôi sao trên trời để tìm được hướng đi. Đức tin bắt đầu bởi sự kiện là tin rằng chúng ta không tự đủ cho chính chúng ta được, bởi sự kiện là cảm thấy rằng chúng ta cần Thiên Chúa. Khi chúng ta thắng cơn cám dỗ khép mình lại, khi chúng ta vượt ra cái sốt sắng giả tạo vốn không quấy rầy Thiên Chúa, khi chúng ta kêu lên cùng Chúa. Người có thể làm nơi chúng ta những sự tuyệt vời. Chính sức mạnh khiêm nhường và phi thường của cầu nguyện, làm ra những phép lạ.

Chúa Giêsu được các môn đệ cầu xin, đã làm cho gió yên biển lặng. Và Người đặt một câu hỏi có liên quan đến cả chúng ta nữa : « Sao nhát thế ? Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin ? » (c.40). Các môn đệ đã để lòng mình bị xâm chiếm bởi nỗi sợ hãi, bởi vì các ông chỉ lo đối phó với sóng to gió lớn thay vì nhìn lên Chúa Giêsu. Và sự sợ hãi đưa chúng ta đến sự chỉ nhìn thấy những khó khăn, những vấn đề xấu, thay vì trông lên Chúa, Người thường hay ngủ. Đối với chúng ta cũng xẩy ra như thế : biết bao lần, chúng ta chỉ lo sửa chữa những vấn đề thay vì đi tới với Chúa trong một góc nhà, tới trong khoang thuyền của cuộc đời, để chỉ đánh thức Người vào cái lúc chúng ta cần Người ! Ngày hôm nay, chúng ta hãy cầu xin ân sủng của một đức tin không hề mệt mỏi đi tìm Chúa, để gõ cửa Trái Tim của Người !

Cầu xin Đức Trinh Nữ Maria, vốn trong cuộc đời Mẹ, Mẹ đã không bao giờ ngừng trông cậy vào Thiên Chúa, làm sống dậy trong chúng ta nhu cầu sống còn là ký thác chúng ta mỗi ngày cho Người.

© Traduction de Zenit, Anne Kurian-Montabone

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Angélus : au lieu de fixer les problèmes ? “Déranger Dieu” – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Kinh Truyền Tin – Thay vì sửa chữa các vấn đề « hãy quấy rầy Thiên Chúa »

Bài Giáo Lý – sự cứu độ của Chúa Giêsu không là « giai đoạn » mà là « toàn diện »

Kết thúc chuỗi Bài Giáo Lý về cầu nguyện (Toàn văn)

JUIN 16, 2021 16:25 ANNE KURIAN-MONTABONEAUDIENCE GÉNÉRALEPAPE FRANÇOIS

Triều kiến chung ngày 16 tháng 6 năm 2021

Sự cứu độ của Chúa Giêsu không phải là « một sự cứu độ giai đoạn – sự cứu độ cứu tôi khỏi một căn bệnh hay một khoảnh khắc nản lòng – nhưng là sự cứu độ toàn diện, cứu độ mang tính thiên sai, cứu độ làm cho hy vọng vào cuộc chiến thắng vĩnh cửu của sự sống trên sự chết », Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã khẳng định trong buổi triều kiến chung ngày 16/6/2021.

Đức Giáo Hoàng đã kết thúc chuỗi Bài Giáo Lý của ngài về cầu nguyện, bằng cách suy niệm về lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trên cây Thánh Giá, nơi Người là « Đấng cầu bầu tuyệt đối » : « Người cầu nguyện cho những người khác, Người cầu nguyện cho tất cả mọi người, kể cả cho những kẻ đã kết án Người, trong lúc không có ai, ngoại trừ một tên tội nhân đáng thương, đứng về phía Người », ngài nhấn mạnh.

Sau đây là bản dịch chính thức do Tòa Thánh đề nghị.

Bài Giáo Lý – 38. Lời cầu nguyện tư tế của Chúa Giêsu

Thân chào Quý Anh Chị Em !

Chúng ta đã nhiều lần nhắc lại trong loạt Bài Giáo Lý này rằng cầu nguyện là một trong những đặc tính hiển nhiên nhất của cuộc đời Chúa Giêsu : Chúa Giêsu đã cầu nguyện, và Người đã cầu nguyện rất nhiều. Suốt trong sứ vụ của Người, Chúa Giêsu đã đắm chìm vào sự cầu nguyện, bởi vì cuộc đối thoại với Chúa Cha là hạt nhân cháy đỏ của toàn bộ cuộc sống của Người.

Các sách Phúc Âm chứng minh rằng sự cầu nguyện của Chúa Giêsu còn trở nên mãnh liệt và cô đọng hơn vào giờ phút Người chịu khổ hình và chịu chết. Những biến cố đỉnh cao trong cuộc đời của Người là hạt nhân trung tâm của sự truyền giảng Kitô giáo : những giờ phút cuối cùng này được Chúa Giêsu sống ở Giêrusalem là trung tâm của Phúc Âm không những bởi vì các thánh sử gia dành cho sự tường thuật này, một cách tương xứng, một chỗ lớn hơn, nhưng cũng bởi vì biến cố của sự chết và sống lại – như một lằn chớp – phóng ánh sáng vào tất cả những gì còn lại trong lịch sử cuộc đời Chúa Giêsu. Người không phải chỉ là một Đấng thương người săn sóc những đau khổ của con người : Người còn hơn thế nữa. Nơi Người không chỉ có lòng nhân từ : còn có cái gì hơn nữa, có sự cứu độ, và không phải sự cứu độ giai đoạn – sự cứu độ cứu tôi khỏi căn bệnh hay khỏi một lúc nản lòng – nhưng là sự cứu độ toàn diện, sự cứu độ mang tính thiên sai, sự cứu độ làm cho ta hy vọng vào sự chiến thắng vĩnh viễn của sự sống trên sự chết.

Trong những ngày lễ Vượt Qua cuối cùng của Người, chúng ta thấy Chúa Giêsu đắm mình một cách hoàn toàn trong cầu nguyện.

Người cầu nguyện một cách thảm thương trong Vườn Gietsêmani – chúng ta đã nghe Người – bị tấn công bởi một sự lo sợ chết chóc. Tuy nhiên, chính vào lúc đó, Chúa Giêsu đã thưa với Thiên Chúa bằng cách gọi Người là ‘‘Abba’’, tức là Cha (x. Mc 14,36). Từ aramêni này – vốn là tiếng mẹ đẻ của Chúa Giêsu – bầy tỏ tình thân mật, bầy tỏ lòng tin cậy. Chính xác trong lúc Người cảm thấy bóng tối đang gia tăng chung quanh Người, Chúa Giêsu đã vượt qua với câu nói gọn nhẹ ; Abba, Cha.

Chúa Giêsu cũng cầu nguyện trên cây Thánh Giá, Người bị bao phủ bởi một bức màn u tối vì sự im lặng của Thiên Chúa. Tuy thế, trên môi Người vẫn xuất hiện một lần từ ngữ ‘‘Cha’’. Đó là lời cầu nguyện táo bạo nhất, bởi vì trên Thánh Giá, Chúa Giêsu là Đấng chuyển cầu tuyệt đối : Người cầu nguyện cho những người khác, Người cầu nguyện cho tất cả mọi người, kể cả những người đã kết án Người, không có kẻ nào, ngoại trừ một tên tội nhân đáng thương, đứng về phía Người. Tất cả mọi người đều chống lại Người hay dửng dưng, chỉ có tên phạm nhân nhận biết quyền năng của Người. « Lậy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm » (Lc 23,34). Ngay giữa thảm kịch, trong nỗi đau tột cùng của linh hồn và thể xác, Chúa Giêsu cầu nguyện với những lời của thánh vịnh ; với những người nghèo trên thế gian, đặc biệt là những người đã bị người đời quên lãng, Người phán những lời bi thảm của thánh vịnh 22 : « Lậy Chúa con thờ, muôn lậy Chúa, Ngài nỡ ruồng bỏ con sao ? » (Tv 22,2). Người cảm thấy bị bỏ rơi và Người cầu nguyện. Trên Thánh Giá ơn phúc của Chúa Cha đã được hoàn tất, Người ban cho tình yêu, nghĩa là ơn cứu độ của chúng ta đã được thực hiện. Và một lần nữa, Người gọi Chúa Cha là « Thiên Chúa của con », « Lậy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha » : nghĩa là tất cả, tất cả đều là kinh nguyện trong suốt ba giờ trên Thánh Giá. 

Như thế, Chúa Giêsu cầu nguyện trong những giờ phút quyết định của cuộc khổ nạn và của sự chết. Và với sự sống lại, Chúa Cha sẽ nhậm lời cầu nguyện. Sự cầu nguyện của Chúa Giêsu là mãnh liệt, lời cầu nguyện của Chúa Giêsu là độc nhất và cũng trở nên gương mẫu cho việc cầu nguyện của chúng ta. Chúa Giêsu đã cầu nguyện cho tất cả mọi người, Người cũng đã cầu nguyện cho tôi, cho mỗi người trong anh chị em. Mỗi người trong chúng ta có thể nói : « Trên cây Thánh Giá, Chúa Giêsu đã cầu nguyện cho tôi ». Người đã cầu nguyện. Chúa Giêsu có thể phán với mỗi người chúng ta : ‘‘Thầy đã cầu nguyện cho con, trong Bữa Tiệc Ly và trên thanh gỗ Thánh Giá’’. Dù là trong những đau khổ đau đớn nhất của chúng ta, chúng ta không bao giờ cô đơn một mình. Sự cầu nguyện của Chúa Giêsu ở với chúng ta. « Và bây giờ, thưa Cha, ngay ở đây, trong lúc chúng ta lắng nghe những điều này, Chúa Giêsu cầu nguyện cho chúng ta phải không ? » Phải, Người tiếp tục cầu nguyện để lời của Người phù giúp chúng ta đi tới. Nhưng chúng ta phải cầu nguyện và nhớ rằng Người cầu nguyện cho chúng ta.

Và điều này đối với tôi là điều đẹp nhất để nhớ lại. Đây là Bài Giáo Lý sau cùng của chuỗi Bài Giáo Lý về cầu nguyện : nhớ lại ơn phúc là không chỉ chúng ta cầu nguyện, mà có thể nói, chúng ta đã được « cầu xin », chúng ta đã được đón nhận vào cuộc đối thoại của Chúa Giêsu và Đức Chúa Cha, trong sự hiệp thông của Chúa Thánh Thần. Chúa Giêsu cầu nguyện cho tôi : mỗi người trong chúng ta đều có thể đặt điều đó vào trong lòng : đừng quên. Dù rằng trong những lúc khó khăn nhất. Chúng ta đã được đón nhận vào cuộc đối thoại của Chúa Giêsu và Đức Chúa Cha, trong sự hiệp thông với Chúa Thánh Thần. Chúng ta đã được mong muốn trong Chúa Kitô Giêsu, và cũng vào thời khắc khổ nạn, thời khắc của sự chết và sống lại, tất cả đã được ban tặng cho chúng ta. Và lúc đó, với sự cầu nguyện và với sự sống, chúng ta chỉ cần có lòng can đảm, niềm hy vọng và với lòng can đảm đó và niềm hy vọng đó, nghe rõ lời cầu nguyện của Chúa Giêsu và tiến tới : mong rằng cuộc sống của chúng ta vinh danh Thiên Chúa trong ý thức rằng Người cầu Đức Chúa Cha cho tôi, rằng Chúa Giêsu cầu nguyện cho tôi.

© Librairie éditrice du Vatican

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Catéchèse : le salut de Jésus n’est pas “épisodique” mais “total” – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài Giáo Lý – sự cứu độ của Chúa Giêsu không là « giai đoạn » mà là « toàn diện »

Bài Giáo Lý bằng tiếng Pháp « kinh nguyện táo bạo nhất »

« Cho dù là sự đau khổ đau đớn nhất »

JUIN 16, 2021 10:17 RÉDACTIONAUDIENCE GÉNÉRALEPAPE FRANÇOIS

Triều kiến chung ngày 16/6/2021

« Cho dù trong đau khổ đau đớn nhất, chúng ta không cô độc một mình », Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã khẳng định trong buổi triều kiến chung sáng ngày thứ tư, 16/6/2021.

Trong Bài Giáo Lý của ngài, ngài đã suy niệm về « lời cầu nguyện táo bạo nhất » : « lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trên cây Thánh Giá »

Tổng hợp Bài Giáo Lý bằng tiếng Pháp

Quý Anh Chị Em thân mến,

Cầu nguyện là một trong những đặc tính hiển nhiên nhất của cuộc đời Chúa Giêsu. Trong sứ vụ của Người, sự đối thoại với Chúa Cha là trung tâm sáng láng của suốt cuộc đời Người. Trong các sách Phúc Âm, sự cầu nguyện của Chúa Giêsu trở nên mãnh liệt hơn hết vào giờ khắc Người chịu khổ hình và lúc Người chết trên cây Thánh Giá, trung tâm của sự truyền giảng Kitô giáo. Nơi Chúa Giêsu, có sự cứu độ toàn diện và mang tính Thiên Sai, làm cho chúng ta hy vọng vào sự chiến thắng vĩnh cửu của sự sống đối với sự chết.

Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trên cây Thánh Giá là lời cầu nguyện táo bạo nhất, bởi vì đó là nơi Người là Đấng chuyển cầu tuyệt đối. Trên Thánh Giá thể hiện ơn phúc của Chúa Cha, Người ban tình yêu vô biên của Con của Người như là giá cứu chuộc chúng ta. Lời cầu nguyện tư tế của Chúa Giêsu làm cho chúng ta đi vào mầu nhiệm của sự cầu nguyện của Người, bởi vì nó ôm trọn toàn bộ Kinh Tế của công trình tạo dựng và của sự cứu độ. Trong lời cầu nguyện này, ánh mắt của Chúa Giêsu không chỉ nhìn vào các môn đệ của Người, mà vào tất cả chúng ta. Dù rằng trong sự đau khổ đau đớn nhất, chúng ta cũng không đơn côi một mình.

Để kết luận chuỗi Bài Giáo Lý dành cho chủ để cầu nguyện này, thật là có ích để nhớ lại rằng chúng ta có ơn phúc không chỉ là cầu nguyện, mà còn là được đón nhận trong sự đối thoại của Chúa Giêsu với Chúa Cha, trong sự hiệp thông của Chúa Thánh Thần. Như thế, với sự cầu nguyện và cuộc đời của chúng ta, chúng ta có thể thưa lên rằng : Sáng danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần, như đã có trước vô cùng, và bây giờ và hằng có, và đời đời chẳng cùng. Amen.

© Librairie éditrice du Vatican

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Catéchèse en français : “la prière la plus audacieuse” – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài Giáo Lý bằng tiếng Pháp « kinh nguyện táo bạo nhất »

Xây dựng lại thế giới sau đại dịch – nhìn nhận và sửa chữa những sai lầm trong quá khứ

Thông điệp gửi Hội Thảo GLOBSEC tại Bratislava

JUIN 15, 2021 16:31 HÉLÈNE GINABATPAPE FRANÇOIS

Hội Thảo GLOBSEC Bratislava

Để tái xây dựng thế giới sau đại dịch, phải thừa nhận những sai lầm của quá khứ, những « thiếu sót về hệ thống » và sự « thiếu trách nhiệm » đã góp phần làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng, để « sửa chữa những gì đã không ổn từ trước rồi ».

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã gửi một thông điệp video cho các tham dự viên của lần hội thảo GLOBSEC thứ 16 mệnh danh là « Cải thiện tiến trình tái thiết thế giới », được tổ chức tại Bratislava từ ngày 15 đến ngày 17/6/2021. Ngài đã đề nghị một sự nghiên cứu chung quanh ba động từ : nhìn xem, phán đoán và hành động.

Đức Giáo Hoàng đã tố cáo « cảm giác an toàn ảo tưởng xây dựng trên sự thèm khát lợi nhuận », một « mô thức đời sống kinh tế và xã hội, đặc trưng bởi nhiều bất công và ích kỷ » và một « kiểu mẫu sống không chăm sóc đủ cho môi trường »

Ngài đã mời gọi « biến đổi thời gian thử thách thành một thời gian chọn lựa », « thiện hay ác », và « hãy thiết lập một công trình hoán cải » dựa trên những « quyết định hoán đổi sự chết thành sự sống, biến đổi vũ khí thành thực phẩm ». 

Sau đây là bản dịch thông điệp video của Đức Giáo Hoàng.

Thông điệp video của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Thưa ông Chủ Tịch, tôi cảm ơn vì lời mời đáng mến của ông để tham dự, thông qua thông điệp video này, Cuộc Hội Thảo GLOBSEC Bratislava lần thứ 16, được dành cho chủ đề : « Cải thiện tiến trình tái thiết thế giới ».

Tôi xin gửi tới ông cũng như tất cả ban tổ chức và các tham dự viên cuộc hội thảo này, lời chào mừng của tôi. Tôi muốn biểu lộ lòng biết ơn vì cương lĩnh mà Hội Thảo Bratislava đã cống hiến cho cuộc hội thảo quan trọng này về sự tái thiết thế giới của chúng ta sau khi trải nghiệm trận đại dịch, nó bắt chúng ta phải đương đầu vì một loạt những vấn đề xã hội-kinh tế, sinh thái và chính trị  trầm trọng vốn dĩ đều liên hệ mật thiết với nhau.

Về vấn đề này, tôi muốn đề nghị cùng Quý Vị một số những điểm suy ngẫm được gợi hứng cho tôi từ phương pháp của tam thức : nhìn xem, phán đoán và hành động.

Nhìn Xem

Theo tôi, một sự phân tích nghiêm chỉnh và lương thiện về quá khứ, nó có thể thừa nhận những thiếu sót mang tính hệ thống, những sai lầm mắc phải và sự thiếu trách nhiệm đối với Tạo Hóa, với người thân cận và đối với công trình tạo dựng, dường như cần thiết để phát triển một ý kiến phục hồi không những nhằm xây dựng lại những gì đã hiện hữu, mà còn sửa chữa những gì đã không chạy từ trước khi dịch coronavirus xẩy ra và đã góp phần vào việc làm trầm trọng hơn cuộc khủng hoảng. Những người muốn đứng dậy sau khi bị ngã xuống phải đối mặt với những hoàn cảnh của sự sụp đổ của chính mình và thừa nhận những yếu tố trách nhiệm của mình. Như thế, tôi nhìn thấy một thế giới đã bị lừa mị bởi một cảm giác an toàn ảo tưởng được xây dựng trên sự thèm khát lợi nhuận.

Tôi thấy một mô hình đời sống kinh tế và xã hội, đặc trưng bởi nhiều sự bất công và ích kỷ, nơi đó một thiểu số nhỏ của dân chúng thế giới sở hữu đa số của cải, thường không ngần ngại khai thác những người khác và các tài nguyên.

Tôi thấy một mô hình đời sống không chăm sóc đầy đủ cho môi trường. Chúng ta quen tiêu thụ và không ngừng phá hoại những gì thuộc về mọi người và phải được duy trì với sự tôn trọng, tạo ra một « món nợ sinh thái » đang đè nặng trước hết lên những người nghèo và những thế hệ tương lai.

Phán Đoán

Bước thứ nhì là đánh giá những gì chúng ta đã nhìn thấy. Trong bài chào mừng các cộng sự viên của tôi trong Giáo Triều La Mã nhân dịp Lễ Giáng Sinh vừa qua, tôi đã đề nghị một sự suy niệm về ý nghĩa của khủng hoảng. Cuộc khủng hoảng mở ra những khả năng mới : đó quả là một sự thử thách mở ra để đối đầu với tình hình hiện tại, để biến thời gian thử thách thành thời gian chọn lựa. Quả vậy, một cuộc khủng hoảng bắt buộc phải lựa chọn, cho điều thiện hay điều ác. Như tôi đã nhắc lại, người ta không giống như cũ khi ra khỏi một cuộc khủng hoảng : hoặc là người ta ra khỏi tốt lành hơn, hay là tệ hại hơn. Nhưng không bao giờ giống như trước.

Phán Đoán những gì chúng ta đã nhìn thấy và đã sống thúc đẩy cải thiện. Chúng ta lợi dụng thời gian này để bước đi tới. Cuộc khủng hoảng đã đánh xuống tất cả mọi người và nhắc với chúng ta rằng không ai có thể tự cứu một mình được. Cuộc khủng hoảng mở ra cho chúng ta đến một tương lai công nhận sự bình đẳng đích thực của tất cả mọi người : không phải một sự bình đẳng trừu tượng, nhưng cụ thể, nó cống hiến cho con người và cho các dân tộc những cơ hội công minh và thực tế của sự phát triển.

Hành Động

Người không hành động lãng phí những cơ hội do khủng hoảng đưa tới. Hành động, trước những bất công xã hội và những thải loại, đòi hỏi một mô hình phát triển đặt vào giữa « tất cả những con người và toàn bộ con người », « với tư cách là trụ cột cơ bản cần phải tôn trọng và bảo vệ, bằng cách áp dụng một phương pháp luận bao gồm đạo đức của sự liên đới và ‘‘lòng bác ái chính trị’’ » (Thông điệp gửi bà giám đốc UNESCO, Audrey Azoulay, ngày 24/3/2021).

Mọi hành động cần một nhãn quan, một nhãn quan toàn diện và hy vọng : một nhãn quan như nhãn quan của ngôn sứ Thánh Kinh Iasaia, người đã thấy những gươm đao biến thành cuốc thành cầy và giáo mác nên liềm nên hái (x. Is 2,4). Hành động cho sự phát triển của tất cả mọi người là thiết lập một công trình hoán cải. Và trước hết, những quyết định đã hoán cải sự chết thành sự sống, khí giới thành thực phẩm.

Nhưng tất cả chúng ta cũng đều có nhu cầu thực hiện một sự hoán đổi sinh thái. Cái nhìn tổng thể thực sự bao gồm viễn cảnh của một thiên nhiên được hiểu như là « ngôi nhà chung » và đòi hỏi rằng người ta hành động khẩn cấp để bảo vệ nó.

Quý bạn thân mến, được tác động bởi hy vọng đến từ Thiên Chúa, tôi hy vọng rằng những trao đổi của Quý Vị  trong những ngày này sẽ đóng góp vào một mô hình phục hồi có khả năng sinh ra những giải pháp bao gồm và lâu bền hơn ; một mô hình phát triển được xây dựng trên sự chung sống hòa bình của các dân tộc và trên sự hài hòa với công trình tạo dựng. Xin chúc làm việc tốt đẹp và cảm ơn !

© Traduction de Zenit, Hélène Ginabat

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Reconstruire le monde après la pandémie: reconnaître et corriger les erreurs du passé – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Xây dựng lại thế giới sau đại dịch – nhìn nhận và sửa chữa những sai lầm trong quá khứ

Kinh Truyền Tin « Nhìn xem sự cao cả của Thiên Chúa tác động trong những chuyện bé mọn »

Và « thắng cám dỗ nản lòng » (bản dịch đầy đủ)

JUIN 13, 2021 17:28 ANITA BOURDINANGÉLUSPAPE FRANÇOIS

Kinh Truyền Tin ngày 13 tháng 6 năm 2021

Học tập từ Đức Mẹ Maria « nhìn xem sự cao cả của Thiên Chúa, Đấng tác động trong những chuyện bé mọn và chiến thắng cám dỗ nản lòng » : đó là lời mời gọi của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, ngài đã bình giảng bài Phúc Âm ngày chúa nhật trước khi đọc Kinh Truyền Tin của ngày 13/6/2021, từ trên văn phòng trông xuống Quảng Trường Thánh Phêrô.

Kể cả những chuyện bé mọn của thường nhật hàng ngày « cũng được ngự đến bởi sự hiện diện tiềm ẩn của Thiên Chúa », Đức Giáo Hoàng khẳng định : « nghĩa là những chuyện đó có một ý nghĩa ».

Theo gót của thánh I-nhã thành Loyola, ngài đã gợi ý hãy « đi kiếm và tìm được Thiên Chúa trong mọi sự việc ».

Đức Giáo Hoàng đã mời gọi hãy nhìn và thẩm định sự hiện diện của Thiên Chúa vượt lên khỏi những hiện tượng bề ngoài : « Tất cả những gì tốt đẹp đều thuộc về Thiên Chúa và như vậy mang hoa trái một cách khiêm nhường. Cái tốt luôn lớn lên trong sự khiêm nhường, một cách ẩn dật, nhiều khi không thấy được ».

Một sự hiện diện vốn phải đưa tới lòng tin cậy : « Chính là sự tin cậy của chúng ta, chính là cái gì ban cho chúng ta sức mạnh để tiến tới mỗi ngày với lòng kiên nhẫn, bằng cách gieo rắc một sự tốt lành sẽ mang đến hoa trái. Thái độ này quả cũng quan trọng biết bao để ra khỏi đại dịch ! Vun trồng lòng tin cậy mình được ở trong bàn tay Thiên Chúa và đồng thời tất cả chúng ta đều hiến thân để tái thiết và bắt đầu lại, với lòng kiên nhẫn và bền bỉ ».

Và có lòng khiêm nhường : «  chúng ta đừng quên rằng kết quả của những gieo trồng không tùy thuộc vào khả năng chúng ta ; chúng tùy thuộc vào tác động của Thiên Chúa, việc gieo trồng chính là thuộc về chúng ta, và hãy gieo trồng với tình yêu, với sự dấn thân và với lòng kiên nhẫn ».

Sau đây là bản dịch nhanh những lời của Đức Giáo Hoàng được ban ra bằng tiếng Ý.

AB

Lời Đức Giáo Hoàng Phanxicô trước Kinh Truyền Tin

Thân chào Quý Anh Chị Em !

Những dụ ngôn mà phụng vụ trình bầy với chúng ta ngày hôm nay – hai dụ ngôn – chính xác là lấy ý từ đời sống bình thường và cho thấy cách nhìn chăm chú của Chúa Giêsu, Người quan sát thực tế, và thông qua những hình ảnh nhỏ bé hàng ngày, mở ra những cửa sổ về mầu nhiệm Thiên Chúa và về cuộc sống con người. Chúa Giêsu đã phán một cách dễ hiểu, Người đã phán bằng những hình ảnh của thực tế, của đời sống hàng ngày. Như thế, Người dạy cho chúng ta rằng dù là những sự việc hàng ngày, những sự việc đôi khi tất cả đều giống nhau mà chúng ta tiếp tục làm trong sự chia trí hay mệt mỏi, đều được ngự đến bởi sự hiện diện tiềm ẩn của Thiên Chúa, nghĩa là những sự việc đó có một ý nghĩa. Như thế, chúng ta cũng vậy, chúng ta có nhu cầu có một cách nhìn chăm chú, để có thể « đi kiếm và tìm thấy Thiên Chúa trong mọi sự việc ».

Hôm nay, Chúa Giêsu so sánh Nước Thiên Chúa, nghĩa là sự hiện diện của Người ngự đến trong lòng mọi sự việc và trên thế gian, với hạt cải, nghĩa là hạt giống nhỏ bé nhất hiện hữu : nó quá nhỏ bé. Tuy nhiên được gieo trồng xuống đất, nó lớn lên và trở thành cây cao lớn (x. Mc 4, 31-32). Cũng thế. Đôi khi sự ồn ào của thế gian, cũng như nhiều hoạt động trám hết ngày giờ của chúng ta, ngăn cản chúng ta dừng lại và nhìn thấy Chúa đã điều khiển Lịch Sử như thế nào. Và tuy vậy – Phúc Âm cam kết điều đó – Thiên Chúa đã hành động, cũng như một hạt giống tốt nhỏ bé, đang nẩy mầm một cách thinh lặng và chậm chạp. Và, dần dần, nó trở thành một cây um tùm cống hiến sự sống và bóng mát cho tất cả mọi người. Kể cả hạt giống của những việc thiện của chúng ta có thể dường như nhỏ bé ; tuy nhiên, tất cả những gì tốt lành đều thuộc về Thiên Chúa và như thế, khiêm nhường mang nhiều hoa trái. Điều Thiện – chúng ta nên nhớ – luôn lớn lên một cách khiêm nhường, một cách tiềm ẩn, nhiều khi không thấy được.

Anh chị em thân mến, qua dụ ngôn này, Chúa Giêsu muốn ban cho chúng ta lòng tin cậy. Quả vậy, trong nhiều tình huống của cuộc đời, có thể xẩy ra là chúng ta nản lòng, bởi vì người ta thấy sự yếu kém của điều thiện và sức mạnh bề ngoài của điều ác. Và người ta có thể để mình bị tê liệt bởi sự nghi ngờ khi nhìn thấy rằng dù là chúng ta đã dấn thân, nhưng kết quả vẫn không thấy đến và mọi chuyện dường như không hề thay đổi. Phúc Âm yêu cầu chúng ta có một cái nhìn trên chính mình và trên thực tế ; Phúc Âm yêu cầu có đôi mắt lớn hơn, biết nhìn xa hơn, nhất là xa hơn những cái bề ngoài, để khám phá ra sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng giống như tình yêu khiêm nhường, luôn đang hành động trên hiện trường của cuộc đời chúng ta và trên hiện trường của Lịch Sử. Chính là lòng tin cậy của chúng ta, chính đó là điều ban cho chúng ta sức mạnh để tiến tới mỗi ngày với lòng kiên nhẫn, bằng cách gieo rắc một điều thiện vốn sẽ mang hoa trái. Thái độ này quả cũng quan trọng biết bao để ra khỏi đại dịch ! Vun trồng lòng tin cậy mình được ở trong bàn tay Thiên Chúa và đồng thời tất cả chúng ta đều hiến thân để tái thiết và bắt đầu lại, với lòng kiên nhẫn và bền bỉ.

Cỏ dại của lòng nghi ngờ cũng có thể đâm rễ vào trong Hội Thánh, nhất là khi chúng ta tham dự vào cuộc khủng hoảng đức tin và vào sự thất bại của nhiều dự án và sáng kiến. Nhưng chúng ta đừng bao giờ quên rằng những kết quả của việc gieo trồng không tùy thuộc vào những khả năng của chúng ta : chúng tùy thuộc vào tác động của Thiên Chúa, gieo trồng là việc của chúng ta, và gieo trồng với tình yêu, với dấn thân và với kiên nhẫn. Nhưng sức mạnh của hạt giống là của Chúa. Chúa Giêsu giải thích chuyện này trong dụ ngôn kia của ngày hôm nay : người nông dân gieo hạt giống và không nhận ra sau đó nó mang hoa trái như thế nào, bởi vì chính hạt giống mọc lên một mình, ngày và đêm, khi người đó không ngờ đến nhất (x. c 26-29). Với Thiên Chúa, kể cả trong những thế đất khô khan nhất, cũng luôn có hy vọng mọc lên những mầm mới.

Cầu xin Rất Thánh Nữ Đồng Trinh Maria, nữ tỳ khiêm nhượng của Chúa, dạy cho chúng ta nhìn xem sự cao cả của Thiên Chúa tác động trong những chuyện bé mọn và chiến thắng cám dỗ nản lòng. Chúng ta hãy tin cậy vào Mẹ mỗi ngày !

© Traduction de Zenit, Anita Bourdin

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Angélus: “Voir la grandeur de Dieu qui agit dans les petites choses” (traduction complète) – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Kinh Truyền Tin « Nhìn xem sự cao cả của Thiên Chúa tác động trong những chuyện bé mọn »

Nếu một linh mục không có tính « nhân bản » người đó vô dụng – Đức Giáo Hoàng cảnh báo

Triều kiến cho Chủng Viện giáo hoàng Vùng Marches ‘‘Piô XI’’

JUIN 10, 2021 18:26 ANNE KURIAN-MONTABONEPAPE FRANÇOIS

Chủng viện giáo hòang Vùng Marches ‘‘Piô XI’’

« Một linh mục có thể là rất có tinh thần kỷ luật, ngài có khả năng giải thích giỏi môn thần học, môn triết học… Nhưng nếu ngài không mang tính nhân bản, ngài vô dụng… ngài không có trái tim », Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã cảnh cáo trước các thành viên của Chủng Viện giáo hoàng vùng Marches ‘‘Piô XI’’, được ngài tiếp kiến tại Vatican ngày 10/6/2021.

Trong một bài diễn văn dài, ngài nói : « Thế giới đang khao khát những linh mục có khả năng truyền đạt lòng nhân từ của Chúa cho những ai đã trải nghiệm tội lỗi và thất bại, khao khát những linh mục chuyên gia về nhân bản, những mục tử sẵn sàng chia sẻ niềm vui và mệt nhọc của các anh em của các ngài ».

Đức Giáo Hoàng đã đặc biệt kêu gọi « sự ngoan hiền », chạy lại với sự khôn ngoan của những « linh mục cao niên » và đừng bỏ « thế giới bên ngoài » ở cổng Chủng Viện : « Anh em hãy thành khẩn mở rộng tấm lòng ra với những cha giáo, đấu tranh chống lại mọi hình thức giả dối nội tâm. Những người có khuôn mặt của Chân Phước Imelda và trong lòng thì là cả một sự thảm họa : không, đó là sự nói dối nội tâm. Đừng làm ra vẻ một thiên thần nhỏ bé, không. Anh em hãy vun trồng những quan hệ nhân bản trong sáng, vui vẻ, giải thoát, đầy đủ, có khả năng tình bạn, có khả năng tình cảm, có khả năng sung mãn ».

Sau đây là bản dịch bài diễn văn này.

Bài diễn văn của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Anh em thân mến,

Tôi hân hạnh đón tiếp cộng đoàn của anh em là Chủng Viện giáo hoàng vùng Marches ‘‘Piô XI’’. Tôi cảm ơn cha Bề Trên vì những lời chào mừng : ngài là người hăng hái, vị Bề Trên này ! Cuộc gặp gỡ của chúng ta xẩy đến trong năm được phó dâng cho Thánh Giuse và điều này khiến tôi chia sẻ một số suy nghĩ về ơn gọi được gợi ý từ « hình ảnh phi thường này, rất gần với số phận con người của mỗi người giữa chúng ta » (Tông Thư Patris corde, 8/12/2020) và cũng gần gũi với ơn gọi mà Thiên Chúa đã muốn gửi cho chúng ta.

Tôi ưa hình dung Chủng Viện như gia đình Nazareth, trong đó Chúa Giêsu đã được đón nhận, che chở và huấn luyện cho sứ vụ đã được Chúa Cha giao cho Người. Con của Thiên Chúa đã chấp nhận để được yêu thương và hướng dẫn bởi cha mẹ người phàm, Đức Mẹ Maria và thánh Giuse, dạy cho mỗi người chúng ta rằng không có sự ngoan hiền, không ai có thể lớn lên và trưởng thành. Tôi muốn nhấn mạnh điều này, bởi vì người ta không nói nhiều đến sự ngoan hiền. Ngoan hiền là một ơn mà chúng ta phải cầu xin ; sự ngoan hiền là một nhân đức không những phải thủ đắc, mà phải nhận được. Quan trọng là mỗi người trong anh em phải luôn tự hỏi : ‘‘Tôi có ngoan hiền không ? Tôi có nổi loạn không ? Hay là tôi có bất cần tất cả, tôi muốn làm gì thì làm ?’’. Không : sự ngoan hiền là một thái độ xây dựng của ơn gọi và nhân phẩm của mình. Không có sự ngoan hiền, không một ai có thể lớn lên và trưởng thành. Quả vậy, tài liệu Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis (Ơn gọi thừa tác vụ linh mục) khẳng định rằng người linh mục là một môn đệ liên tục trên đường theo chân Thầy mình và, vì thế, sự đào tạo của ngài là một quy trinh tiến hóa, được bắt đầu trong gia đình, được tiếp tục trong giáo xứ, được củng cố tại Chủng Viện và kéo dài suốt đời. Hình ảnh thánh Giuse là khuôn mẫu đẹp nhất mà các nhà giáo dục của anh em được kêu gọi hãy lấy hứng từ ngài để giữ gìn và chăm sóc cho ơn gọi của anh em. Như vậy chính là với các ngài mà tôi muốn trước hết nói chuyện.

Thưa quý huynh trong Hội Đồng Giám Mục của Marques, những người trách nhiệm đầu tiên trong việc đào tạo những người trẻ này ; thưa cha viện trưởng thân mến, thưa cha linh hướng và tất cả các cha giáo, đối với các chủng sinh, xin anh em hãy như là thánh Giuse đối với Chúa Giêsu ! Các chủng sinh có thể học hỏi nhiều hơn từ cuộc đời của anh em hơn là từ lời nói của anh em, như điều này đã diễn ra trong nhà Nazareth, nơi Chúa Giêsu được đào tạo trong học đường của sự « can đảm sáng tạo » của thánh Giuse. Mong rằng các chủng sinh học được tính ngoan hiền từ sự vâng lời của anh em ; học được lao động cần cù từ sự tận tụy của anh em ; học được lòng quảng đại đối với người nghèo từ sự làm chứng của sự giản dị và sự sẵn sàng phục vụ của anh em ; học được lòng từ phụ nhờ vào sự thương yêu sống động và thanh sạch của anh em. « Bên cạnh từ ngữ cha, truyền thống đã liệt thánh Giuse là ‘‘rất thanh sạch’’. Đây không phải một biểu hiện đơn thuần là tình cảm, nhưng chính là sự tổng hợp của một thái độ bầy tỏ sự trái ngược với sự chiếm hữu. Đức thanh sạch là sự kiện giải thoát ra khỏi sự chiếm hữu trong mọi lãnh vực của cuộc sống. Chỉ khi nào một tình yêu là thanh sạch thì đó mới thật sự là tình yêu. Tình yêu mà muốn chiếm hữu cuối cùng luôn trở thành nguy hiểm, nó giam hãm, bóp nghẹn, gây đau khổ » (Tông Thư Patris corde).

Và bây giờ, các chủng sinh thân mến, tôi muốn nói chuyện với anh em, là những người được Hội Thánh yêu cầu noi gương Chúa Giêsu, Người đã ngoan hiền để thánh Giuse dạy dỗ. Từ lúc rất bé, Người đã phải trải nghiệm sự mệt nhọc có trên cả con đường trưởng thành, đặt ra những câu hỏi to lớn của cuộc sống, bắt đầu đảm nhận những trách nhiệm của mình và lấy những quyết định. Nhưng Người là Thiên Chúa, Người không cần làm như thế… không : Người đã học tập, Người đã thực sự học tập, Người không hề làm bộ học tập, không, Người đã học tập. Người là Thiên Chúa, phải, nhưng Người cũng là con người thật : Người đã trải qua mọi giai đoạn của sự trưởng thành của một con người. Có lẽ chúng ta đã không suy nghĩ đủ về thiếu niên Giêsu, Đấng chăm chỉ phân định ơn gọi của Người, vâng lời và phó thác cho Đức Mẹ Maria và thánh Giuse, và đối thoại với Chúa Cha để tìm hiểu sứ vụ của Người.

Mong rằng đối với anh em cũng thế, Chủng Viện sẽ như là căn nhà Nazareth, nơi đó Con của Thiên Chúa đã học từ cha mẹ Người tính nhân bản và sự gần gũi. Anh em đừng thỏa mãn vì mình giỏi trong việc sử dụng các mạng xã hội và các phương tiện truyền thông để giao tiếp. Chỉ khi nào anh em được thay đổi bởi Lời của Thiên Chúa, anh em mới có thể thông truyền những lời hằng sống. Thế giới đang thèm khát những linh mục có khả năng thông truyền lòng nhân từ của Chúa cho những ai đã trải nghiệm tội lỗi và thất bại, những linh mục chuyên gia về tính nhân bản, các mục tử sẵn sàng chia sẻ những niềm vui và những mệt nhọc của những người anh em của mình, của những người để mình bị ghi dấu bởi tiếng kêu của những người đang đau khổ. Anh em hãy đong múc tính nhân bản của Chúa Giêsu trong Phúc Âm và trong Nhà Tạm, anh em hãy tìm kiếm nó trong cuộc đời của các thánh và của nhiều vị anh hùng của lòng bác ái, anh em hãy nghĩ đến tấm gương đích thực của những người đã truyền đạt cho anh em đức tin, nghĩ đến các bậc ông bà của anh em, đến cha mẹ anh em. Thánh Phaolô đã từng nói với môn đệ yêu dấu của ngài là ông Timôtê : ‘‘Anh hãy nhớ đến mẹ, đến bà, đến gốc rễ’’. Và anh em cũng hãy đọc các nhà văn này, đã biết nhìn vào trong linh hồn người phàm ; thí dụ, tôi nghĩ đến Dostoïevski, người trong những biến cố khốn cùng của sự đau khổ trên thế gian và đã biết bộc lộ vẻ đẹp của tình yêu cứu độ. Nhưng nhiều người trong anh em có thể nói : chuyện này có liên quan gì tới Dostoïevski ? Đó là cho những nhà văn ! Không, không : đó là để lớn lên trong tình nhân bản. Anh em hãy đọc các nhà văn lớn. Một linh mục có thể rất kỷ luật, ngài có khả năng giải thích rất giỏi thần học, triết học, và nhiều chuyện khác nữa. Nhưng nếu ngài không có tính nhân bản, ngài là vô dụng. Ngài nên ra ngoài và trở thành một giáo sư. Nhưng nếu ngài không có tính nhân bản, ngài không thể là linh mục : ngài sẽ thiếu cái gì. Ngài thiếu cái lưỡi sao ? Không đâu, ngài có thể nói được mà. Ngài thiếu trái tim ; của những chuyên gia về nhân bản !

Chủng viện, như thế, không được xa rời thực tế, xa những nguy hiểm và càng không đuợc rời xa người khác, mà trái lại, phải làm cho gần gũi hơn với Thiên Chúa và với anh em. Gìữa những bức tường của Chủng Viện, anh em hãy mở ra những biên giới của trái tim anh em – trái tim nở ra -, anh em hãy mở rộng chúng ra cho toàn thế giới, hãy đam mê những gì ‘‘xích lại gần nhau’’, anh em hãy đam mê những gì khiến cho mọi người gần lại với nhau, những gì ‘‘mở ra’’, những gì ‘‘làm cho người ta gặp nhau’’. Anh em hãy đề phòng những kinh nghiệm dẫn đến những sự thân mật khô cằn, những ‘‘thuyết duy linh phong phú hóa’’, nó vốn có vẻ mang đến sự an ủi và ngược lại dẫn đến những sự khép kín và những thái độ cứng nhắc. Và ở đây, tôi tạm dừng một chút. Sự cứng nhắc ngày hôm nay hơi có vẻ thời thượng ; và sự cứng nhắc là một sự biểu hiện của chủ nghĩa giáo sĩ trị. Chủ nghĩa giáo sĩ trị là một sự đồi bại của thiên chức tư tế : đó là sự đồi bại. Và sự cứng nhắc là một trong những biểu hiện của nó. Khi tôi thấy một chủng sinh hay một linh mục cứng nhắc, tôi tự nhủ ‘‘đã xẩy ra điều gì xấu xa nơi hắn’’ Đàng sau mọi sự cứng nhắc, có một vấn đề trọng đại, bởi vì sự cứng nhắc thiếu tính nhân bản.

Sau cùng, tôi muốn gợi ý cho anh em một số những điểm liên quan đến bốn chiều kích của sự đào tạo : nhân bản, thiêng liêng, trí tuệ và mục vụ. Và bốn chiều kích đó phải đi chung, và cái này thực hiện cái kia : chiều kích nhân bản, chiều kích thiêng liêng, chiều kích trí tuệ và chiều kích mục vụ. Trước hết, anh em đừng xa rời tính nhân bản của anh em, anh em đừng để lại ngoài cửa Chủng Viện sự phức tạp của thế giới nội tâm của anh em, của những tình cảm của anh em và cảm xúc của anh em : anh em đừng để những thứ đó bên ngoài ; anh em đừng tự giam hãm trong chính mình khi anh em sống một thời điểm khủng hoảng hay yếu đuối : hãy nói về những cái đó, đó là tính nhân bản. Anh em hãy chân thành mở rộng tấm lòng của anh em cho các đấng đào tạo của anh em, bằng cách đấu tranh chống mọi hình thức giả dối trong lòng. Những người có khuôn mặt của Chân Phước Imelda và trong lòng thì lại cả một sự thảm họa : không, đó là sự lừa dối nội tâm. Đừng làm ra vẻ như những thiên thần nhỏ bé, không. Anh em hãy vun trồng những quan hệ nhân bản trong sáng, vui vẻ, tự do, đầy đặn, có khả năng bằng hữu, có khả năng tình cảm, có khả năng sung mãn.

Tầm kích thiêng liêng, Tâm Linh : mong rằng cầu nguyện không phải là chủ nghĩa nghi thức – những kẻ cứng nhắc luôn đi tới chủ nghĩa nghi thức này ; mong rằng cầu nguyện là một cơ hội gặp gỡ cá nhân với Thiên Chúa. Và nếu bạn muốn giận dữ với Thiên Chúa thì cứ việc : bởi vì giận dữ với cha mình là một cách để bầy tỏ tình yêu thương. Anh em đừng sợ : Người thấu hiểu cái ngôn ngữ đó, Người là cha mà – gặp gỡ cá nhân với Thiên Chúa, đối thoại và thân thiết với Người. Anh em thận trọng đừng để phụng vụ và cầu nguyện cộng đoàn trở thành một sự biểu dương chính chúng ta. Một lần kia, tôi đi mua tấm áo sơ mi – khi tôi còn được phép đi ra phố, bây giờ thì không – trong một tiệm bán quần áo tu sĩ. Lúc đó có một người trẻ, không biết là chủng sinh hay linh mục, đang tìm trang phục. Tôi quan sát anh ta : anh ta ngắm mình trong gương. Và câu nói này đã hiện ra trong đầu : người này đang biểu dương chính mình, và anh ta cũng sẽ làm như thế trên bàn thờ. Xin anh em vui lòng, mong rằng không có một lễ nghi phụng vụ nào trở thành một sự biểu dương cho chính chúng ta cả. Anh em hãy làm phong phú cho sự cầu nguyện, anh em hãy cảm nhận được ngày hôm nay mình là những người cầu thay nguyện giúp cho thế giới.

Mong rằng việc học tập – tầm kích thứ ba – giúp cho anh em với lòng tin cậy và khả năng đi vào trong sự phức tạp của văn hóa và tư tưởng đương đại, không sợ hãi nó, không thù nghịch nó. Xin anh em đừng sợ. ‘‘Nhưng, thưa cha, chúng con đang sống một thời đại bị in dấu bởi một tư tưởng vô thần’’ – Nhưng, bạn phải hiểu nó, bạn phải đối thoại và bạn phải tuyên xưng đức tin của bạn và tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô trên thế giới này, chống tư tưởng đó. Chính là ở đó mà sự khôn ngoan của Phúc Âm phải được nhập thể. Và sự thách đố của sứ vụ đang chờ đợi anh em, ngày hôm nay hơn lúc nào hết, khả năng và chuẩn bị. Ngày hôm nay hơn bao giờ hết : phải có học tập, có khả năng, có một sự chuẩn bị để nói với thế giới này.

Và mong rằng sự đào tạo mục vụ, tầm kích thứ tư, thúc đẩy anh em hãy đi với lòng hăng hái gặp gỡ mọi người. Chúng ta là linh mục để phục vụ Dân của Thiên Chúa, để chăm sóc những vết thương của mọi người, đặc biệt của những người nghèo. Sự sẵn sàng cho người khác : chính đó là bằng chứng không thể chối cãi được của câu xin vâng với Thiên Chúa. Và không có chủ nghĩa giáo sĩ trị, như tôi đã nói đến. Là môn đệ của Chúa Giêsu có nghĩa tự giải thoát ra khỏi bản thân chính chúng ta và y theo tình cảm của Người, theo Người đã ngự đến ‘‘không để được phục vụ nhưng để phục vụ’’ (x. Mc 10,45).

Người mục tử chân chính không tự cắt đứt ra khỏi dân của Thiên Chúa : ngài ở trong dân của Thiên Chúa, hoặc là đi trước – để dẫn đường – hoặc ở giữa, để thấu hiểu dân chúng, hoặc đàng sau, để giúp đỡ những người bị lọt quá xa ở phía sau, và để bỏ lại chốc lát dân chúng và đoàn gia súc để tìm kiếm những đồng cỏ mới. Người mục tử chân chính phải chuyển động liên tục giữa ba nơi này : tiên phong, ở giữa và đoạn hậu. Đôi khi, tôi thấy những sách vở hay những hội thảo về thiên chức tư tế có đề cập đến những khía cạnh này, khía cạnh kia, khía cạnh nọ… Thực tế, phải học tập tất cả điều đó, nhưng nếu tất cả các khía cạnh không được bắt rễ trong sự thống thuộc của bạn vào dân của Thiên Chúa, đó chỉ là những suy nghĩ hàn lâm vô ích. Bạn là linh mục của dân thánh trung thành của Thiên Chúa, bạn là linh mục bởi vì bạn có thiên chức tư tế trong Phép Rửa và điều đó anh em không thể chối bỏ được.

Sau cùng, tôi muốn cảm ơn các Mục Tử của anh em – anh em và các đồng viện : cảm ơn – và các cộng đoàn giáo phận của anh em vì sự làm chứng của sự hiệp thông giáo sĩ vốn được ban cho bởi sự lựa chọn làm tăng giá trị sự thiết lập liên giáo phận và khu vực của Chủng Viện : tôi rất thích điều đó. Và cũng vì nhu cầu, bởi vì một giáo phận có bốn chủng sinh không thể có một chủng việnvới bốn, năm hay sáu  chủng sinh : phải có cộng đoàn. Vào thời điểm hiện tại – trong Hội Thánh cũng như bên ngoài – thời điểm cuối cùng của khuôn mẫu ‘‘tháp chuông nhỏ bé’’, kinh nghiệm hiệp thông mà anh em đang sống một thí dụ đẹp cũng cho những giáo phận mà, thông qua sự chia sẻ của một sự đào tạo chung, sẽ được giúp đỡ để tìm những nhà đào tạo và các nhà giáo thích hợp với thách đố lớn của sự đồng hành ơn gọi.

Và một chuyện sau cùng. Trong bốn chiều kích này – trí tuệ, mục vụ, cộng đoàn, và thiêng liêng – anh em có những giáo sư, những nhà đào tạo, các vị linh hướng và anh em phải nói chuyện với các ngài. Nhưng anh em hãy tìm – trong các giáo phận của anh em – các linh mục cao niên, những người có sự khôn ngoan về rượu ngon, những người vốn bởi sự làm chứng của các ngài, dạy cho chúng ta làm cách nào giải quyết những vấn đề mục vụ, những người, giống như các cha sở, biết rõ tên tuổi của hết mọi người, của mỗi người trong các giáo dân của các ngài, thậm chí cả tên của những con chó : chính là một trong những người đó đã nói cho tôi biết đó. Nhưng các cha phải làm như thế nào – tôi hỏi – để biết họ trong lúc có cả bốn giáo xứ để lo lắng ? ‘‘Không đâu, không thể được’’, vị đó đã khiêm nhượng nói với tôi. Nhưng cha đã đạt đến mức biết hết mọi người ? ‘‘Vâng, tôi biết tên của hết mọi người, thậm chí cả tên những con chó’’. Và hoan hô. Một linh mục rất gần gũi, và cũng rất gần với Nhà Tạm nữa : ngài đã nhìn mọi người với đức tin và sự kiên nhẫn của Chúa Giêsu. Các vị linh mục cao niên đã từng vác trên vai mình nhiều vấn đề của mọi người và đã giúp họ sống một cách ít nhiều tốt lành và cũng đã giúp họ được chết một cách tốt lành. Anh em hãy nói chuyện với các linh mục đó, các ngài là kho tàng của Hội Thánh. Nhiều người trong các ngài đôi khi bị lãng quên trong một nhà hưu dưỡng : anh em hãy đi tìm đến với các ngài. Các ngài là một kho báu.

Cầu mong thánh Giuse đồng hành với anh em và cầu xin Đức Trinh Nữ Maria gìn giữ anh em. Tôi ban phép lành cho anh em và xin anh em vui lòng, cầu nguyện cho tôi, bởi vì công việc của tôi không hề dễ dàng chút nào ! Cảm ơn.

© Traduction de Zenit, Anne Kurian-Montabone

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Si un prêtre n’est pas “humain”, il est inutile, avertit le pape – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Nếu một linh mục không có tính « nhân bản » người đó vô dụng – Đức Giáo Hoàng cảnh báo

Bài Giáo Lý – « Nơi mà mỗi hành động tìm lại được ý nghĩa của nó »

Lời cầu nguyện cần được nhắc lại nhiều lần trong cả ngày (Toàn văn)

JUIN 09, 2021 17:44 RÉDACTIONAUDIENCE GÉNÉRALEPAPE FRANÇOIS

Triều kiến chung ngày 09/6/2021

« Chúng ta hãy nhắc lại lời cầu nguyện đơn sơ thật là đẹp để nhắc lại nhiều lần trong ngày, tất cả chúng ta cùng nhau cầu nào : Lậy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, xin đoái thương con là kẻ tội lỗi » : đó là lời mời gọi của Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong buổi triều kiến chung ngày thứ tư 09/6/2021.

Suy ngẫm trong suốt Bài Giáo Lý của ngài về sự kiên trì trong cầu nguyện, Đức Giáo Hoàng đã đưa ra như là gương mẫu người Hành Hương người nga, khuyến khích hãy « luôn ở trong tình trạng cầu nguyện ».

Ngài còn nói thêm : « Cầu nguyện không phải là đối nghịch với những hoạt động hàng ngày, nó không xen vào một cách đối nghịch với nhiều những bổn phận nhỏ và những sự hẹn hò, nhưng đúng hơn, nó là nơi chốn ở đó mỗi hành động tìm lại được ý nghĩa của nó, lý do của nó và sự bình an của nó.

AKM

Bài Giáo Lý – 37. Kiên trì trong tình yêu

Thân chào Quý Anh Chị Em !

Trong Bài Giáo Lý áp chót này về cầu nguyện, chúng ta nói về sự kiên trì trong cầu nguyện. Đây là một lời mời gọi, và có thể nói như là một mệnh lệnh, đến với chúng ta từ Thánh Kinh. Hành trình thiêng liêng của Khách Hành Hương người nga bắt đầu khi ngài đọc được một câu của thánh Phaolô trong Thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thêxalônica : « Anh em hãy cầu nguyện không ngừng. Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh » (1Tx 5,17-18). Lời của thánh Tông Đồ đã đánh động con người này và ngài tự hỏi làm sao có thể cầu nguyện không ngừng, trong lúc đời sống chúng ta được chia thành nhiều lúc khác nhau, không luôn giúp cho có thể tập trung tư tưởng được. Chính từ câu hỏi này mà sự tìm kiếm của ngài đã bắt đầu, nó dẫn ngài đến sự khám phá ra cái mà người ta gọi là cầu nguyện trong lòng. Cách cầu nguyện này là nhắc lại với đức tin : ‘‘Lậy Chúa Giêsu Kitô, Con của Thiên Chúa, xin hãy thương xót con là kẻ tội lỗi’’. Một lời cầu nguyện đơn sơ, nhưng rất đẹp. Một kinh cầu dần dần hòa nhập nhịp nhàng với hơi thở và lan rộng ra suốt ngày. Quả vậy, hơi thở không bao giờ ngừng, ngay cả trong lúc chúng ta ngủ : và cầu nguyện là hơi thở của cuộc sống.

Làm sao có thể luôn ở trong tình trạng cầu nguyện được ? Sách Giáo Lý Của Hội Thánh Công Giáo cống hiến cho chúng ta những lời trích dẫn rất đẹp, rút ra từ lịch sử tâm linh, nhấn mạnh trên sự cần thiết của một sự cầu nguyện liên lỉ, vốn là cốt lõi của sự sống Kitô giáo. Tôi cũng lấy lại một số trích dẫn đó.

Tu sĩ Evagre Pontique khẳng định rằng : « Chúng ta không được truyền dạy là phải luôn lao động, canh thức, giữ chay – không, những điều này đã không được truyền dạy – nhưng chúng ta có luật là phải cầu nguyện không ngừng » (SGL s.2742). Trái  tim trong cầu nguyện. Như thế có một sự hăng hái trong đời sống Kitô giáo không được bao giờ thiếu. Đó cũng hơi giống như ngọn lửa thiêng mà người ta gìn giữ trong các đền thờ cổ, nó cháy liên tục, không ngừng và các thầy tư tế có bổn phận tiếp tục nuôi dưỡng nó. Đó : cũng phải có một ngọn lửa thiêng trong chúng ta, đang cháy liên tục và không có gì có thể dập tắt được. Và không phải là dễ, nhưng phải là như thế.

Thánh Gioan Kim Khẩu, một vị mục tử khác quan tâm tới đời sống cụ thể, đã giảng dạy như thế này : « Một người ngay khi đang ở giữa chợ hay đi đường, vẫn có thể chăm chú cầu nguyện. Một người giúp việc đang đi mua sắm, hoặc tất tả ngược xuôi hoặc làm việc trong nhà bếp » (s. 2743). Những lời cầu ngắn ngủi : « Lậy Chúa, xin đoái thương chúng con », « Lậy Chúa, xin cứu giúp con ». Lời cầu nguyện như thế là một cung nhạc, nơi chúng ta viết lên cung điệu của cuộc đời chúng ta. Nó không đối nghịch với những sinh hoạt hàng ngày, nó không đi vào mâu thuẫn với nhiều những đòi hỏi nhỏ và hẹn hò, nhưng nó đúng ra là nơi mà mỗi hành động tìm lại được ý nghĩa của nó, lý do của nó, bình an của nó.

Chắc chắn, đưa những nguyên tắc vào thực tế không phải là dễ. Một người cha và một người mẹ bận bịu trăm công ngàn việc, có thể cảm thấy nỗi nhớ về một giai đoạn của cuộc đời họ, lúc dễ dàng để tìm ra những thời gian ăn nhịp và những không gian để cầu nguyện. Rồi, các con cái, việc làm, những bổn phận của đời sống gia đình, các cha mẹ đang già đi… Người ta có cảm tưởng không bao giờ thành công để có thể làm tất cả mọi thứ. Điều đó như thế, có ích lợi để nghĩ rằng Thiên Chúa, là Cha chúng ta, bận bịu chăm lo cho toàn vũ trụ, mà còn luôn nhớ đến mỗi người chúng ta. Chúng ta cũng phải nhớ tới Người !

Chúng ta, sau đó, nhớ lại rằng trong trong chế độ tu viện Kitô giáo, lao động luôn đã có vị trí danh dự, không chỉ vì là một bổn phận tinh thần để cung cấp cho bản thân mình và cho những người khác, nhưng cũng vì một kiểu cân bằng, một sự thăng bằng nội tâm : Thật là nguy hiểm cho con người khi nuôi dưỡng một quan tâm quá trừu tượng khiến người đó mất liên lạc với thực tế. Lao động giúp chúng ta giữ liên lạc với thực tế. Hai bàn tay chắp lại của ông thầy tu có những chai sạn của kẻ cầm cuốc xẻng. Trong bài Phúc Âm của thánh Luca (x. Lc 10, 38-42), khi Chúa Giêsu phán với thánh nữ Martha rằng chuyện duy nhất thực sự cần thiết là lắng nghe lời Thiên Chúa, Người không hề muốn coi thường nhiều sự phục vụ mà bà đã chăm chỉ thực hiện.

Trong bản thân con người tất cả đều là ‘‘nhị nguyên’’ : thân thể chúng ta cân đối, chúng ta có hai cánh tay, hai con mắt, hai bàn tay… Cũng thế, lao động và cầu nguyện cũng bổ sung cho nhau. Cầu nguyện – vốn là ‘‘hơi thở’’ của tất cả – luôn như là bối cảnh sống chết của lao động, ngay cả trong những lúc nó không được trình bầy rõ ràng. Thật là vô nhân đạo khi bị cuốn hút bởi lao động đến độ không còn tìm được thời gian để cầu nguyện.

Đồng thời, một lời cầu nguyện được coi là không lành mạnh nếu nó xa lạ với sự sống. Một lời cầu nguyện làm cho chúng ta xa lạ với tính cụ thể của cuộc đời trở thành chủ nghĩa tâm linh, hay là, tệ hơn nữa, chủ nghĩa nghi lễ. Chúng ta hãy nhớ rằng, Chúa Giêsu sau khi tỏ ra với các môn đệ sự vinh hiển của Người trên núi Tabor, đã không muốn kéo dài cái thời gian xuất thần đó, nhưng Người đã xuống núi với các ông và tiếp tục con đường hàng ngày. Bởi vì kinh nghiệm này phải ở lại trong lòng người như ánh sáng và sức mạnh cho những ngày sắp tới : những ngày của cuộc Khổ Nạn. Như vậy, những thời gian được dành ra để ở với Thiên Chúa làm sống lại đức tin, vốn giúp cho chúng ta trong khía cạnh cụ thể của cuộc đời, và đức tin, cũng nuôi dưỡng cầu nguyện không gián đoạn. Trong sự lưu hành giữa đức tin, sự sống và cầu nguyện, ngọn lửa tình yêu Kitô giáo mà Thiên Chúa đợi chờ từ nơi chúng ta vẫn còn thắp sáng.

Và chúng ta hãy nhắc lại lời cầu nguyện đơn sơ vốn quá đẹp để nhắc lại trong ngày, tất cả cùng nhau chúng ta cầu nguyện : « Lậy Chúa Giêsu, Con của Thiên Chúa, xin đoái thương con là kẻ tội lỗi ».

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Catéchèse : “le lieu où chaque action retrouve son sens” – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài Giáo Lý – « Nơi mà mỗi hành động tìm lại được ý nghĩa của nó »

Miến Điện – Vatican lấy làm tiếc vì thánh đường công giáo Đức Bà Hòa Bình bị quân đội tấn công

Một cấu trúc công giáo thứ sáu bị các cuộc tấn công gây tổn hại

JUIN 08, 2021 23:19 MARINA DROUJININAJUSTICE ET PAIX

Lôgô chuyến Tông Du Miến Điện (Myanmar)

Nhà thờ công giáo Đức Bà Hòa Bình, tại Dongankha, trong giáo phận Loikaw, gần Demoso, trong miền Đông của Miến Điện đã bị quân đội Miến Điện cố ý tấn công gây tổn hại trầm trọng hôm 06/6/2021, hãng tin Fides của Vatican khẳng định và lấy làm tiếc khi loan tin vào ngày thứ hai 07/6/2021.

Và hôm 08/6/2021 tức là ngày của « phút hòa bình », vào lúc 13 giờ, Đức Giáo Hoàng đã yêu cầu cầu nguyện đặc biệt chính đáng cho Miến Điện và cho Thánh Địa. « Tình yêu & Hòa Bình » : đó cũng là chủ đề của chuyến tông du của Đức Giáo Hoàng trong đất nước này, vào tháng 11 năm 2017.

Theo một linh mục của giáo phận, cha Phaolô Tinreh, không có ai bị thương hay bị chết, và thánh đường là thành phần của các công thự bị tấn công trong vùng này của thành phố. Đó là cấu trúc công giáo thứ sáu bị tổn hại bởi các cuộc tấn công hay các cuộc đột kích của quân đội Miến Điện trong hai tuần lễ vừa qua.

Các linh mục công giáo của xứ này đã đưa ra « một lời kêu gọi đối với quân đội để họ đừng tấn công các Nhà Thờ, bởi vì nhiều người, đặc biệt là những người dễ bị tổn thương thường hay trốn tránh trong nhà thờ », cha dòng Tên Wilbert Mireh kể lại, Fides viết tiếp : « Nhưng lời kêu gọi đã rơi vào những lỗ tai điếc ». « Nếu họ tấn công các nhà thờ, thì cũng bởi vì họ không có lấy một lạng tính nhân bản hay tính nhân từ ». 

Tại Dongankha, chung quanh nhà thờ bị tấn công hôm chúa nhật 06/6, có khoảng 800 gia đình công giáo trên tổng số dân cư là 4600 người, được hỗ trợ bởi 3 linh mục, 2 nam tu sĩ, 4 nữ tu ; 1 giáo lý viên và 15 người thiện nguyện phụ tá mục vụ.

Trong nhiều tuần lễ nay, nhà thờ địa phương đã đón tiếp những người chạy loạn trốn tránh bom đạn : bên cạnh quần thể nhà thờ, có một nhà nghỉ dưỡng do các Sơ Dòng Đền Tạ cai quản, nơi đó có các tu sĩ già, khoảng chừng 150 người dân yếu đuối của làng Dongankha đang trú ngụ.

« Mục tử cũng ở lại với họ, cha Francis Soe Naing kể lại, nhưng thực tế, họ không được an toàn. Từ khi Bang Kayah trở thành một vùng chiến sự, không nơi nào là an toàn cả ».

Theo Giáo Hội địa phương, những ngày gần đây đều có những cuộc tấn công : nhà thờ Thánh Tâm Chúa Giêsu, trong làng Nam Kayanthayar (có 4 người chết và nhiều người bị thương) ; Vương Cung Thánh Đường Thánh Tâm Chúa Giêsu, trong giáo phận Phekhon ; nhà thờ Thánh Giuse, trong vùng Demoso ; thánh đường Đức Mẹ Lộ Đức trong giáo xứ Domyalay ; đại chủng viện trung gian (nơi có 1 300 người tỵ nạn), với sự giết hại một người thiện nguyện, cũng theo hãng tin Fides.

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Birmanie : l’église catholique Notre-Dame-de-la-Paix attaquée par l’armée, déplore le Vatican – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Miến Điện – Vatican lấy làm tiếc vì thánh đường công giáo Đức Bà Hòa Bình bị quân đội tấn công