« Thiên Chúa nói với tâm hồn con người » hay là Chúa Thánh Thần trong giáo huấn của Đức Giáo Hoàng

« Nhìn ra hành động của Thần Khí Thiên Chúa trong ngày tháng của chúng ta »

AVRIL 08, 2021 00:15 ANNE KURIAN-MONTABONEPAPE FRANÇOIS

Sự sống của Thần Khí

« Sự sống của Thánh Thần. Thiên Chúa nói với tâm hồn con người » (‘‘La Vita dello Spirito, Dio parla al Cuore dell’uomo’’, edizione San Paolo), đó là nhan đề một cuốn sách mới các bài của Đức Giáo Hoàng Phanxicô được sưu tập bởi một cha sở của ngoại ô Rôma, cha Franco Nardin.

Theo Vatican News, thực đơn gồm có : sự phân định, đấu tranh thiêng liêng, tháp tùng, quan hệ, sự dịu hiền, tình yêu của những kẻ bé mọn… và sự « suy ngẫm thiêng liêng », tác giả giải thích và mời gọi hãy « nhìn thấy hành động của Thần Khí Thiên Chúa trong những ngày tháng của chúng ta ».

« Như Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói với tôi trong cuộc gặp gỡ riêng với ngài hôm 09/01/2021 vừa qua, tất cả đều đi từ trên đầu tới trái tim và ra hai bàn tay. Như thế, đó là một sự suy ngẫm tích cực », ngài tâm sự trong một cuộc tiếp xúc với Radio Vatican.

Theo cha Franco Nardin, « Đức Giáo Hoàng Phanxicô có một sự hiểu biết rộng lớn về lòng người và ngài biết rõ rằng, nếu lòng người thay đổi, tất cả thực tế thay đổi, rằng thật là vô ích mà chúng ta thay đổi tất cả mọi cấu trúc bề ngoài, bởi vì nếu sau đó trái tim không thay đổi, mọi thứ khác vẫn như trước ».

Cha sở của một giáo xứ đông người ở vùng Ostia Lido lượng tính rằng « tâm hồn phải được bảo vệ » chống các tính xấu và những ý tưởng xấu, bởi « đấu tranh thiêng liêng », « thanh tẩy ». Giữ gìn trái tim mình, đó cũng là « tìm hiểu tiếng nói nào đến với cuộc sống chúng ta, nếu là tiếng nói đưa dẫn chúng ta đến điều tốt, đến các quan hệ, đến việc cầu xin tha thứ, hay là tiếng nói đến từ kẻ thù và thúc đẩy chúng ta làm ngược lại ».

Tôi càng hiểu biết mình… tôi càng hiểu biết Thiên Chúa

Làm thế nào để lắng nghe Chúa Thánh Thần ? « Điều căn bản, tác giả trả lời, chính là sự hiểu biết về mình, về chúng ta là ai, về điều chúng ta có khả năng, để thấy được những khốn khổ của chúng ta, những thực tế của chúng ta. Đó là một khía cạnh mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô không ngừng nhắc tới. Và như tất cả các thánh đã nói chuyện này với chúng ta, tôi càng biết mình, càng biết những khốn khổ của mình, tôi càng hiểu biết Thiên Chúa, tôi càng biết Thiên Chúa đã hành động cho tôi như thế nào, với lòng thương xót như thế nào, với lòng tốt, với lòng nhân hiền như thế nào ».

Cha Nardin cũng làm tiếng vang của « một trong những bận tâm lớn lao của Đức Giáo Hoàng Phanxicô » : đồng hành thiêng liêng, « không chỉ tùy thuộc các linh mục ». Trong những từ khóa của Đức Giáo Hoàng : lòng thương xót, lòng dịu hiền, Lời của Thiên Chúa vốn là « phương thuốc thực sự » để chữa lành trái tim.

Cuối cùng, trong những bài viết của ngài, Đức Giáo Hoàng khuyến khích « sự hiểu biết trái tim của những người khác » : « Nếu chúng ta không có cái khả năng đi xa hơn những giới hạn mà chúng ta thấy nơi những người anh em đang ở bên ngoài, rõ ràng là chúng ta bị chặn đứng, là chúng ta phán xét và không có thể thấy được những gì Chúa Thánh Thần phán với chúng ta, những dấu chỉ của Người », cha Nardin giải thích.

Avec Hélène Ginabat pour la traduction

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

“Dieu parle au cœur de l’homme”, ou l’Esprit Saint dans l’enseignement du pape – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở « Thiên Chúa nói với tâm hồn con người » hay là Chúa Thánh Thần trong giáo huấn của Đức Giáo Hoàng

Chúa Nhật Lòng Thương Xót – để « nhận được lòng thương xót » và « thi hành lòng thương xót »

Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói với những người Ba Lan

AVRIL 07, 2021 14:43 ANITA BOURDINAUDIENCE GÉNÉRALEPAPE FRANÇOIS

Lòng Thương Xót Chúa Kitô của Vilnius, Litva

Một ngày Chúa Nhật để « nhận lãnh lòng thương xót » của Thiên Chúa và « tỏ lòng thương xót » với người khác : Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nhắc rằng chúa nhật tới, ngày 11/4/2021, là ngày Chúa Nhật Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, được yêu cầu bởi Chúa Kitô qua thánh nữ Faustina Kowalska (1905-1938) và được thiết lập bởi ĐGH Gioan Phaolô II hồi năm 2000. Đức Giáo Hoàng đã kêu gọi « lòng tín thác ».

Khi chào mừng « tất cả mọi người Ba Lan », trong buổi triều kiến chung hôm thứ tư, 07/4 vừa qua, Đức Giáo Hoàng quả đã nói bằng tiếng Ý, trước khi được dịch thuật sang tiếng Ba Lan : « Quý Anh Chị Em thân mến, chúa nhật này chúng ta sẽ mừng lễ Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Khi thiết lập ngày này, Thánh Gioan Phaolô II đã kêu gọi chúng ta rằng « phụng vụ ngày chúa nhật này dường như vạch ra con đường lòng thương xót, vốn trong lúc tái xây dựng quan hệ của mỗi người với Thiên Chúa, cũng khơi lên những quan hệ mới về liên đới huynh đệ giữa con người với nhau » ».

Đức Giáo Hoàng đã viện dẫn mối phúc lòng thương xót : « Chúa Kitô đã dạy chúng ta rằng « con người không chỉ nhận lãnh và trải nghiệm lòng thương xót của Thiên Chúa, nhưng con người cũng được kêu gọi « thực hành lòng thương xót » cho người khác : Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương (Mt 5,7) » ».

Ngài đã kêu gọi có « lòng tin cậy » mà Chúa Giêsu đã kêu gọi khi yêu cầu hàng chữ  « Lậy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa » được kèm theo bức tranh Lòng Thương Xót Chúa Kitô, hiện đang ở Litva, tại thành phố Vilnius : Với lòng tín thác, chúng ta hãy hướng lên Chúa Kitô giầu lòng thương xót và cầu xin ơn tha thứ và tình yêu tích cực đối với tha nhân. Tôi hết lòng ban phép lành cho Quý Anh Chị Em ».

Thánh Nữ Faustina, vị thánh đầu tiên của năm 2000, được biết đến trên toàn cầu, chủ yếu vì đã nhờ họa sĩ Eugeniusz Kazimirowski, theo yêu cầu của Chúa Kitô, và dưới sự kiểm soát của chân phước cha Michal Sopocko, một bức tranh lớn Lòng Thương Xót Đức Kitô  theo sự hiện ra mà thánh nữ đã được ưu tiên, với dòng chữ « Jezu Ufam Tobie » – « Lậy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa ! ». 

Đức Giáo Hoàng Phanxicô, Tranh vẽ Lòng Thương Xót Chúa Giêsu, cuộc gặp gỡ với những người trẻ, Vilnius 2018

Bản gốc bức tranh, được giấu tại Bielorussia trong cuộc Chiếm Đóng của Liên Xô, ngày nay ảnh được tôn kính tại Vilnius trong thánh đường Chúa Ba Ngôi, trở thành Thánh Địa lòng thương xót : thánh địa này mở suốt 24/24 giờ, và hết mọi ngày trong năm.

Thánh địa Vinius, Lòng Thương Xót Chúa Giêsu

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Le Dimanche de la Miséricorde, pour “recevoir la miséricorde” et “faire miséricorde” – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Chúa Nhật Lòng Thương Xót – để « nhận được lòng thương xót » và « thi hành lòng thương xót »

« Cầu nguyện hiệp thông với các thánh » – Bài Giáo Lý thứ 28 về cầu nguyện

« Thánh nhân nhắc Chúa Giêsu với bạn », Đức Giáo Hoàng Phanxicô giải thích (văn bản đầy đủ)

AVRIL 07, 2021 14:03 ANITA BOURDINAUDIENCE GÉNÉRALEPAPE FRANÇOIS

Triều kiến ngày 07/4/2021

« Cầu nguyện hiệp thông với các thánh » : đó là chủ đề Bài Giáo Lý thứ 28 của Đức Giáo Hoàng Phanxicô về cầu nguyện, trong ngày Thứ Tư Phục Sinh, 07/4/2021, từ thư viện riêng của dinh tông tòa tại Vatican.

Đức Giáo Hoàng đã đặc biệt dặn dò cần đến sự trợ giúp của các thánh khi mọi chuyện xấu đi : « Cách thứ nhất đối đầu với một thời điểm lo sợ là yêu cầu các anh em của chúng ta, đặc biệt là các thánh, để họ cầu nguyện cho chúng ta. Ngày mình rửa tội, mình đã được đặt cho một cái tên, đó không phải là một nhãn hiệu hay một đồ trang trí ! Đó thường là tên của Đức Trinh Nữ, của một vị thánh nam hay thánh nữ, các đấng không mong đợi gì ngoài việc ‘‘giúp chúng ta một tay’’ trên đời, giúp chúng ta một tay để được Thiên Chúa ban cho ơn phúc mà chúng ta cần thiết ».

« Nếu trong cuộc đời của chúng ta, những thử thách không quá đáng, nếu chúng ta còn có khả năng kiên trì, nếu bất chấp mọi thứ, chúng ta vẫn đi tới với lòng tin tưởng, có lẽ hơn những công lao của chúng ta, chúng ta nhờ vào sự chuyển cầu của nhiều vị thánh, chắc chắn ở trên Trời, của nhiều khách hành hương như chúng ta trên mặt đất, đã bảo vệ chúng ta và đồng hành với chúng ta », Đức Giáo Hoàng đã lưu ý khi nhắc tới những người mà ngài gọi là « những vị thánh ở nhà bên cạnh ».

Đức Giáo Hoàng đã nói rõ rằng chúng ta đương nhiên là không « tôn thờ » các thánh : « Đó là những chứng nhân mà chúng ta không tôn thờ – đương nhiên, chúng ta không thờ các thánh – nhưng chúng ta tôn kính và các ngài, bằng hàng ngàn cách, đều hướng chúng ta đến với Chúa Giêsu Kitô, Chúa duy nhất và là Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và con người. Một vị thánh mà không hướng bạn đến với Chúa Giêsu Kitô không phải là một vị thánh, cũng chẳng là một người Kitô hữu ». 

« Vị thánh, Đức Giáo Hoàng nói rõ, nhắc Chúa Giêsu với bạn bởi vì đã đi trọn con đường đời như một người Kitô hữu. Các thánh nhắc nhở chúng ta rằng cũng trong cuộc đời, mặc dù yếu đuối và bị dấu ấn bởi tội lỗi, sự thánh thiện vẫn có thể nở hoa ».

Ngài viện dẫn gương của người « trộm lành » trong chuyện Khổ Nạn của Chúa Kitô : « Trong các Phúc Âm, chúng ta đọc thấy rằng vị thánh đầu tiên được « phong thánh » đã là một tên kẻ trộm và ông ta đã được « phong thánh » không phải bởi một Đức Giáo Hoàng, mà bởi đích thân Chúa Giêsu. Sự thánh thiện là một hành trình của cuộc đời, của sự gặp gỡ với Chúa Giêsu, dù là dài hay ngắn, dù là một khoảnh khắc, nhưng đó luôn là một sự làm chứng. Một đấng thánh là sự làm chứng của một người nam hay nữ đã gặp được Chúa Giêsu và đã đi theo Chúa Giêsu. Sẽ không bao giờ quá muộn để trở lại với Chúa, Người nhân từ và vĩ đại trong tình yêu ».

Sau đây là bản dịch chính thức Bài Giáo Lý được ban ra bằng tiếng Ý bởi Đức Giáo Hoàng Phanxicô

AB

Bài Giáo Lý về cầu nguyện – 28. Cầu nguyện hiệp thông với các thánh

Thân chào Quý Anh Chị Em !

Ngày hôm nay, tôi muốn nán lại trên mối quan hệ giữa cầu nguyện và sự hiệp thông với các thánh. Thực tế, khi chúng ta cầu nguyện, chúng ta không bao giờ làm điều đó một mình : dù cho chúng ta không nghĩ tới, nhưng chúng ta cũng đắm mình trong một dòng sông nghi vệ của những cầu khẩn đi trước chúng ta và tiếp tục đến sau chúng ta.

Trong các kinh nguyện mà chúng ta thấy trong Kinh Thánh, và thường hay vang lên trong phụng vụ, có một dấu vết của lịch sử cổ xưa, của sự giải thoát thần kỳ, của những vụ biệt xứ và lưu đầy buồn khổ, những vụ hồi hương cảm động, những lời ca tụng tuôn lên trước những kỳ quan của thiên nhiên… Và như thế, những tiếng nói này đã được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, trong một sự đan xen liên tục của kinh nghiệm cá nhân với kinh nghiệm dân tộc và kinh nghiệm của toàn nhân loại mà chúng ta thống thuộc. Không ai có thể tách ra khỏi lịch sử của chính mình, khỏi lịch sử của chính dân tộc mình, chúng ta luôn mang theo di sản này trong những thói quen của chúng ta và cả trong cầu nguyện. Trong cầu nguyện ca tụng, đặc biệt trong sự cầu nguyện phát sinh từ trái tim của những kẻ bé mọn và khiêm nhường, nó vọng lại cái gì từ bài hát magnificat mà Đức Maria đã dâng lên Thiên Chúa trước mặt bà chị họ Elisabeth ; hay lời thốt lên của ông già Simêon, khi ông ẵm Chúa Giêsu Hài Đồng trên tay và nói rằng « Giờ đây, theo lời Người đã hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi » (Lc 2,29).

Những lời cầu nguyện – những lời cầu tốt lành – mang tính ‘‘lan tỏa’’, chúng lan truyền không ngừng, cùng với hay không những thông điệp trên các ‘‘mạng xã hội’’ : từ những phòng bệnh viện, những giờ phút hội ngộ lễ hội, cũng như những lúc người ta âm thầm đau khổ… Nỗi đau của mỗi người là nỗi đau của mọi người, và hạnh phúc của một người tràn vào tâm hồn những người khác. Sự đau đớn và niềm hạnh phúc là những cơ phận của lịch sử duy nhất : đó là những câu chuyện trở thành lịch sử trong chính cuộc đời chúng ta. Người ta sống lại lịch sử với những từ ngữ riêng của mình, nhưng trải nghiệm vẫn là như cũ.

Lời cầu nguyện luôn tái sinh : mỗi lần chúng ta chắp tay và mở lòng ra với Thiên Chúa, chúng ta thấy mình có bên cạnh những vị thánh vô danh và những vị thánh được công nhận cùng cầu nguyện với chúng ta, và các ngài chuyển cầu cho chúng ta, cũng như những người anh chị cả của chúng ta đã từng trải qua cuộc phiêu lưu làm người với chúng ta. Trong Hội Thánh, không có tang tóc nào bị lẻ loi, không có giọt lệ nào bị đổ ra trong quên lãng, bởi vì mọi người hít thở và chia sẻ từ một ân sủng chung. Không phải ngẫu nhiên mà trong các nhà thờ cổ, các mộ chí nằm trong một khu vườn chung quanh nhà thờ, như thể để nói lên rằng trong các Thánh Lễ, đã tham dự bằng một cách nào đó, đám đông những người đã đi trước chúng ta. Có ông bà, cha mẹ chúng ta, có những cha mẹ đỡ đầu chúng ta, có những giáo lý viên và những nhà giáo dục khác… Niềm tin này được lan truyền, được chuyển đạt, mà chúng ta đã nhận được : cùng với đức tin đã được truyền lại cách cầu nguyện, kinh nguyện.

Các thánh vẫn ở đây, không xa chúng ta ; và những ảnh tượng của các ngài trong các nhà thờ gợi nhớ tới ‘‘đám mây các chứng nhân’’ luôn vây quanh chúng ta (x. Dt 12,1). Đó là những chứng nhân mà chúng ta không tôn thờ – đương nhiên, chúng ta không tôn thờ các thánh này, – nhưng chúng ta tôn kính, và các ngài, bằng hàng ngàn cách, hướng chúng ta tới Chúa Giêsu Kitô, Chúa duy nhất và là Đấng Trung Gian giữa Thiên Chúa và con người. Một thánh nhân mà không hướng chúng ta đến Chúa Giêsu Kitô thì không phải là một vị thánh, cũng chẳng phải là Kitô hữu. Thánh nhân nhắc bạn về Chúa Giêsu bởi vì ngài đã đi hết con đường đời như một Kitô hữu. Các thánh nhắc chúng ta rằng trong cuộc đời của chúng ta cũng thế, dù cho nó yếu đuối và bị đánh dấu bởi tội lỗi, sự thánh thiện vẫn có thể trổ hoa. Trong các sách Phúc Âm, chúng ta đọc được rằng, vị thánh đầu tiên được « phong thánh » đã là một tên kẻ trộm và ông ta đã được « phong thánh » không phải bởi một Đức Giáo Hoàng, mà bởi đích thân Chúa Giêsu. Sự thánh thiện là một hành trình của cuộc đời, của sự gặp gỡ với Chúa Giêsu, dù là dài hay ngắn, dù là một khoảnh khắc, nhưng đó luôn là một sự làm chứng. Một đấng thánh là sự làm chứng của một người nam hay nữ đã gặp được Chúa Giêsu và đã đi theo Chúa Giêsu. Sẽ không bao giờ quá muộn để trở lại với Chúa, Người nhân từ và vĩ đại trong tình yêu.

Sách Giáo Lý Của Hội Thánh Công Giáo giải thích rằng các thánh « chiêm ngưỡng Thiên Chúa, ca tụng Ngài và không ngừng chăm sóc những người còn ở trần gian […]. Sự chuyển cầu của các ngài là việc các ngài phục vụ kế hoạch của Thiên Chúa cách cao cả nhất. Chúng ta có thể và phải cầu nguyện để các ngài chuyển cầu cho chúng ta và cho toàn thế giới » (SGL, 2683). Trong Đức Kitô, có một sự liên đới huyền diệu giữa những người đã qua đời và chúng ta là các khách hành hương trong cuộc đời này : từ trên Trời, những người thân yêu của chúng ta đã qua đời tiếp tục chăm sóc chúng ta. Họ cầu nguyện cho chúng ta và chúng ta cầu nguyện cho họ, và chúng ta cầu nguyện cùng với họ.

Mối dây cầu nguyện giữa chúng ta và các thánh, nghĩa là giữa chúng ta và những người đã đạt tới sự viên mãn của cuộc đời, mối dây cầu nguyện này, chúng ta đã trải nghiệm ở đây, trong đời sống trên trần gian, chúng ta cầu nguyện cho nhau, chúng ta cầu xin và dâng lời cầu nguyện… Cách đầu tiên để cầu nguyện cho người nào là nói về người đó với Thiên Chúa. Nếu chúng ta làm điều này thường xuyên, mỗi ngày, thì lòng chúng ta sẽ không khép lại, nó luôn mở ra cho những người anh em của chúng ta. Cầu nguyện cho những người khác là cách đầu tiên để yêu mến họ và thúc đẩy chúng ta đến sự gần gũi cụ thể. Ngay cả trong những lúc tranh chấp, một cách để tháo gỡ sự tranh chấp, làm dịu nó, là cầu nguyện cho người mà tôi có tranh chấp. Và có chuyện gì thay đổi với cầu nguyện. Chuyện đầu tiên thay đổi trong lòng tôi là thái độ của tôi. Chúa làm nó thay đổi để làm cho cuộc gặp gỡ có thể xẩy ra, một sự gặp gỡ mới và tránh để cho tranh chấp trở thành một cuộc chiến tranh vô tận.

Cách thức đầu tiên để đối đầu với một thời điểm lo sợ là yêu cầu những người anh em của chúng ta, đặc biệt là các thánh, để họ cầu nguyện cho chúng ta. Cái tên mà chúng ta được đặt khi chịu phép Rửa Tội không phải là một nhãn hiệu hay một thứ đồ trang sức. Nếu trong cuộc đời chúng ta, những thử thách không thái quá, nếu chúng ta còn có khả năng kiên trì, nếu bất chấp mọi thứ, chúng ta tiến tới với lòng tin cậy, có lẽ tất cả chúng ta đều nhờ, vào công lao của chúng ta thì ít, mà vào lời chuyển cầu của nhiều các thánh, chắc chắn đang ở trên Trời, của những khách hành hương khác giống như chúng ta trên cõi thế này, đã che chở cho chúng ta và đồng hành với chúng ta, bởi vì tất cả chúng ta đều biết rằng ở nơi này, trên cõi thế này, có những con người thánh thiện, những người nam và nữ thánh thiện đang sống trong sự thánh thiện. Họ không biết, chúng ta cũng không biết, nhưng có những người thánh thiện của mọi ngày, những vị thánh ẩn dật hay, như tôi thích nói, các « thánh ở nhà bên cạnh », những người đang chia sẻ cuộc sống với chúng ta, họ làm việc với chúng ta và họ đã có một đời sống thánh thiện.

Chúc tụng Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc duy nhất của thế gian, với sự nở hoa mênh mông của các thánh nam, nữ, đang sống trên trần gian và họ đã biến cuộc đời họ thành một sự ca ngợi Thiên Chúa. Bởi vì – như thánh Basile đã khẳng định – « Theo Chúa Thánh Thần, người thánh là một chỗ ở đặc biệt phù hợp, bởi vì nó tự hiến để ở với Thiên Chúa và nó đã được gọi là Đền Thờ của Người » (Liber de Spiritu Sancto, 26,62 : PG 32, 184A ; x. SGL 2684).

Copyright – Librairie éditrice du Vatican 

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

https://fr.zenit.org/2021/04/07/prier-en-communion-avec-les-saints-28e-catechese-du-pape-francois-sur-la-priere-texte-complet/

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở « Cầu nguyện hiệp thông với các thánh » – Bài Giáo Lý thứ 28 về cầu nguyện

« Chỉ một thiên thần mới có thể loan báo ‘Chúa Giêsu đã trỗi dậy’ »

Đức Giáo Hoàng Phanxicô gợi nhớ « ngày thứ hai thiên thần » (bản dịch đầy đủ)

AVRIL 05, 2021 21:40 ANITA BOURDINANGÉLUSPAPE FRANÇOIS

Phục Sinh, Các phụ nữ tại Mộ Chúa

« Đây là loan báo Phục Sinh : « Đức Kitô hằng sống, Đức Kitô đi cùng đời sống của tôi, Chúa Kitô ở bên cạnh tôi ». Chúa Kitô gõ cửa trái tim tôi bởi vì nó để Người vào, Chúa Kitô hằng sống. Trong những ngày lễ Phục Sinh, điều này sẽ làm chúng ta nhắc lại : « Chúa hằng sống ! » : Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã loan báo niềm vui Phục Sinh trước kinh kính Đức Mẹ Maria ngày thứ hai Phục Sinh, ngày 05/4/2021.

Từ trong thư viện riêng của dinh tông tòa Vatican, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nhắc nhở rằng tại Ý, ngày thứ hai này được gọi là « Thứ Hai Thiên Thần » : « Ngày thứ hai sau Lễ Phục Sinh cũng được gọi là « Thứ Hai Thiên Thần », bởi vì nó nhắc chúng ta nhớ lại cuộc gặp gỡ của thiên thần và các bà tới mộ Chúa Giêsu. Thiên thần đã nói với các bà rằng : « Tôi biết các bà tìm Đức Giêsu, Đấng bị đóng đinh. Người không có ở đây, Người đã trỗi dậy ». Cụm từ « Người đã trỗi dậy » vượt ra ngoài khả năng con người ».

Đức Giáo Hoàng đã giải thích rằng « dù các bà đã đi ra mộ và đã thấy mộ bị mở ra và trống rỗng, các bà cũng không thể khẳng định : « Người đã trỗi dậy », nhưng chỉ dám nói rằng mộ trống rỗng » : « Rằng Chúa Giêsu đã phục sinh, chỉ có một thiên thần mới có thể nói được với quyền lực của một sứ giả của Trời, với quyền lực được Thiên Chúa ban cho để nói lên điều đó, cũng giống như một thiên thần – chỉ có một thiên thần – mới có thể nói với Đức Maria, : « Và này đây, bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai […] và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao » (Lc 1, 31-32). Chính vì điều này mà chúng ta nói rằng « đây là thứ hai thiên thần » bởi vì chỉ có một thiên thần mới có thể nói, nhờ sức mạnh của Thiên Chúa, rằng : « Chúa Giêsu đã trỗi dậy ».

Sau đây là bản dịch nhanh những lời của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

AB

Lời Đức Giáo Hoàng Phanxicô trước Kinh Lậy Nữ Vương Thiên Đàng

Thân chào Quý Anh Chị Em !

Thứ hai sau lễ Phục Sinh cũng được gọi là « Thứ Hai Thiên Thần », bởi vì nó nhắc chúng ta nhớ tới cuộc gặp gỡ của thiên thần với các bà đến mộ của Chúa Giêsu (x. Mt 28, 1-15). Thiên thần nói với các bà : « Tôi biết các bà tìm Đức Giêsu, Đấng bị đóng đinh. Người không có ở đây, Người đã trỗi dậy » (c.5-6). Câu nói này : « Người đã trỗi dậy » đi xa hơn những khả năng con người. Ngay cả các bà đã ra mộ và thấy mộ đã được mở ra và trống rỗng, thì cũng chẳng thể nói được rằng « Người đã trỗi dậy », mà chỉ nói rằng mộ trống rỗng. Nói rằng đã phục sinh, chỉ có một thiên thần mới có thể nói lên với quyền lực là một thiên sứ từ Trời sai xuống, với quyền lực được Thiên Chúa ban cho để nói lên điều đó, cũng giống như một thiên thần – chỉ có một thiên thần –  đã có thể nói với Đức Maria : « Và này đây, bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai […] và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao » (Lc 1, 31-32). Chính vì lý do này mà chúng ta nói đây là ngày « Thứ Hai Thiên Thần » bởi vì chỉ có một thiên thần mới có thể nói nhờ sức mạnh của Thiên Chúa  rằng « Chúa Giêsu đã sống lại ».

Thánh sử gia Máthêu kể rằng trong bình minh hôm lễ Phục Sinh, đã có một trận động đất dữ dội. Quả thế, một thiên thần của Chúa đã xuống từ trời, đã đến gần, đã lăn tảng đã sang bên và ngồi lên trên đó (x. Mt 28, 2). Tảng đá lớn này, đáng lẽ đã là dấu ấn chiến thắng của sự ác và của sự chết, đã bị đạp dưới chân, trở thành chiếc ghế ngồi cho thiên thần của Chúa. Tất cả các mưu kế và những sự phòng thủ của kẻ thù và những kẻ bách hại Chúa Giêsu đã trở thành vô dụng. Tất cả các dấu ấn đều bị rơi rụng. Hình ảnh thiên thần ngồi trên tảng đá của huyệt mộ chính là sự thể hiện cụ thể, hiển nhiên, chiến thắng của Thiên Chúa trên sự ác, sự thể hiện chiến thắng của Chúa Kitô trên thần chủ thế gian, sự thể hiện chiến thắng của ánh sáng trên bóng tối. Mộ huyệt của Chúa Giêsu đã không được mở ra bởi một hiện tượng vật lý, mà bởi sự can thiệp của Chúa. Sự hiện ra của thiên thần, thánh Mathêu nói thêm, « như ánh chớp và y phục trắng như tuyết » (c.3). Những chi tiết đó là những biểu tượng khẳng định sự can thiệp của chính Thiên Chúa, mang tới một kỷ nguyên mới, những thời gian cuối cùng của lịch sử, bởi vì với sự sống lại của Chúa Giêsu, bắt đầu những thời gian cuối của lịch sử, nó có thể kéo dài hàng ngàn năm, nhưng đó là thời gian cuối cùng.

Đối diện với sự can thiệp này của Thiên Chúa, có một phản ứng kép. Phản ứng của những lính canh, họ đã không thể đương đầu với sức mạnh vũ bão của Thiên Chúa và đã bị hoảng hốt bởi vụ động đất trong lòng họ : họ đã bị chết ngất đi (x. c.4). Quyền năng của sự phục sinh hạ gục những gì đã được sử dụng để bảo đảm chiến thắng bề ngoài của sự chết. Và những lính canh đã phải làm công việc gì ? Đi tới những kẻ ra lệnh cho họ canh giữ và nói với họ sự thật. Họ đứng trước một sự lựa chọn : hoặc là nói sự thật hoặc là để bị thuyết phục bởi những kẻ đã cho họ nhiệm vụ canh gác. Và phương tiên duy nhất để thuyết phục là tiền bạc, và những kẻ nghèo nàn, những kẻ khốn khổ, đã bán sự thật và khi bỏ tiền vào túi, chúng đi nói rằng : « Không, các môn đệ của ông ta đã đến ăn trộm xác ông ta ». « Ông Chủ » tiền bạc, ở đây cũng thế, trong sự phục sinh của Chúa Kitô, cũng có khả năng để chối bỏ. Phản ứng của các bà thì rất khác, bởi vì các bà đã được sốt sắng mời gọi bởi thiên thần của Chúa là đừng sợ hãi : « Các bà đừng sợ ! » (c.5). Và đừng đi tìm Chúa Giêsu trong mộ nữa. Và sau cùng, các bà đã không còn sợ.

Từ những lời của thiên thần, chúng ta có thể gặt hái được một giáo huấn quý giá : chúng ta đừng bao giờ mệt mỏi khi đi tìm Chúa Kitô phục sinh, Đấng ban cho sự sống dư thừa cho những ai gặp được Người. Tìm kiếm Chúa Kitô có nghĩa là khám phá ra sự bình an trong tâm hồn. Cũng là những bà trong Phúc Âm, sau hoang mang lúc đầu, có thể hiểu được, đã cảm thấy một niềm vui to lớn khi thấy Thầy mình còn sống (x. c.8-9). Trong Mùa Phục Sinh này, tôi cầu chúc cho mọi người có được cùng một trải nghiệm tinh thần, khi đón nhận lời loan báo Phục Sinh trong tâm hồn mình, trong nhà mình và trong các gia đình : « Chúa Kitô phục sinh không chết nữa, cái chết không còn quyền năng gì trên Người nữa » (Ca chịu lễ). Sau đây là lời loan báo Phục Sinh : « Chúa Kitô hằng sống, Chúa Kitô đồng hành với cuộc đời của tôi, Chúa Kitô ở bên cạnh tôi ». Chúa Kitô gõ cửa trái tim tôi bởi vì nó để Người vào, Chúa Kitô hằng sống. Trong những ngày Phục Sinh này, điều đó sẽ được nhắc lại « Chúa hằng sống ! » 

Sự xác tín này thúc đẩy chúng ta cầu nguyện, ngày hôm nay và suốt trong mùa Phục Sinh : « Regina Caeli, Laetare – nghĩa là Lậy Nữ Vương Thiên Đàng, Hãy vui mừng ». Thiên thần Gabriel lần đầu đã chào Mẹ như thế : « Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng ! » (Lc 1,28). Bây giờ, niềm vui của Đức Mẹ Maria là tràn đầy : Chúa Giêsu hằng sống, tình yêu chiến thắng. Mong rằng đó cũng là niềm vui của chúng ta.

Copyright – Traduction de Zenit, Anita Bourdin

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

https://fr.zenit.org/2021/04/05/seul-un-ange-peut-annoncer-jesus-est-ressuscite-traduction-complete/

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở « Chỉ một thiên thần mới có thể loan báo ‘Chúa Giêsu đã trỗi dậy’ »

Làm chứng « về niềm vui và sự bình an » của Chúa Kitô phục sinh

Lời khuyến khích của Đức Giáo Hoàng sau « Kinh Lậy Nữ Vương Thiên Đàng »

AVRIL 05, 2021 14:10 ANITA BOURDINANGÉLUSPAPE FRANÇOIS

Kinh Lậy Nữ Vương Thiên Đàng ngày 05/4/2021

Đức Giáo Hoàng Phanxicô khuyến khích những người đã chịu Phép Rửa hãy làm chứng « cho niềm vui và sự bình an » của Chúa Kitô phục sinh, trong mùa Phục Sinh này : một thông điệp của ngày thứ hai « Thiên Thần » 05/4/2021 này, sau kinh kính Đức Mẹ Maria « Lậy Nữ Vương Thiên Đàng », kinh thay thế Kinh Truyền Tin trong thời gian phụng vụ của lễ Phục Sinh.

« Trong bầu không khí phục sinh đặc trưng ngày hôm nay, tôi thân ái chào mừng tất cả Quý Anh Chị Em đang tham dự giờ cầu nguyện này nhờ vào những phương tiện truyền thông xã hội », Đức Giáo Hoàng nói từ trong thư viện riêng của dinh tông tòa tại Vatican.

Đức Giáo Hoàng cũng đã đặc biệt khuyến khích các bệnh nhân và những người già : Suy nghĩ của tôi xin gửi trước hết đến những người lớn tuổi, những bệnh nhân, kết nối từ nhà riêng của họ hay từ những nhà hưu dưỡng. Tôi xin gửi đến họ một lời khuyến khích và tạ ơn vì sự làm chứng của họ. Tôi rất gần gũi với họ.

Đức Giáo Hoàng khuyến khích những người đã chịu Phép Rửa hãy làm chứng « sự vui mừng và bình an » của Chúa Kitô : « Với tất cả mọi người, tôi cầu chúc đi vào đức tin trong những ngày này của tuần bát nhật Phục Sinh đang kéo dài ký ức sự sống lại của Chúa Kitô. Quý Anh Chị Em hãy nắm lấy những cơ hội thuận lợi để làm chứng cho niềm vui và sự bình an của Chúa phục sinh. Chúc mừng lễ Phục Sinh tốt đẹp, an lành và thánh đức cho tất cả mọi người ! ».

Đức Giáo Hoàng đã không quên yêu cầu kinh nguyện của người công giáo : « Xin Quý Anh Chị Em vui lòng, đừng quên cầu nguyện cho tôi ».

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit. 

Témoigner “de la joie et de la paix” du Christ” ressuscité – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Làm chứng « về niềm vui và sự bình an » của Chúa Kitô phục sinh

Urbi et Orbi « Ở nơi có chết chóc, bây giờ có sự sống »

« Hận thù chỉ có thể bị thanh toán bằng tình yêu »

AVRIL 04, 2021 12:37 ANNE KURIAN-MONTABONEPAPE FRANÇOIS

Phục Sinh, 04/4/2021

« Ở nơi có chết chóc, bây giờ có sự sống, ở nơi có tang tóc, bây giờ có ủi an », Đức Giáo Hoàng Phanxicô tuyên bố trong ngày Lễ Phục Sinh, ngày chúa nhật 04/4/2021.

Lời loan báo Phục Sinh, ngài khẳng định khi cử hành phép lành truyền thống Urbi et Orbi từ Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô, không phải là « một ảo ảnh », cũng không phải « một câu thần chú », cũng không phải là « một lối thoát » mà nó là « một biến cố mang đến hy vọng không làm thất vọng : ‘‘Chúa Giêsu, Đấng bị đóng đinh, đã sống lại’’ ».

Và « Đức Kitô phục sinh là hy vọng cho tất cả những người đau khổ », ngài bảo đảm, trước khi bầy tỏ sự ân cần của ngài đối với « các di dân chạy trốn chiến tranh và sự khốn khổ », nước Lebanon, nước Jordania, nước Syria, nước Yemen, nước Libya, Đất Thánh, nước Irak, vùng Sahel, nước Nigeria, vùng Tigrê và Cabo Delgado, Ukraina và vùng Thượng Karabakh.

« Còn có quá nhiều chiến tranh và quá nhiều bạo lực trên thế giới ! » Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã lấy làm tiếc, ngài cũng đã cầu mong bài trừ các « dụng cụ giết người » vì « thù hận chỉ có thể thanh toán bằng tình yêu ». 

Ngài cũng lo lắng đặc biệt đến các Kitô hữu bị đặt dưới « những hạn chế khắc nghiệt », ngài biện hộ cho quyền tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo để « ‘mỗi người đều phải được cầu nguyện và ca ngợi Thiên Chúa một cách tự do ».

Sau đây là toàn văn bản thông điệp Phục Sinh của ngài, được tuyên đọc lần thứ nhì liên tiếp từ trong Vương Cung Thánh Đường, và không phải từ trên bao lơn trông xuống Quảng Trường Thánh Phêrô, đã bị đóng lại với công chúng vì lý do những biện pháp giãn cách tại Rôma.

Thông Điệp Urbi et Orbi

Quý Anh Chị Em thân mến, chúc mừng Phục Sinh vui vẻ, thánh đức và an lành !

Hôm nay vang lên khắp nơi trên thế giới lời loan báo của Hội Thánh : ‘‘Chúa Giêsu, Đấng bị đóng đinh đã phục sinh như lời Người đã phán. Allêluia’’.

Sự loan báo Phục Sinh không đưa ra một ảo ảnh, nó không bộc lộ một câu thần chú, nó không chỉ ra một lối thoát trước tình hình khó khăn mà chúng ta đang trải qua. Nạn đại dịch còn đang hoành hành ; cuộc khủng hoảng xã hội và kinh tế rất là nặng nề, đặc biệt đối với những người nghèo nhất ; mặc cho như thế – và thật là bê bối – các cuộc tranh chấp vũ trang vẫn không chấm dứt và các kho vũ khí vẫn được tăng cường. Đó là điều bê bối của ngày hôm nay.

Trước, hay đúng hơn là ở giữa cái thực tế phức tạp này, lời loan báo Phục Sinh chất chứa dưới một số chữ, một biến cố mang đến hy vọng không làm thất vọng : ‘‘Chúa Giêsu, Đấng bị đóng đinh, đã sống lại’’. Lời thông báo đó không nói với chúng ta về thiên thần hay ma quái, nhưng nói về một người, một con người bằng xương bằng thịt, với một khuôn mặt và một danh tính là : Giêsu. Phúc Âm khẳng định rằng Chúa Giêsu đó, bị đóng đinh dưới thời Tổng Trấn Pilatô vì đã tuyên xưng mình là Đấng Cứu Thế, Con của Thiên Chúa, đã sống lại vào ngày thứ ba, theo các Sách Thánh và như Người đã tiên báo với các môn đệ của Người.

Đấng bị đóng đinh, không phải người khác, đã phục sinh. Thiên Chúa Cha đã làm cho Con Giêsu của mình sống lại bởi vì Người đã hoàn tất đến cùng ý muốn cứu độ của Người : Người đã gánh lấy trên mình sự yếu đuối của chúng ta, những tật nguyền của chúng ta, cái chết của chính chúng ta ; Người đã chịu những đau đớn của chúng ta, Người đã mang lấy gánh nặng những điều bỉ ổi của chúng ta. Bởi thế Thiên Chúa Cha đã tán dương Người và bây giờ Chúa Giêsu Kitô hằng sống, Người là Chúa.

Và các chứng nhân đã kể lại một chi tiết quan trọng : Chúa Giêsu phục sinh mang theo dấu ấn các vết thương trên hai tay, hai chân và cạnh sườn. Những thương tích đó là dấu ấn đời đời của tình yêu Người danh cho chúng ta. Bất cứ ai là người đã chịu đựng những thử thách khắc nghiệt, trong thân xác và trong tinh thần, có thể tìm sự ẩn náu trong những thương tích đó, nhận được qua các thương tích đó ơn sủng hy vọng không làm thất vọng.

Đức Kitô phục sinh là niềm hy vọng cho tất cả những ai còn đau khổ bởi vì đại dịch, cho những người bệnh và cho những ai đã mất đi một người thân. Cầu xin Chúa an ủi họ và nâng đỡ những nỗ lực của các bác sĩ và y tá. Tất cả mọi người, đặc biệt là những người mong manh nhất, đều cần đến sự trợ giúp và có quyền tiếp cận những sự chăm sóc cần thiết. Điều này càng đương nhiên hơn vào thời điểm mà tất cả chúng ta đang được kêu gọi đấu tranh chống đại dịch và là thời điểm mà các thuốc chủng ngừa trở thành một khí cụ cốt yếu trong cuộc đấu tranh này. Trong tinh thần của một ‘‘thuyết quốc tế hóa thuốc chủng ngừa’’, tôi kêu gọi toàn thể Cộng Đồng Quốc Tế tham gia vào một cuộc dấn thân chia sẻ nhằm vượt lên mọi chậm trễ trong việc phân phối thuốc chủng và tạo thuận lợi cho sự chia sẻ, đặc biệt là với các nước nghèo nhất.

Đấng bị đóng đinh là một sự an ủi cho những người đã mất việc làm hay đang trải qua những khó khăn kinh tế trầm trọng và đang không có sự bảo hiểm xã hội thích đáng. Cầu xin Chúa soi sáng hoạt động của các giới công quyền để cho tất cả, đặc biệt là cho các gia đình nghèo khó nhất, được trợ giúp những thứ cần thiết để họ sinh sống đầy đủ. Đại dịch đã làm gia tăng một cách đáng tiếc số người nghèo khó và sự thất vọng của hàng ngàn con người.

Thánh Gioan Phaolô II trong chuyến tông du Haiti đã nói : « Tất cả những người nghèo thuộc đủ loại phải hy vọng trở lại ». Chính xác là đối với dân Haiti mà tư tưởng và sự khuyến khích của tôi ngày hôm nay được gửi tới họ, để họ không bị thua cuộc bởi những khó khăn nhưng họ nhìn đến tương lai với lòng tin tưởng và hy vọng. (…) Tôi gần gũi với Quý Anh Chị Em, và tôi muốn rằng những vấn đề sẽ được giải quyết dứt khoát đối với Quý Anh Chị Em.

Chúa Giêsu phục sinh cũng là niềm hy vọng cho nhiều người trẻ đã bị bắt buộc phải trải qua những thời gian dài không được đến trường hay đến Đại Học cũng như không được chia sẻ thời gian với bạn bè của họ. Tất cả chúng ta đều cần được sống những quan hệ nhân bản thực sự chứ không chỉ là những quan hệ ảo, đặc biệt là ở cái tuổi mà cá tính và nhân phẩm đang hình thành. (…) Tôi gần gũi với các bạn trẻ trên toàn thế giới và, trong giờ phút này, đặc biệt là với các bạn trẻ ở Miến Điện, họ đang dấn thân cho nền dân chủ bằng cách nói lên một cách ôn hòa tiếng nói của họ, ý thức được rằng hận thù chỉ có thể thanh toán được bằng tình yêu

Mong rằng ánh sáng của Đấng Phục Sinh là nguồn mạch của sự tái sinh cho những người di dân chạy trốn chiến tranh và nghèo khổ. Trên gương mặt của họ, chúng ta nhận ra được dung nhan bị biến dạng và đau đớn của Chúa trên đường đi lên đồi Canve. Mong rằng họ không thiếu những chỉ dấu cụ thể của sự liên đới và tình huynh đệ nhân bản, bằng chứng sự chiến thắng của sự sống trên sự chết mà chúng  ta cử hành ngày hôm nay. Tôi cảm ơn các quốc gia đã đón nhận với lòng quảng đại những người đang đau khổ và đang đi tìm nơi tỵ nạn, đặc biệt là nước Lebanon và Jordania đã đón nhận rất đông người tỵ nạn chạy loạn trong cuộc chiến tại Syria.

Mong rằng dân tộc Lebanon, đã trải qua một giai đoạn khó khăn và hoang mang, trải nghiệm sự an ủi của Chúa Phục Sinh và được nâng đỡ bởi Cộng Đồng Quốc Tế trong ơn gọi là một vùng đất của gặp gỡ, của chung sống và của đa nguyên.

Mong rằng Đức Kitô, sự bình an của chúng ta, cuối cùng cũng làm im tiếng súng trong nước Syria thân yêu và tử đạo, nơi hàng triệu con người đang phải sống trong những điều kiện vô nhân đạo, cũng như tại Yêmen mà các biến cố đã bị bao bọc bởi một sự im lặng không chấp nhận được, và tại Libya nơi mà cuối cùng, người ta thoáng thấy được sự thoát ra của một thập niên tranh chấp và đụng độ đẫm máu. Mong rằng các bên liên hệ tham gia cụ thể để chấm dứt những tranh chấp và cho phép các dân tộc đã kiệt sức vì chiến tranh được sống trong hòa bình và bắt đầu tái thiết đất nước của họ.

Sự Phục Sinh dẫn đưa chúng ta một cách tự nhiên tới Giêrusalem. Cho thành này, chúng ta khẩn cầu Chúa sự hòa bình và yên ổn (x. Tv 122), để nó đáp lại tiếng gọi trở  thành một nơi của gặp gỡ, ở đó tất cả mọi người cảm thấy mình là anh em, và ở đó người Israel và người Palestine tìm lại được sức mạnh của đối thoại để tiến đến một giải pháp ổn định, để nó thấy được hai quốc gia sống bên cạnh nhau trong hòa bình và thịnh vượng.

Trong ngày lễ này, suy nghĩ của tôi cũng hướng về nước Irak mà tôi đã có niềm vui đến thăm hồi tháng qua, và tôi cầu nguyện để có thể tiếp tục con đường bình định đã bắt đầu, để cho được thực hiện giấc mơ của Thiên Chúa về một gia đình nhân loại hiếu khách và niềm nở với tất cả con cái của mình.

Mong rằng sức mạnh của Đấng Phục Sinh nâng đỡ các dân tộc Phi Châu đang thấy tương lai của mình bị đe dọa bởi những bạo lực nội bộ và bởi chủ nghĩa khủng bố quốc tế, đặc biệt là tại vùng Sahel và tại nước Nigeria, cũng như trong vùng lãnh thổ Tigrê và Cabo Delgado. Mong rằng những nỗ lực tiếp tục để tìm được những giải pháp ôn hòa cho các cuộc tranh chấp, trong sự tôn trọng các quyền con người và tính thiêng liêng của sự sống, bằng một cuộc đối thoại huynh đệ và xây dựng trong một tinh thần hòa giải và liên đới thực tế.

Có quá nhiều chiến tranh và quá nhiều bạo lực trên thế giới ! Cầu xin Chúa, vốn là sự hòa bình của chúng ta, phù giúp chúng ta chiến thắng tư duy chiến tranh. Cầu xin Người  ban cho tất cả những người bị tù hãm trong các cuộc tranh chấp, đặc biệt là ở miền Đông Ukraina và ở vùng Thượng Karabakh, được an toàn trở về gia đình của họ, cầu xin Người soi sáng những người lãnh đạo trên toàn thế giới hãy hạn chế cuộc chạy đua vũ khí tân tiến. Ngày hôm nay, 04/4/2021, chính là Ngày Thế Giới Chống Mìn Cá Nhân, những khí giới độc địa và đáng sợ, chúng giết chết và gây thương tật mỗi năm nhiều người vô tội và ngăn cản nhân loại « cùng nhau bước đi trên những con đường đời, không sợ hãi những cạm bẫy gây đổ vỡ và chết chóc ». Một thế giới không có những khí cụ chết người đó sẽ tốt đẹp hơn biết bao !

Quý Anh Chị Em thân mến, năm nay nữa, ở nhiều nơi, nhiều Kitô hữu đã cử hành Lễ Phục Sinh với những hạn chế mạnh mẽ, và đôi khi, không thể đến được với những cuộc cử hành phụng vụ. Chúng ta hãy cầu nguyện để những hạn chế đó, cũng như mọi sự hạn chế đối với tự do thờ phượng và tự do tôn giáo trên thế giới, có thể được bãi bỏ và mỗi người được quyền cầu nguyện và ca ngợi Thiên Chúa một cách tự do.

Giữa muôn ngàn khó khăn mà chúng ta đang trải qua, chúng ta đừng bao giờ quên rằng chúng ta được chữa lành bởi những thương tích của Chúa Kitô (x. 1Pr 2,24). Dưới ánh sáng của Đấng Phục Sinh, những đau khổ của chúng ta đã được biến đổi. Ở nơi đã có chết chóc, bây giờ đang có sự sống, ở nơi đã có tang tóc, bây giờ đang có ủi an. Bằng cách ôm lấy Thánh Giá, Chúa Giêsu đã ban một ý nghĩa cho những đau khổ của chúng ta và bây giờ, chúng ta hãy cầu nguyện để cho những tác dụng tốt lành của sự chữa lành đó lan rộng ra khắp thế giới.

Chúc Lễ Phục Sinh tốt đẹp, thánh đức và an lành !

© Librairie éditrice du Vatican

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Urbi et Orbi : “Là où il y avait mort, il y a maintenant vie” (texte intégral) – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Urbi et Orbi « Ở nơi có chết chóc, bây giờ có sự sống »

Vọng Phục Sinh – Thiên Chúa không phải là « một ký ức tuổi thơ » Người ngự « trong hoàn cảnh bạn sống »

Bài giảng của Đức Giáo Hoàng Phanxicô (Toàn văn)

AVRIL 03, 2021 21:03 ANNE KURIAN-MONTABONEPAPE FRANÇOIS

Canh thức vọng Phục Sinh, 03/4/2021

« Thiên Chúa không thể được xếp vào ngăn những ký ức của tuổi thơ », Người « đang sống », Người « luôn gây ngạc nhiên », Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã khẳng định trong đêm canh thức vọng Phục Sinh do ngài chủ sự hôm 03/4/2021 trong Đền Thánh Phêrô : « Người bước đi với bạn mỗi ngày, trong hoàn cảnh bạn đang sống, trong sự thử thách bạn đang trải qua, trong những giấc mơ mà bạn mang trong mình ».

« Nhiều người sống ‘‘đức tin của kỷ niệm’’, như thể Chúa Giêsu là một nhân vật của quá khứ, một người bạn lúc còn trẻ mà bây giờ xa xôi rồi, là một sự kiện xẩy ra lâu rồi, khi tôi đi học giáo lý lúc còn bé », ngài đã lưu ý trong bài giảng của ngài : nhưng « đức tin, để được sống động, phải tiếp tục lên đường. Nó phải làm sống lại mỗi ngày lúc đầu của cuộc hành trình, sự ngạc nhiên của cuộc gặp gỡ đầu tiên ».

Với khoảng 200 người chung quanh tham dự buổi cử hành trong lúc Rôma đang trong tình trạng giãn cách, Đức Giáo Hoàng đã suy niệm về « ba lời loan báo » của Lễ Phục Sinh, ngài khẳng định rằng « luôn có thể bắt đầu lại » vì « tình yêu vô biên của Chúa… vạch ra những lối đi mới » kể cả giữa những « mảnh vỡ thảm hại của nhân loại chúng ta » ;  

« Với Người, cuộc đời sẽ thay đổi, ngài đoan chắc. Bởi vì bên kia của mọi thất bại, của điều ác và của bạo lực, bên kia của mọi đau khổ và bên kia của sự chết, Đấng Phục Sinh sống và lãnh đạo lịch sử ».

« Sự cao cả của Thiên Chúa thể hiện trong cái bé mọn, bằng cách mà vẻ đẹp của Người bừng sáng trong những con người đơn sơ và trong những người nghèo khó », ngài nhấn mạnh trong bài suy ngẫm của ngài, mà sau đây là bản dịch toàn văn.

Bài giảng của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Các bà đã nghĩ rằng sẽ thấy xác chết để xức dầu, trái lại, các bà đã thấy một ngôi mộ trống rỗng. Các bà tính đi khóc thương một người chết, trái lại, các bà đã nghe được một lời loan báo sự sống. Bởi thế, Phúc Âm nói, các bà này « đã hết hồn hết vía » (Mc 16,8).

Sự ngạc nhiên : ở đây chính là sự hoảng sợ pha lẫn sự mừng vui, làm các bà ngỡ ngàng khi nhìn thấy tảng đá lớn của ngôi mộ đã bị vần ra và bên trong có một thanh niên mặc áo trắng. Chính sự ngạc nhiên đã nghe được những lời này : « Đừng hoảng sợ ! Các bà tìm Đức Giêsu Nazareth, Đấng bị đóng đinh chứ gì ? Người đã trỗi dậy rồi » (c.6). Và rồi lời mời gọi : « Người sẽ đến Galilê trước các ông. Ở đó các ông sẽ được thấy Người » (c.7). Chúng ta cũng hãy đón nhận lời mời gọi này, lời mời gọi Phục Sinh : chúng ta hãy đi Galilê nơi Chúa Phục Sinh đi trước chúng ta. Nhưng « đi đến Galilê » có nghĩa là gì ?

Đi đến Galilê trước hết, có nghĩa là bắt đầu lại. Đối với các môn đệ chính là trở lại chốn cũ, nơi mà lần đầu tiên, Chúa đã tìm kiếm họ và đã kêu gọi họ đi theo Người. Chính là nơi của sự gặp gỡ đầu tiên và của tình yêu ban đầu. Kể từ giờ phút đó, bỏ lại chài lưới, họ đã đi theo Chúa Giêsu, lắng nghe lời giảng dạy của Người và tham dự vào những điều lạ lùng Người đã làm. Tuy nhiên, dù là luôn ở với Người, họ đã không hiểu tất cả, nhiều khi họ còn hiểu sai những lời của Người và ở trước thập giá, họ đã chạy trốn, bỏ Người một mình. Mặc dù sự thất bại đó, Chúa Phục Sinh thể hiện mình như Đấng, một lần nữa, đã đến trước họ ở Galilê ; đến trước họ, nghĩa là đứng trước mặt họ. Người gọi họ và mời họ đi theo Người, không bao giờ mệt mỏi. Đấng Phục Sinh phán với họ : ‘‘Chúng ta hãy tái xuất phát từ nơi chúng ta đã bắt đầu. Chúng ta hãy bắt đầu lại. Thầy muốn anh em lại đến với Thầy, mặc dù và sau tất cả những thất bại’’. Trong vùng Galilê đó, chúng ta học được sự ngạc nhiên về tình yêu vô biên của Chúa, Đấng đã vạch ra những lối đi mới bên trong những con đường thất bại của chúng ta.

Đó là loan báo Phục Sinh đầu tiên mà tôi muốn trao cho anh chị em : luôn có khả năng bắt đầu lại, bởi vì có một cuộc sống mới mà Thiên Chúa có thể làm cho tái xuất phát nơi chúng ta, vượt xa hơn mọi thất bại của chúng ta. Kể cả từ những đổ nát của tâm hồn chúng ta, Thiên Chúa có thể xây dựng một tác phẩm nghệ thuật, kể cả từ những mảnh vỡ thảm hại của nhân loại chúng ta, Thiên Chúa có thể chuẩn bị một lịch sử mới. Người luôn đi trước chúng ta : trên thập giá của sự đau khổ, của sự sầu não và của cái chết, cũng như trong vinh quang của một sự sống đã phục hồi, của một lịch sử đã thay đổi, của một niềm hy vọng được tái sinh. Và trong những tháng ngày đen tối của đại dịch, chúng ta nghe được Chúa Phục Sinh mời gọi chúng ta hãy bắt đầu lại, đừng bao giờ mất đi niềm hy vọng.

Thứ đến, đi Galilê có nghĩa là đi trên những con đường mới. Đó là đi theo hướng trái ngược với huyệt mộ. Các bà tìm Chúa Giêsu trong mộ, các bà sẽ tưởng niệm những gì các bà đã sống với Người và bây giờ đã mãi mãi mất đi rồi. Các bà sẽ nhắc đi nhắc lại nỗi đau buồn của các bà. Đó là hình ảnh của một đức tin đã trở thành tưởng niệm một sự kiện đẹp nhưng đã hết, chỉ còn nhắc lại. Nhiều người sống ‘‘đức tin kỷ niệm’’ đó, như thể Chúa Giêsu là một nhân vật của quá khứ, một người bạn lúc còn trẻ nhưng đã xa xôi rồi, một sự kiện xẩy ra đã lâu, khi tôi đi học giáo lý lúc còn nhỏ. Một đức tin được làm bằng những thói quen, những chuyện của quá khứ, những kỷ niệm đẹp của thời thơ ấu, không còn đụng chạm đến tôi nữa, không còn nhắc nhở tôi nữa. Trái lại, đi đến Galilê có nghĩa là học được rằng đức tin, để được sống động, phải bước lại lên đường. Nó phải làm sống lại mỗi ngày lúc đầu của hành trình, sự ngạc nhiên của cuộc gặp gỡ đầu tiên. Và rồi tin cậy, không có tự phụ là mình biết hết rồi, nhưng với lòng khiêm nhượng của người để mình bị ngạc nhiên bởi những con đường của Thiên Chúa. Chúng ta hãy đi đến Galilê khám phá ra rằng Thiên Chúa không thể bị xếp vào trong những kỷ niệm của tuổi thơ, nhưng Người hằng sống, Người luôn làm ngạc nhiên. Phục Sinh rồi, Người không hề ngừng làm chúng ta ngạc nhiên.

Đây là lời loan báo thứ nhì của Phục Sinh : đức tin không phải một thư mục của quá khứ, Chúa Giêsu không phải một nhân vật lỗi thời. Người hằng sống, người ở đây ngay lúc này. Người bước đi với bạn mỗi ngày, trong hoàn cảnh bạn đang sống, trong thử thách bạn đang trải qua, trong những giấc mơ bạn đang ấp ủ. Người mở ra những con đường mới ở những nơi bạn tưởng dường như không có, Người thúc đẩy bạn đi ngược dòng đối với sự hối tiếc và với cái ‘‘đã thấy rồi’’. Dù là tất cả gần như mất hết rồi, bạn hãy mở lòng ra với sự ngạc nhiên cho sự mới mẻ của Người : Người sẽ làm bạn ngạc nhiên.

Ngoài ra, đi đến Galilê có nghĩa đi đến những vùng biên giới. Bởi vì Galilê là một nơi xa nhất : trong vùng hỗn hợp và đa dạng này, có những người sinh sống xa vời với sự tinh tuý nghi thức của Giêrusalem. Tuy thế, Chúa Giêsu đã bắt đầu sứ vụ của Người từ đó, Người gửi lời loan báo cho những kẻ đang sống cuộc đời thường nhật một cách vất vả, cho những người bị loại bỏ, cho những người mong manh, những người nghèo khó, để là khuôn mặt và là sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng không mệt mỏi đi tìm người bị nản lòng hay lạc lõng, Đấng đi đến tận những giới hạn của cuộc sống bởi vì dưới mắt Người, không có ai là kẻ đứng chót, không có ai là bị loại trừ.

Chính ở đó mà Đấng Phục Sinh yêu cầu những người của Người đi tới, ngày hôm nay cũng thế. Chính nơi đó của đời sống hàng ngày, đó là những con đường mà chúng ta đi lại mỗi ngày, đó là những xó xỉnh của các thành phố chúng ta, nơi Chúa đi trước chúng ta và tỏ sự hiện diện ngay trong đời sống của kẻ đi cạnh chúng ta và chia sẻ với chúng ta thời giờ, nhà cửa, việc làm, những đau buồn và những hy vọng. Tại Galilê, chúng ta được biết rằng chúng ta có thể tìm được Đấng Phục Sinh trong khuôn mặt của các người anh em, trong sự phấn khởi của kẻ mơ mộng và trong sự cam chịu của kẻ nản lòng, trong nụ cười của người vui sướng và trong nước mắt của kẻ khổ đau, nhất là trong những người nghèo và trong kẻ bị gạt ra rìa. Chúng ta ngạc nhiên về phong cách mà sự cao cả của Thiên Chúa tỏ ra trong sự bé mọn, về phong cách mà vẻ mỹ miều rạng rỡ trong những người đơn sơ và những người nghèo khó.

Và đây là lời loan báo thứ ba của Phục Sinh : Chúa Giêsu, Đấng Phục Sinh, yêu thương chúng ta vô bờ bến và viếng thăm mỗi hoàn cảnh sinh sống của chúng ta. Người đã gieo trồng sự hiện diện của Người trong trái tim của thế giới và cũng mời gọi chúng ta hãy vượt qua những rào cản, chiến thắng các định kiến, đến gần người bên cạnh mỗi ngày, để tìm lại được ân sủng của mỗi ngày. Chúng ta hãy nhận ra Người trong các vùng Galilê của chúng ta, trong cuộc sống hàng ngày. Với Người, sự sống sẽ thay đổi. Bởi vì bên kia của mọi thất bại, của điều ác và của bạo lực, bên kia của mọi đau khổ và bên kia của sự chết, Đấng Phục Sinh sống và lãnh đạo lịch sử.

Thưa Quý Anh Chị Em, nếu trong đêm nay anh chị em mang trong lòng một giờ đen tối, một ngày chưa đến, một ánh sáng bị chôn vùi, một giấc mơ bị tan vỡ, xin anh chị em hãy mở lòng mình ra với sự ngạc nhiên đối với sự loan báo của Phục Sinh : ‘‘Xin đừng sợ hãi, Người đã phục sinh ! Người đợi bạn ở Galilê’’. Những mong đợi của bạn sẽ không bị thất vọng, những giọt lệ của bạn sẽ được lau khô, những sợ hãi của bạn sẽ được chiến thắng bởi hy vọng. Bởi vì Chúa đi trước bạn, Người bước đi trước bạn. Và với Người, sự sống bắr đầu lại.

Librairie éditrice du Vatican

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Vigile pascale : Dieu n’est pas “un souvenir d’enfance”, il est “dans la situation que tu vis” – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Vọng Phục Sinh – Thiên Chúa không phải là « một ký ức tuổi thơ » Người ngự « trong hoàn cảnh bạn sống »

Thống kê Giáo Hội – con số các linh mục và các phó tể vĩnh viễn gia tăng

1 tỷ 345 triệu người công giáo trên thế giới

AVRIL 01, 2021 17:03 ANNE KURIAN-MONTABONEROME

Đền Thánh Phêrô

Con số người công giáo trên thế giới gia tăng : 1 tỷ 345 triệu – gia tăng 16 triệu so với năm 2018 – Vatican News cho biết khi đưa ra bản tổng hợp Niên Giám giáo hoàng năm 2021 và Annuarium Statisticum Ecclesiae 2019 mới công bố gần đây. Hãng thông tấn của Thành Quốc đã ghi nhận một sự gia tăng đặc biệt của con số các linh mục và các phó tế vĩnh viễn.

Các tài liệu này đã được nhật tu bởi Văn Phòng Thống Kê Trung Ương của Hội Thánh và được công bố bởi Nhà In của Vatican. Các giáo dân chiếm 17,7% dân số toàn thế giới, với sự gia tăng là 3,4% tại Châu Phi, 1,3% tại Châu Á, 1,1% tại Châu Đại Dương và 0,84% tại Châu Mỹ, trong lúc tại Châu Âu người ta ghi nhận một sự giảm sút nhẹ giừa năm 2018-2019.

Trong 3026 giáo phận, cuối năm 2019, người ta ghi nhận có 5364 giám mục, Mỹ Châu và Âu Châu vẫn tiếp tục chiếm 68,8% trên tổng số toàn cầu, tiếp đến là Á Châu (với 13,4%) và Châu Đại Dương (2,6%).

Trong hai năm 2018-2019, Vatican News ghi nhận con số các linh mục đã gia tăng 271 vị đưa tổng số lên 414 336 vị (trong đó gần 171 000 linh mục Âu Châu). Các phó tế vĩnh viễn – hiện là 48 238 thầy – đã gia tăng 1,5%.

Nếu tổng số các ơn gọi linh mục còn đang giảm – từ 115 880 năm 2018 xuống còn 114 058 năm 2019, nó lại gia tăng ở Châu Phi – từ 32 212 lên 32 721. Châu lục với con số chủng sinh lớn nhất là Châu Á (33 821), tiếp theo là Châu Phi (32 721), Châu Mỹ (30 664), Châu Âu (15 888) và Châu Đại Dương (964).

Các nữ tu tương đối giảm ở cấp toàn cầu – từ 641 661 năm 2018 xuống còn 630 099 năm 2019 – nhưng lại gia tăng 1,1% tại Phi Châu (từ 76 219 năm 2018 lên 77 054 năm 2019) và 0,4% trong vùng Đông Năm Á (từ 170 092 lên 170 754). Tại Âu Châu các nữ tu đã đi từ 224 246 xuống còn 216 846.

Con số các nam tu sĩ cũng giảm : năm 2018 các thầy có 50 941 vị và năm 2019 còn lại 50 295 vị. Ở Châu Âu và Châu Mỹ có đông các thầy hơn (Âu có 14 038 thầy và Mỹ có 13 735 thầy).

Avec une traduction d’Hélène Ginabat

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Statistiques de l’Eglise : plus de prêtres et de diacres permanents – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Thống kê Giáo Hội – con số các linh mục và các phó tể vĩnh viễn gia tăng

Lễ Truyền Dầu – Thiên Chúa « luôn ban những điều chúng ta cầu xin… theo cách của Người »

« Không vì khó khăn mà vì tình yêu »

AVRIL 01, 2021 11:45 ANNE KURIAN-MONTABONEPAPE FRANÇOIS

Lễ Truyền Dầu ngày 01/4/2021

« Cha luôn ban cho chúng ta những điều chúng ta cầu xin nhưng Người ban theo cách Thiên Chúa của Người », Đức Giáo Hoàng Phanxicô khẳng định trong Thánh Lễ Truyền Dầu, hôm 01/4/2021, Thứ Năm Tuần Thánh. « Cách này có liên quan đến Thánh Giá. Không phải vì khó khăn, nhưng vì tình yêu, vì tình yêu đến cùng », ngài nói thêm.

Đức Giám Mục Rôma đã cử hành Thánh Lễ Truyền Dầu trong Đền Thánh Phêrô, với khoảng 50 các vị hồng y và giám mục và khoảng một trăm linh mục hiện diện trong Thành Vĩnh Cửu.

« Tại sao Chúa lại ôm lấy toàn bộ Thánh Giá ? » ngài tự hỏi trong bài giảng của ngài : « Bởi vì trong Thánh Giá, không có sự mơ hồ ! Thánh Giá không thương lượng ». Ngài nói tiếp « Thánh giá là phương thuốc giải độc đối với quyền lực của ác thần ».

« Lời của Chúa Giêsu, Đức Giáo Hoàng cũng nói, có quyền lực soi sáng những điều người ta có ở trong lòng, vốn thường là một sư pha trộn, như hạt cỏ lùng. Và điều này gây ra một cuộc đấu tranh tinh thần. Khi nhìn những hành động của lòng thương xót tràn đầy của Chúa và khi lắng nghe những mối phúc và những câu ‘‘khốn cho các ngươi’’ của Phúc Âm, người ta bắt buộc phải phân định và lựa chọn ».

« Chúng ta đừng bực mình vì sự loan báo Tin Mừng không nhận được hiệu quả vì những lời hùng hồn của chúng ta, mà vì sức mạnh của Thánh Giá » Đức Giáo Hoàng khuyên nhủ.

Trong cuộc cử hành này, được trải nghiệm trong mọi giáo phận trên toàn thế giới, Đức Giáo Hoàng đã thánh hiến « Dầu Thánh », dầu dùng cho các bí tích Rửa Tội, Thêm Sức và Truyền Chức. Ngài cũng đã làm phép, theo truyền thống, dầu tân tòng và dầu kẻ liệt.

Bài giảng của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Phúc Âm trình bầy cho chúng ta một sự thay đổi tình cảm nơi những người nghe lời Chúa. Sự thay đổi mang tính thảm họa và nó cho chúng ta thấy sự bách hại và Thánh Giá gắn liền như thế nào với việc truyền bá Phúc Âm. Sự ngưỡng mộ được khơi lên bởi những lời ân điển phát ra từ miệng Chúa Giêsu đã không lâu dài trong thần trí người dân Nazareth. Một câu nói mà ai đó đã rỉ tai đã ngấm ngầm lan truyền với ác ý : ‘‘Ông này không phải là con ông Giuse đó sao ?’’ (Lc 4,22)

Đây quả là một trong những câu ỡm ờ người ta có thể thả ra. Người ta có thể dùng nó để biểu lộ với sự vui mừng : ‘‘Thật là tuyệt vời đã có một người gốc gác khiêm nhượng mà nói được với thẩm quyền như thế’’. Và một người khác cũng có thể nói với giọng khinh bỉ : ‘‘Cái người này ở đâu ra vậy ? Hắn tưởng hắn là ai đây ?’’

Nếu chúng ta nhìn kỹ, câu nói này đã được lập lại trong ngày Lễ Ngũ Tuần, khi các tông đồ lòng tràn ơn Chúa Thánh Thần, bắt đầu thuyết giảng Phúc Âm. Có kẻ đã nói : « Những người đang nói đó không phải là người Galilê sao ? » (Cv 2,7). Và trong lúc có người đón nhận Lời Chúa, những người khác đã coi các ngài như là những kẻ say rượu.

Dứt khoát dường như có một sự lựa chọn đã bị bỏ ngỏ, nhưng nếu chúng ta coi kết quả, trong bối cảnh cụ thể, những lời nói này chứa đựng một mầm mống bạo lực đang nổi lên chống lại Chúa Giêsu.

Đây là một ‘‘câu nói động cơ’’ [1], như thể khi người ta nói ‘‘Quá lắm rồi !’’ và người ta tấn công người khác hay người ta bỏ đi. Chúa, đôi khi Người im lặng hay đi qua bờ bên kia, lần này Người đã không từ chối bình phẩm, trái lại, Người đã lột mặt nạ cái lôgíc đồi bại núp bóng dưới một câu chuyện ngồi lê đôi mách ở miền quê. « Hẳn các ông muốn nói với tôi câu tục ngữ : ‘‘Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình’’. Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Capharnaum ; ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào ! Lc 4,23). ‘‘Hãy chữa lấy mình…’’.

‘‘Hắn cứu lấy mình đi’’. Ở đây có nọc độc ! Chính cũng câu nói này sẽ theo Người đến tận cây Thánh Giá : « Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi » (Lc 23,35) ; ‘‘và cứu cả chúng tôi với !’’, một trong hai tên tội nhân nói thêm (x.c.39).

Chúa, như mọi khi, không đối thoại với ác thần, Người chỉ trả lời bằng Kinh Thánh. Các ngôn sứ Êly và Êlysê cũng đã không được chấp nhận bởi đồng hương của các ngài, nhưng trái lại đã được chấp nhận bởi một bà goá người Phênixia và một người xứ Syria bị bệnh phong cùi : hai người ngoại quốc, hai người của một tôn giáo khác. Những sự kiện này là một dấu hiệu mạnh mẽ và gây ra hiệu quả đã được tiên báo bởi ông Simêon, cụ già đầy uy tín đã nói rằng Chúa Giêsu sẽ là « dấu hiệu của mâu thuẫn » (semeion antilegomenon) (x. Lc 2,34) [2].

Lời của Chúa Giêsu có quyền lực soi sáng những điều người ta có ở trong lòng, vốn thường là một sự pha trộn, như hạt cỏ lùng. Và điều này gây ra một cuộc đấu tranh tinh thần. Khi nhìn những hành động của lòng thương xót tràn đầy của Chúa và khi lắng nghe những mối phúc và những câu ‘‘khốn cho các ngươi’’ của Phúc Âm, người ta bắt buộc phải phân định và lựa chọn. Trong trường hợp này Lời của Người đã không được chấp nhận và đã làm cho đám đông giận dữ, đã muốn giết chết Người. Nhưng vì chưa đến ‘‘giờ’’ của Người, và như Phúc Âm đã nói, Chúa « băng qua giữa họ mà đi » (Lc 4,30).

Tuy chưa phải giờ, nhưng sự khởi động nhanh chóng của lòng giận dữ hung bạo, có khả năng giết chết Chúa ngay vào lúc đó, cho thấy lúc nào cũng luôn là giờ. Và đó là điều mà tôi muốn chia sẻ ngày hôm nay với các anh em, các linh mục thân mến : giờ loan báo vui mừng và giờ của bách hại và của Thánh Giá đi đôi với nhau.

Sự loan truyền Phúc Âm luôn gắn liền với sự ôm lấy một cây thập giá cụ thể. Ánh sáng dịu dàng của Lời làm ra sự sáng sủa trong những tấm lòng sẵn sàng và sự bối rối và loại bỏ trong lòng những kẻ không sẵn sàng. Điều đó, chúng ta luôn thấy trong Phúc Âm.

Một hạt giống tốt được gieo trong một cánh đồng sẽ cho hoa trái – một hạt sinh ra gấp một trăm, sáu mươi, ba mươi -, nhưng nó cũng đánh thức lòng ganh ghét của kẻ thù cố tâm chờ đêm tối gieo có lùng (x. Mt 13, 24-30. 36-43).

Lòng nhân hậu của người cha giầu lòng thương xót thu hút mãnh liệt đứa con hoang đàng trở về nhà, nhưng nó lại khơi lên sự phẫn nộ và oán hận của người con cả (x. Lc 15, 11-32).

Lòng quảng đại của người chủ vườn nho là lý do tri ân với những người thợ vào giờ chót, nhưng lại là lý do của những lời bình phẩm chua cay của những người thợ lúc sáng sớm, họ cảm thấy bị xúc phạm bởi ông chủ tốt bụng (x. Mt 20, 1-16).

Sự gần gũi của Chúa Giêsu khi đến ăn uống với những người tội lỗi đã tranh thủ được những tấm lòng giống như của ông Giakêu, của ông Máthêu, của người phụ nữ Samari…, nhưng lại gây ra những tình cảm khinh thường nơi những người tự coi mình là công chính.

Lòng cao thượng của người đàn ông này sai con mình đi vì nghĩ rằng cậu ta sẽ được kính trọng bởi các thợ làm vườn nho, đã kích động nơi bọn ngưòi này một tính hung dữ hết cỡ : chúng ta đứng trước một bí ẩn của sự bất chính dẫn tới việc sát hại người Công Chính (x. Mt 21, 33-46).

Tất cả những điều này cho chúng ta thấy rằng sự loan báo Tin Mừng gắn chặt – một cách huyền diệu – với sự bách hại và Thánh Giá.

Thánh Inhã Loyola, trong lúc suy ngẫm về Giáng Sinh, biểu lộ chân lý Phúc Âm này khi ngài khiến chúng ta quan sát và ngưỡng mộ điều Thánh Giuse và Đức Trinh Nữ đã làm : « thí dụ, các ngài đã đi và làm để Chúa sinh ra trong sự nghèo khó tột độ, và chết trên cây thập giá sau khi chịu đói, khát, nóng lạnh, chửi rủa và lăng nhục. Và tất cả là vì tôi. Rồi – thánh Inhã nói thêm – suy nghĩ để đạt đựợc một lợi ích tinh thần » (Exercices Spirituels, 116)

Chúng ta có thể có suy ngẫm nào để rút ra lợi ích cho đời sống linh mục của chúng ta khi chiêm ngắm sự hiện diện sớm sủa của Thánh Giá – từ sự khó hiểu, sự bác bỏ, sự bách hại – lúc ban đầu và ngay trọng tâm của việc rao giảng Phúc Âm.

Hai suy ngẫm hiện ra trong trí tôi :

Thứ nhất : không ngạc nhiên khi ghi nhận rằng Thánh Giá đã hiện diện trong cuộc đời của Chúa ngay từ đầu sứ vụ của Người và thậm chí trước khi Người giáng sinh nữa. Thánh Giá đã hiện diện trong sự bối rối đầu tiên của Đức Mẹ Maria lúc thiên thần truyền tin ; Thánh Giá đã hiện diện trong sự thao thức của thánh Giuse, cảm thấy mình bắt buộc phải bỏ người nữ hứa hôn của ngài ; Thánh Giá đã hiện diện trong cuộc bách hại của vua Hêrôđê và trong những thử thách mà Thánh Gia đã phải chịu đựng, giống như những thử thách của nhiều gia đình phải lưu vong khỏi quê hương của mình.

Thực tế này mở ra cho chúng ta với mầu nhiệm Thánh Giá đã được sống, rất lâu trước đó. Nó khiến chúng ta hiểu rằng Thánh giá không phải là một biến cố hậu quả, ngẫu nhiên, là sản phẩm thời cơ trong cuộc đời của Chúa. Quả thật là tất cả những ai đóng đinh trong lịch sử làm xuất hiện Thánh Giá như thể nó là một sự thiệt hại bên lề, nhưng không phải thế : Thánh Giá không tùy thuộc hoàn cảnh.

Tại sao Chúa lại ôm lấy Thánh Giá một cách trọn vẹn ? Tại sao Chúa Giêsu lại ôm lấy cuộc khổ nạn một cách đầy đủ : Người đã ôm lấy sự phản bội và bỏ rơi của các bạn bè Người ngay từ bữa Tiệc Ly, Người đã chấp nhận sự giam cầm phi pháp, sự xử án sơ sài, bản án quá mức, sự độc ác không lý do, những cái tát, những khạc nhổ vô lối… ? Nếu những hoàn cảnh đã xác định quyền năng cứu độ của Thánh Giá, thì Chúa đã không phải ôm lấy tất cả. Nhưng khi đã đến giờ của Người, Người ôm lấy Thánh Giá một cách trọn vẹn. Bởi vì trong Thánh Giá, không có chuyện mập mờ ! Thánh Giá không thương lượng.

Suy nghĩ thứ nhì là như sau đây. Quả thật là có cái gì của Thánh Giá là bộ phận bên trong thân phận con người của chúng ta, của giới hạn và của sự mong manh. Tuy nhiên, cũng đúng là có cái gì xẩy ra trên cây Thánh Giá, không phải là điều vốn có trong sự mong manh của chúng ta. Đó đúng là vết cắn của con rắn, khi nhìn thấy Đấng bị đóng đinh không thể tự vệ, nó cắn và tìm cách đầu độc và làm mất uy tín tất cả công trình của Người. Một nhát cắn tìm cách gây tai tiếng, làm bất động và khiến cho mọi phục vụ và mọi hy sinh vì tình yêu đối với người khác trở thành cằn cỗi và không đáng kể. Đó là nọc độc của ác thần, nó tiếp tục nhấn mạnh : hãy tự cứu lấy mình đi.

Và trong vết cắn này độc ác và đau đớn, nó có khả năng là chết người, cuối cùng xuất hiện sự chiến thắng của Thiên Chúa. Thánh Maxime Giải Tội đã cho chúng ta thấy rằng với Chúa Giêsu bị đóng đinh mọi chuyện có thể bị lật ngược : khi cắn vào da thịt của Chúa, ma quỷ đã không đầu độc được Người – nó chỉ đã tìm thấy nơi Người sự khoan dung vô bờ bến và sự vâng phục thánh ý Chúa Cha – Ngược lại, với mồi ngon là cây Thanh Giá, nó đã nuốt phải Da Thịt của Chúa vốn là một nọc độc đối với nó và trở thành cho chúng ta thuốc giải chống lại quyền lực của ác thần.

Đó là những suy niệm của tôi. Chúng ta hãy cầu xin Chúa ơn sủng rút ra được lợi ích của những giáo huấn này : có cây Thánh giá trong việc loan báo Tin Mừng, đúng vậy, nhưng chính là Thánh Giá đã cứu độ. Được bình định với Máu Chúa Giêsu, đó là một Thánh Giá với sức mạnh của sự chiến thắng của Đức Kitô, Đấng chiến thắng sự ác, Đấng giải thoát chúng ta ra khỏi Ác Thần. Ôm lấy Thánh Giá với Chúa Giêsu và giống như Người, ‘‘trước’’ khi đi rao giảng, cho phép chúng ta phân định và từ chối thuốc độc của chuyện bê bối mà ma quỷ đã sử dụng để đầu độc chúng ta khi sẽ bất ngờ xẩy ra một cây thập giá trong cuộc đời chúng ta.

« Phần chúng ta, chúng ta không phải là những người bỏ cuộc » (Dt 10,39) : đó là lời khuyên mà tác giả Thư gửi tín hữu Do Thái cho chúng ta. Chúng ta đừng công phẫn, bởi vì Chúa Giêsu đã không công phẫn khi thấy rằng lời loan báo vui mừng của Người về sự cứu độ cho người nghèo không vang dội một cách trong sáng, mà ở giữa những tiếng la hét và những đe dọa của những người không muốn nghe Lời của Người.

Chúng ta đừng công phẫn bởi vì Chúa Giêsu đã không công phẫn khi Người phải chữa lành những người bệnh và giải thoát các tù nhân ở giữa những tranh luận và những tranh cãi về luân lý, luật pháp, giáo sĩ nổi lên mỗi lần Người làm điều tốt.

Chúng ta không nên phẫn nộ bởi vì Chúa Giêsu đã không phẫn nộ khi Người phải trả lại thị giác cho những người mù ở giữa những người đã nhắm mắt để không nhìn và không xem những chỗ khác.

Chúng ta không nên phẫn nộ bởi vì Chúa Giêsu đã không phẫn nộ vì sự kiện là sự tuyên xưng của người về Năm ân điển của Chúa – một năm vốn là tất cả lịch sử – đã gây ra một sự điều tiếng công cộng trong điều ngày hôm nay chỉ chiếm vỏn vẹn trang ba của một tờ báo địa phương.

Và chúng ta không nên công phẫn vì loan báo Tin Mừng không nhận được tác dụng vì những lời hùng biện của chúng ta, nhưng vì sức mạnh của Thánh Giá (x. 1Cr 1,17).

Theo cách chúng ta ôm lấy Thánh Giá khi loan báo Tin Mừng – với những công trình, nếu cần, với những lời lẽ – hai điều hiện ra : những đau khổ đã được Phúc Âm ban cho chúng ta không phải của chúng ta mà là « những đau khổ của Chúa Kitô trong chúng ta » (2Cr 1,5) và « chúng ta không phải đã loan báo chính chúng ta mà loan báo Chúa Giêsu Kitô », chúng ta là « những tôi tớ vì Chúa Giêsu » (2Cr 4,5).

Tôi muốn kết thúc bởi một ký ức. Một lần kia, trong một lúc đen tối trong cuộc đời của tôi, tôi đã cầu xin một ơn với Chúa, xin Người giải thoát tôi khỏi một tình trạng khắc nghiệt và khó khăn. Tôi đã đi giảng Linh Thao cho các nữ tu và, ngày cuối cùng, vì như thông lệ vào thời đó, các chị đã xưng tội. Một chị rất lớn tuổi đã đến, với đôi mắt trong sáng, thất là rực rỡ. Đó là một phụ nữ của Thiên Chúa. Lúc đó tôi cảm thấy mong muốn xin chị đó cầu nguyện cho tôi và tôi đã nói với chị : ‘‘Ma Sơ, việc đền tội xin Sơ hãy cầu nguyện cho tôi, bởi vì tôi cần một ơn. Nếu chị cầu xin với Chúa, chắc chắn Người sẽ ban cho tôi ơn đó ». Sơ đã chờ một lúc lâu, như thể sơ đang cầu nguyện, và sau đó chị nói với tôi điều này : ‘‘Chắc chắn là Chúa sẽ ban cho cha ơn đó, nhưng xin cha đừng lầm : Người sẽ ban cho theo phương cách của Thiên Chúa’’. Điều này đã giúp tôi rất nhiều : cảm nhận rằng Chúa luôn ban cho chúng ta điều chúng ta cầu xin, nhưng Người làm theo cách Thiên Chúa của Người. Cách đó kéo theo thập giá. Không phải khó khăn, nhưng với tình thương yêu, bởi tình yêu đến cuối cùng [4].
__________________________
[1] Như những thứ được báo cáo bởi một vị thầy tinh thần, cha Claude Judde : một trong những câu nói này đi kèm theo những quyết định của chúng ta và chứa đựng ‘‘câu nói chót’’, câu nói dẫn đến quyết định và thúc đẩy một người hay một nhóm người hành động. Xem C. Judde, Tác phẩm thiêng liêng, II, 1883 Hướng dẫn về sự hiểu biết chính mình, 313-319, M.A. Fioritto, Buscar y hallar la voluntad de Dios, Bs. As., Paulinas 2000, p.248 ss.

[2] ‘‘Antilegomenon’’ có nghĩa là người ta nói chống lại nó, mà nhiều người nói tốt về nó và nhiều người khác nói xấu.

[3] Xem Centura 1, 8-13.

[4] Xem Bài giảng Thánh Lễ tại Nhà Thánh Martha ngày 29/5/2013.

© Librairie éditrice du Vatican 

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Messe chrismale : Dieu “donne toujours ce que nous demandons… à sa manière” – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Lễ Truyền Dầu – Thiên Chúa « luôn ban những điều chúng ta cầu xin… theo cách của Người »

« Nạn nhân những vụ phá thai » và « Những người bị đóng đinh trong hiện tại »

« Tam Nhật Phục Sinh » (bản văn đầy đủ)

MARS 31, 2021 21:37 ANITA BOURDINAUDIENCE GÉNÉRALEPAPE FRANÇOIS

Triều kiến chung ngày 31/3/2021

« Khi thờ lậy Thánh Giá, chúng ta sống lại con đường của Con Chiên vô tội bị hy tế để cứu độ chúng ta. Chúng ta sẽ mang trong tâm tư và trong lòng mình những đau khổ của những người bệnh, những người nghèo, những người bị loại ra khỏi thế giới này ; chúng ta sẽ nhớ đến ‘‘những con chiên bị hy tế’’, họ là những nạn nhân vô tội của các cuộc chiến tranh, các chế độ độc tài, các bạo lực hàng ngày, các vụ phá thai… », Đức Giáo Hoàng Phanxicô giải thích khi ngài nhắc tới ngày Thứ Sáu Tuần Thánh trong Bài Giáo Lý ngày thứ tư 31/3/2021 về Tam Nhật Vượt Qua.

Đức Giáo Hoàng đã gợi nhớ « những người bị đóng đinh của ngày hôm nay » : « Trước hình ảnh của Thiên Chúa bị đóng đinh, chúng ta sẽ mang nặng, trong kinh nguyện, nhiều người, rất nhiều người đang bị đóng đinh trong ngày hôm nay, họ chỉ duy nhất có thể chờ đợi từ nơi Người sự an ủi và ý nghĩa của sự đau khổ. Và ngày hôm nay, có biết bao người : không được quên những người bị đóng đinh của ngày hôm nay, họ là hình ảnh của Chúa Giêsu bị Đóng Đinh, và Chúa Giêsu ở trong họ ».

Sau đây là bản dịch chính thức của Vatican Bài Giáo Lý « Phục Sinh » này.

AB

Bài Giáo Lý. Tam Nhật Vượt Qua

Thân chào Quý Anh Chị Em !

Được dìm người vào trong bầu khí thiêng liêng của Tuần Thánh, chúng ta đang bước vào Tam Nhật Vượt Qua. Từ ngày mai cho đến chúa nhật, chúng ta sẽ sống những ngày trọng tâm của Năm Phụng Vụ, bằng cách cử hành mầu nhiệm Khổ Nạn, Cái Chết và sự Phục Sinh của Chúa. Và mầu nhiệm này, chúng ta sống nó mỗi lần chúng ta cử hành Bí Tích Thánh Thể. Khi chúng ta đi dự Thánh Lễ, chúng ta không chỉ cầu nguyện, không : chúng ta sẽ đổi mới, sống trở lại, mầu nhiệm này, mầu nhiệm vượt qua. Quan trọng là không được quên điều đó. Chính như thể là chúng ta đi lên Núi Sọ – cũng như thế – để đổi mới, để sống trở lại mầu nhiệm vượt qua này.

Buổi chiều tối hôm Thứ Năm Tuần Thánh, bằng cách bước vào Tam Nhật Vượt Qua, chúng ta sẽ sống Thánh Lễ mà người ta gọi là in Coena Domini, nghĩa là Thánh Lễ trong đó chúng ta kính nhớ Bữa Tiệc Ly, đã diễn ra ở đó vào lúc đó. Chính là buổi chiều mà Chúa Kitô đã để lại cho các môn đệ của Người di chúc tình yêu của Người trong bí tích Thánh Thể, nhưng không như một kỷ niệm, mà như ký ức, như sự hiện diện vĩnh cửu của Người. Mỗi lần chúng ta cử hành bí tích Thánh Thể, như tôi nói lúc đầu, mầu nhiệm cứu chuộc này được tái diễn. Trong bí tích này, Chúa Giêsu đã thay vật hy tế – chiên vượt qua – bằng chính bản thân Người : Mình của Người, Máu của Người ban cho chúng ta ơn cứu độ khỏi kiếp nô lệ tội lỗi và sự chết. Sự cứu độ khỏi mọi ách nô lệ là ở đó. Chính là buổi chiều mà Người yêu cầu chúng ta thương yêu nhau bằng cách làm tôi tớ cho nhau, như Người đã làm khi rửa chân cho các môn đệ. Một cử chỉ đi trước sự tận hiến đổ máu trên cây thập giá. Quả vậy, Thầy và là Chúa sẽ chết trong ngày hôm sau, để làm trong sạch không chỉ là chân, mà là trái tim và tất cả cuộc đời của các môn đệ. Điều đó đã là một sự hiến tế phục vụ cho tất cả chúng ta, bởi vì thông qua sự phục vụ của sự hy sinh đó, Người đã cứu độ tất cả chúng ta.

Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh là một ngày sám hối, ăn chay và cầu nguyện. Qua các văn bản của Sách Thánh và các kinh nguyện phụng vụ, chúng ta sẽ như được tập họp trên núi Can Ve để tưởng niệm Cuộc Khổ Nạn và Cái Chết của Chúa Giêsu Kitô. Trong cường độ của nghi thức phụng vụ, Thánh Giá sẽ được đưa ra để chúng ta thờ lậy. Bằng cách thờ lậy Thánh Giá, chúng ta sẽ sống lại con đường của Con Chiên vô tội bị hy tế để cứu độ chúng ta. Chúng ta sẽ mang trong tinh thần và trái tim chúng ta những đau khổ của người bệnh, người nghèo, người bị loại bỏ ra khỏi thế giới này, chúng ta sẽ nhớ tới những ‘‘con chiên đã bị hy tế’’, là nạn nhân vô tội của các cuộc chiến tranh, những chế độ độc tài, những bạo lực hàng ngày, những vụ phá thai… Trước hình ảnh của Thiên Chúa bị đóng đinh, chúng ta sẽ mang tới, trong kinh nguyện, rất đông, quá đông những người hôm nay đã bị đóng đinh, những người chỉ duy nhất nhờ Người để nhận được sự an ủi và ý nghĩa đau khổ của họ. Và ngày hôm nay, có nhiều người như thế ; không được quên những người đã bị đóng đinh của ngày hôm nay, họ là hình ảnh của Chúa Giêsu Bị Đóng Đinh, và Chúa Giêsu ở trong họ.

Từ khi mà Chúa Giêsu đã gánh lấy trên Người những vết thương của nhân loại và cả cái chết, tình yêu của Thiên Chúa đã tưới nước những sa mạc của chúng ta, đã soi sáng những bóng tối của chúng ta. Vì thế giới đang nằm trong bóng tối. Chúng ta hãy làm một danh sách tất cả các cuộc chiến tranh mà người ta đang tiến hành vào lúc này, tất cả các trẻ em đã chết vì bị đói ; những trẻ em không được học hành ; những sắc dân toàn bộ đã bị hủy hoại bởi các cuộc chiến tranh, bởi chủ nghĩa khủng bố. Có rất nhiều, rất nhiều người, để cảm thấy khá hơn một chút, cần đến ma tuý, cần đến kỹ nghệ ma tuý giết người… Đó là một thảm họa, đó là một sa mạc ! Có những « ốc đảo » nhỏ của dân Thiên Chúa, dù đó là người Kitô hữu hay của bất cứ đức tin nào khác, đang giữ trong lòng ước muốn được tốt hơn. Nhưng chúng ta hãy nói đến thực tế : trong cái canve của sự chết này, chính Chúa Giêsu đang đau khổ trong các môn đệ của Người. Trong suốt thời gian thi hành sứ vụ của Người, Con Thiên Chúa đã hai tay hiến tặng sự sống, bằng cách chữa lành, bằng cách tha thứ, bằng cách làm cho hồi sinh… Giờ đây, vào giờ phút Hy Tế tối cao trên thập giá, Người đã đưa công trình Chúa Cha đã giao cho Người đến sự viên mãn : Người đi xuống vực sâu của sự đau khổ, Người đi vào những tai họa của thế giới này, để cứu chuộc và để thay đổi. Và cũng để giải thoát mỗi người chúng ta ra khỏi quyền lực của bóng tối, của kiêu ngạo, của sự đề kháng không cho Thiên Chúa thương yêu. Và điều đó, chỉ duy nhất có tình yêu của Thiên Chúa mới có thể làm được. Chúng ta đã được chữa lành nhờ các vết thương của Người (x. 1Pr 2,24), thánh Phêrô Tông Đồ nói, chúng ta đã được tái sinh bởi cái chết của Người, tất cả chúng ta. Và nhờ Người, bị bỏ rơi trên thập giá, mà sẽ không bao giờ còn có ai phải cô đơn trong bóng tối của sự chết. Không bao giờ, Người luôn ở bên cạnh chúng ta : chỉ cần phải mở lòng mình ra và để Người nhìn thấu.

Ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh là ngày của im lặng : một sự im lặng to lớn bao trùm cả trái đất ; một sự im lặng được sống trong khóc lóc và trong hoang mang của các môn đệ, bị xáo trộn bởi cái chết ô nhục của Chúa Giêsu. Trong lúc mà Ngôi Lời im lặng, trong lúc mà Sự Sống ở trong huyệt mộ, những người từng tin cậy nơi Người đã bị đặt vào trong cơn thử thách gay go, họ cảm thấy mình côi cút, có thể cũng là côi cút Thiên Chúa. Ngày Thứ Bẩy này cũng là ngày của Đức Mẹ Maria : Mẹ cũng sống trong những khóc lóc, nhưng trái tim Mẹ đầy tràn đức tin, đầy tràn đức cậy, đầy tràn đức mến. Đức Mẹ của Chúa Giêsu đã theo chân Con của Mẹ suốt con đường đau khổ và Mẹ đứng ở dưới chân Thánh Giá, tâm hồn bị thâm thấu. Nhưng khi tất cả dường như đã hết, Mẹ tỉnh thức, Mẹ canh thức trong sự chờ đợi bằng cách giữ niềm hy vọng trong lời hứa của Thiên Chúa sẽ sống lại từ cõi chết. Như thế, vào giờ phút đen tối nhất trên thế gian, Mẹ đã trở thành Mẹ của những người có lòng tin, Mẹ của Hội Thánh và Dấu Chỉ của hy vọng. Chứng tá và sự chuyển cầu của Mẹ nâng đỡ chúng ta khi sức nặng của cây thập giá trở nên quá nặng đối với mỗi người chúng ta.

Trong bóng tối của ngày Thứ Bẩy Tuần Thánh, sẽ nổi lên niềm vui và ánh sáng với các lễ nghi Canh thức Phục Sinh, và khuya trong đêm, bài ca vui mừng Alleluia. Đó sẽ là cuộc gặp gỡ trong đức tin với Chúa Kitô phục sinh và niềm vui phục sinh sẽ kéo dài trong suốt 50 ngày sau đó, cho đến khi Chúa Thánh Thần ngự xuống. Đấng Bị Đóng Đinh đã Sống Lại ! Tất cả các vấn đề và các nghi nan, những lưỡng lự và những sợ hãi đều tan biến trước sự mặc khải này. Đấng Phục Sinh ban cho chúng ta sự khẳng định rằng sự thiện luôn chiến thắng sự ác, rằng sự sống luôn chiến thắng sự chết và rằng số phận của chúng ta không phải là mãi đi xuống sâu hơn, từ buồn này đến buồn kia, nhưng là đưa chúng ta lên cao. Đấng Phục Sinh là sự khẳng định rằng Chúa Giêsu có lý trong mọi chuyện : bằng cách hứa cho chúng ta sự sống bên kia sự chết và sự tha thứ bên kia tội lỗi. Các môn đệ nghi ngờ, các ngài đã không tin. Người đầu tiên tin và nhìn thấy là bà Maria Mađalêna, bà đã là tông đồ của phục sinh, đã đi kể lại rằng bà đã nhìn thấy Chúa Giêsu, Đấng đã gọi đúng tên bà. Và sau đó tất cả các môn đệ đã thấy Người. Nhưng tôi muốn dừng lại ở điểm này : những người canh gác, những lính canh bên mộ để ngăn ngừa các môn đệ đến lấy xác Người, cũng đã thấy Người : họ đã thấy Người lúc còn sống và sau khi Người sống lại. Các kẻ thù Người cũng đã thấy, và rồi họ đã giả vờ làm như không hề thấy Người. Tại sao ? Tại vì họ đã được trả tiền.  Đây là mầu nhiệm đích thực của điều mà Chúa Giêsu đã từng có lần phán : « Có hai chủ tể của thế gian, hai, không hơn : hai. Thiên Chúa và tiền bạc. Kẻ phụng sự tiền bạc thì chống Thiên Chúa ». Và trong trường hợp này, chính là tiền bạc đã làm thay đổi thực tế. Họ đã thấy tin tức tuyệt vời của sự phục sinh, nhưng họ đã được trả tiền để im ặng. Chúng ta hãy nghĩ tới nhiều lần người ta cả nam và nữ Kitô hữu đã được trả tiền để không công nhận trong thực tế sự phục sinh của Chúa Kitô, và đã không làm những gì Chúa Kitô yêu cầu chúng ta làm với tư cách Kitô hữu.

Quý Anh Chị Em thân mến, năm nay cũng thế, chúng ta sẽ sống các ngày lễ trong mùa phục sinh trong bối cảnh đại dịch. Trong nhiều hoàn cảnh đau khổ, đặc biệt khi những người chịu đựng chúng lại là những con người, những gia đình và những cư dân đã bị khốn khổ rồi bởi sự nghèo khó, bởi những tai họa hay bởi những xung đột vũ trang, thì Thánh Giá của Chúa Kitô giống như một cây hải đăng chỉ bến cảng cho tầu bè còn đang ngoài khơi phong ba bão táp. Thánh Giá của Chúa Kitô là dầu chỉ của hy vọng không làm thất vọng ; và nói với chúng ta rằng dù là một giọt nước mắt, dù là một lời than vãn cũng không mất đi trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Chúng ta hãy cầu xin Chúa để Người ban cho chúng ta ân sủng được phụng sự Người và Công nhận Người, và đừng để chúng ta bị mua chuộc để quên Người.

Copyright – Librairie éditrice du Vatican

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Les “victimes des avortements” et les “crucifiés d’aujourd’hui” (texte complet) – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở « Nạn nhân những vụ phá thai » và « Những người bị đóng đinh trong hiện tại »