Bài Giáo Lý – lời cầu xin « mâu thuẫn » của Chúa Giêsu với Cha Người

Thánh Giá là nơi Thiên Chúa luôn làm chúng ta ngạc nhiên (Bản dịch toàn văn)

AVRIL 17, 2019 16:48 HÉLÈNE GINABATAUDIENCE GÉNÉRALEPAPE FRANÇOIS

Triều kiến chung ngày 17/4/2019

 « Tôi sống cho vinh quang nào ? vinh quang của tôi hay của Thiên Chúa ? » : Đó là câu hỏi mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô mời gọi hãy tự đặt cho mình khi ngài bình giảng lời cầu xin « mâu thuẫn » của Chúa Giêsu với Cha Người, trước khi đi vào Cuộc Thương Khó : « Xin Cha tôn vinh Con Cha ». Quả là chính khi Chúa Giêsu được nâng lên cao trên cây Thánh Giá mà Thiên Chúa  « đã cho thấy vinh quang của Người » và « làm chúng ta ngạc nhiên như chưa bao giờ từ trước tới nay », Đức Giáo Hoàng khẳng định. Chúng ta khám phá « rằng vinh quang của Thiên Chúa là tình yêu : tình yêu tinh tuyền, điên dại và không tưởng tượng nổi, vượt xa mọi giới hạn và mọi kích thước ».

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tiếp tục Bài Giáo Lý của ngài về Kinh Lậy Cha, nhân buổi triều kiến chung ngày Thứ Tư Tuần Thánh, trên Quảng Trường Thánh Phêrô nắng đẹp, trước một đám đông các tín hữu đến từ Ý và trên toàn thế giới. Ngài đã giảng trong khi suy ngẫm về ba lời nói sau cùng của Đức Kitô thưa lên với Cha Người trong Cuộc Thương Khó của Người.

Đức Giáo Hoàng cũng đã nhắc tới « lời nói trìu mến nhất và êm dịu nhất », lời mà Chúa Giêsu đã thưa với Cha Người tại vườn Giêtsêmani « Cha ơi ». Chúng ta cũng thế, ngài khuyên nhủ, thay vì « ở một mình », « khi chúng ta đi vào, khi chúng ta sẽ đi vào trong vườn Giêtsêmani của chúng ta, chúng ta hãy nhớ cầu nguyện như thế : « Lậy Cha ». Sau cùng, rút ra lời nói của Đức Kitô : « Xin Cha tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm », Đức Giáo Hoàng đã khuyến khích « tìm kiếm trong sự gặp gỡ với Chúa Cha, sự tha thứ và sự can đảm để tha thứ ». Sự tha thứ, ngài nói, là « một ơn ở cấp cao nhất, nó đập tan cái vòng lẩn quẩn của sự ác ».

Sau đây là bản dịch Bài Giáo Lý bằng tiếng Ý của Đức Giáo Hoàng Phanxicô.

HG

Bài Giáo Lý của Đức Giáo Hoàng Phanxicô (Bản dịch toàn văn)

Thân chào Quý Anh Chị Em !

Trong những tuần lễ gần đây, chúng ta suy ngẫm về Kinh Lậy Cha. Bây giờ, trong ngày trước Tam Nhật Phục Sinh, chúng ta hãy dừng lại trên những lời qua đó Chúa Giêsu đã cầu xin Cha Người trong Cuộc Khổ Nạn của Người.

Lời cầu xin đầu tiên xẩy ra sau sau bữa ăn cuối cùng khi Chúa « ngước mắt lên trời và cầu nguyện ‘‘Lây Cha, giờ đã đến ! Xin Cha tôn vinh Con Cha – và sau đó – Lậy Cha, xin Cha tôn vinh Con bên Cha, xin ban cho Con vinh quang mà Con vẫn được hưởng bên Cha trước khi có thế gian’’ » (Ga 17, 1.5). Chúa Giêsu cầu xin vinh quang, một sự cầu xin có vẻ mâu thuẫn trong lúc Cuộc Khổ Nạn sắp bắt đầu. Vinh quang nào đây ? Trong Thánh Kinh, vinh quang chỉ rõ sự mặc khải của Thiên Chúa, đó là dấu chỉ đặc trưng của sự hiện diện mang tính cứu độ giữa loài người. Bây giờ, Chúa Giêsu là Đấng đã vĩnh viễn biểu lộ sự hiện diện và sự cứu độ của Thiên Chúa. Và Người đã thực hiện cuộc Vượt Qua : bị giương cao trên Thánh Giá, Người đã được tôn vinh (x. Ga 12, 23-33). Chính ở đó, cuốì cùng Thiên Chúa biểu lộ vinh quang của Người : Người tháo bỏ tấm màn cuối cùng và làm chúng ta ngạc nhiên như chưa bao giờ từ trước đến nay. Quả là chúng ta đã thấy được rằng vinh quang của Thiên Chúa là cả tình yêu : tình yêu tinh tuyền, điên dại và không thể tưởng tượng được, vượt xa mọi giới hạn và mọi kích thước.

Thưa Quý Anh Chị Em, chúng ta hãy lấy lời cầu nguyện của Chúa Giêsu làm lời của chúng ta : chúng ta hãy cầu xin Chúa Cha tháo bỏ những tấm màn ra khỏi đôi mắt chúng ta để trong những ngày này, khi chiêm ngắm Thánh Giá, chúng ta có thể đón nhận sự kiện Thiên Chúa là tình yêu. Quá thường khi, chúng ta hình dung Người như một ông chủ và không như một vị Cha, quá thường khi chúng ta nghĩ rằng Người là một quan tòa khắc nghiệt thay vi là một Vị Cứu Độ giầu lòng thương xót ! Nhưng vào dịp lễ Phục Sinh, Thiên Chúa hủy bỏ mọi khoảng cách, trong khi Người tỏ ra trong sự khiêm nhường của một tình yêu đang yêu cầu tình yêu của chúng ta. Vì thế cho nên, chúng ta tôn vinh Người khi chúng ta sống tất cả những gì chúng ta làm với tình yêu, khi chúng ta làm với tấm lòng, như thể là làm cho chính Người vậy (x. Cl 3,17). Vinh quang đích thực là vinh quang của tình yêu, bởi vì đó là vinh quang duy nhất ban sự sống cho thế gian. Đúng là vinh quang này trái ngược với vinh quang thế gian, vốn xẩy ra khi được ngưỡng mộ, được ca tụng, được hoan hô : khi tôi ở giữa sự chú ý. Ngược lại, vinh quang của Thiên Chúa là mâu thuẫn : không vỗ tay, không cử tọa. Ở giữa, không có « tôi » mà có người khác : nhân dịp Phục Sinh, quả là chúng ta đã thấy Chúa Cha tôn vinh Chúa Con trong lúc Chúa Con tôn vinh Chúa Cha. Không ai tự tôn vinh mình cả. Ngày hôm nay, chúng ta có thể tự hỏi : « Tôi sống cho vinh quang nào ? Vinh quang của tôi hay vinh quang của Thiên Chúa ? Có phải tôi chỉ muốn nhận của người khác hay tôi cũng muốn tặng cho người khác ? ».

Sau bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đi vào trong vườn Giêtsêmani ; và ở đó cũng vậy, Người cầu xin Cha Người. Trong lúc các môn đệ của Người không thức nổi và Giuđa đến cùng với lính tráng, Chúa Giêsu bắt đầu cảm thấy « lo sợ và kinh hoàng ». Người cảm thấy tất cả sự kinh hoàng của những gì đang chờ đợi Người : phản bội, khinh bỉ, đau đớn, thất bại. Người « buồn rầu » và ở đó, dưới vực sâu này, trong sự sầu não này, Người thưa với Cha Người lời nói trìu mến nhất và êm dịu nhất : « Abba », nghĩa là Cha (x. Mc 14, 33-36). Trong thử thách, Chúa Giêsu dạy chúng ta hãy ôm lấy Cha, bởi vì khi cầu xin Người, chúng ta tìm được sức mạnh để tiến tới trong sự đau khổ. Trong sự mệt mỏi, cầu nguyện là sự giảm bớt, là niềm hy vọng, là sự an ủi.

Bị mọi người bỏ rơi, trong sự buồn rầu nội tâm, Chúa Giêsu không một mình, Người ở cùng với Cha. Chúng ta thì ngược lại, trong những giờ phút trong vườn Giêtsêmani của chúng ta, chúng ta thường chọn cách chịu lấy một mình, thay vì gọi « Cha ơi » và phó thác mình cho Người, như Chúa Giêsu, phó dâng mình cho Thánh Ý của Người vốn là của cải đích thực của chúng ta. Nhưng, nếu trong thử thách, chúng ta khép kín, tức là chúng ta đào một con đường hầm trong chính chúng ta, một hành trình cô lẻ đau buồn không có phương hướng : luôn sâu thẳm trong chúng ta. Vấn đề lớn nhất không phải là sự đau khổ, mà là cách chúng ta đối phó với nó. Sự cô đơn không có lối thoát ; cầu nguyện thì có, bởi vì cầu nguyện là quan hệ, là tin tưởng. Chúa Giêsu gửi gấm tất cả và phó thác toàn bộ cho Cha Người, dâng lên Cha những gì Người cảm nhận, nương tựa nơi Cha trong cơn chiến đấu. Khi chúng ta đi vào trong những vườn Giêtsêmani của chúng ta – tất cả chúng ta đều có những vườn Giêtsêmani của chúng ta, hoặc là chúng ta đã có hoặc là sẽ có – chúng ta hãy nhớ điều này : khi chúng ta đi vào, khi chúng ta sẽ đi vào trong vườn Giêtsêmani của chúng ta, chúng ta hãy nhớ kêu cầu : « Cha ơi ».

Sau cùng, Chúa Giêsu thưa với Cha Người một lời cầu nguyện thứ ba cho chúng ta : « Lậy Cha, xin tha cho họ , vì họ không biết việc họ làm » (Lc 23,34). Chúa Giêsu cầu nguyện cho những kẻ đã độc ác với Người, cho những kẻ giết hại Người. Phúc Âm nói rõ rằng lời cầu nguyện này được dâng lên vào lúc bị đóng đinh. Có lẽ đây là giờ phút đau đớn nhất, khi người ta đóng đinh xuyên qua cổ tay và cổ chân Người. Chính ở đó, ở tột đỉnh của sự đau đớn, lúc tình yêu đạt đến đỉnh cao nhất : sự tha thứ đã tới, nghĩa là sự hiến tặng ở mức độ cao nhất, đập tan vòng lẩn quẩn của sự ác. Đọc Kinh Lậy Cha trong những ngày này, chúng ta có thể cầu xin một trong những ân sủng này : sống những ngày của chúng ta cho vinh quang của Thiên Chúa, nghĩa là sống với tình yêu ; biết phó thác mình cho Chúa Cha trong những thử thách và thưa « Lậy Cha » với Chúa Cha và tìm thấy trong cuộc gặp gỡ với Chúa Cha sự tha thứ và sự can đảm để thứ tha. Điều này đi chung với nhau. Chúa Cha tha thứ cho chúng ta, và Người ban cho chúng ta sự can đảm để tha thứ.

© Traduction de Zenit, Hélène Ginabat

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

https://fr.zenit.org/articles/catechese-la-demande-paradoxale-de-jesus-a-son-pere/

This entry was posted in Chưa được phân loại. Bookmark the permalink.