Lời « cảm ơn » của Đức Giáo Hoàng với các linh mục

Thư nhân lễ kính thánh Cha Sở họ Ars (Toàn Văn)

AOÛT 04, 2019 11:05 ANNE KURIANPAPE FRANÇOIS

Triều kiến ngày 22/11/2017

Đức Giáo Hoàng Phanxicô gửi một lời « cảm ơn » đặc biệt đến các linh mục trên thế giới : ngài đã gửi một bức thư nhân ngày giỗ 160 năm thánh Gioan Maria Vianney, Cha Sở họ Ars (1786-1859), ngày 04/8/2019. Sự biết ơn là « một khí giới mạnh mẽ », ngài đánh giá khi tỏ lòng biết ơn tới tất cả những ai « thường hay, một cách âm thầm và quên mình, trong sự bải hoải hay mệt mỏi, trong bệnh hoạn hay cô đơn, vẫn đảm đương sứ vụ phụng sự Thiên Chúa và dân Người và, dù rằng với tất cả những khó khăn trên hành trình, vẫn viết lên những trang sử đẹp nhất của cuộc đời linh mục ».

Trong những thời kỳ nổ ra cuộc khủng hoảng những lạm dụng, đôi khi các linh mục « cảm thấy bị làm trò cười và ‘‘mặc cảm tội lỗi’’ vì những tội ác mà các ngài không hề phạm », Đức Giáo Hoàng bầy tỏ sự biết ơn : « Anh em thân mến, Cảm ơn vì sự trung thành của anh em với những cam kết đã hứa… Cảm ơn vì với niềm vui, anh em đã biết dâng hiến đời mình… Cảm ơn vì chứng tá cho sự kiên trì và khả năng chịu đựng trong sự dấn thân mục vụ… Cảm ơn đã cử hành Thánh Lễ mỗi ngày và chăn dắt với lòng thương xót trong bí tích hòa giải, không khắt khe, cũng không lơ là… Cảm ơn đã xức dầu và loan báo cho mọi người, với lòng hăng say, ‘‘phùng thời hay nghịch thời’’ Phúc Âm của Chúa Giêsu Kitô ».

« Cảm ơn vì tất cả những lần, anh em đã để mủi lòng sâu đậm và tiếp nhận những người bị sa ngã, săn sóc thương tích của họ và cho họ hơi ấm của trái tim, bằng cách biểu lộ lòng nhân từ và thương cảm », Đức Giáo Hoàng nói thêm và nhấn mạnh : « Nỗi đau của bao nạn nhân, nỗi đau của Dân Thiên Chúa, cũng như nỗi đau của chúng ta, không thể vô ích… Không có gì khẩn cấp hơn điều này là : gần gũi, sát cánh, làm sao cho chúng ta sát cạnh với da thịt của người anh em đang đau đớn. Quả điều này là tốt đẹp, gương sáng của một vị linh mục gần gũi và không trốn tránh những thương tích của các người anh em mình ! »

Đức Giáo Hoàng Phanxicô dặn dò sự « biết ơn », vốn luôn là một ‘‘vũ khí sắc bén’’ : « Chỉ có khi chiêm ngắm và ngưỡng mộ cụ thể tất cả những cử chỉ của yêu thương, của rộng lượng, của liên đới và của tin tưởng, cũng như của tha thứ, của kiên nhẫn, của kiên trì và của thương cảm, với những thứ đó, chúng ta đã được đối xử mà chúng ta sẽ để cho Thánh Linh ban cho chúng ta cái không khí tươi mát này có khả năng đổi mới (chứ không phải là chấp vá) cuộc sống của chúng ta và sứ vụ của chúng ta ».

« Thời gian gần đây, chúng ta đã có thể nghe được rõ ràng hơn tiếng kêu, thường hay thầm lặng và bị bắt phải im lặng, của những người anh em nạn nhân của những lạm dụng quyền lực, lạm dụng tinh thần và lạm dụng tình dục từ những người có chức thánh », ngài nhấn mạnh và khẳng định rằng : « chúng ta muốn rằng, ngày hôm nay, sự hối cải, sự trong sáng, sự thật thà và sự liên đới với các nạn nhân trở thành cách thức của chúng ta để làm lịch sử và giúp cho chúng ta chú ý hơn tới mọi nỗi đau của con người ».

Dòng theo bài viết dài, Đức Giáo Hoàng Phanxicô mời gọi « đừng bỏ qua » sự kết nối với Chúa Giêsu và kết nối với dân Chúa : « Đừng cô lập mình với người ta và với các linh mục hay những cộng đoàn. Càng không nên nhốt kín mình trong những nhóm kín và ưu tú ».

Thư của Đức Giáo Hoàng gửi các linh mục

Gửi các anh em linh mục.

Anh em thân mến,

Chúng ta cử hành 160 năm ngày giỗ của thánh Cha Sở Họ Ars mà Đức Giáo Hoàng Piô XI đã giới thiệu như là quan thầy của tất cả các cha sở trên thế giới [1]. Tôi muốn viết bức thư này nhân ngày lễ kính ngài, không chỉ cho các cha sở, mà cũng là cho tất cả các anh em, các anh em linh mục, những người không gây ồn ào, ‘‘anh em bỏ lại’’ tất cả để dấn thân trong cuộc sống hàng ngày các cộng đoàn của các anh em. Gửi tới anh em, cũng như Cha Sở Họ Ars, đang làm việc trong những ‘‘đường hào’’, mang nặng trên vai gánh nặng mỗi ngày và nắng nôi thiêu đốt (x. Mt 20,12) và,  đối mặt với vô số tình huống, ‘‘ở đó anh em đã chấp nhận rủi ro’’ hàng ngày mà không lấy đó làm quan trọng, để săn sóc và đồng hành với Dân của Thiên Chúa. Tôi nói với mỗi người trong anh em, đang thường hay, một cách thầm kín và quên mình, trong sự bải hoải hay mệt mỏi, bệnh hoạn hay cô đơn, anh em vẫn đảm đương sứ vụ phụng sự Thiên Chúa và dân của Người và, dù rằng với tất cả những khó khăn của hành trình, anh em vẫn viết lên những trang sử tốt đẹp nhất của cuộc đời linh mục.

Cách đây không lâu, tôi đã biểu lộ với các giám mục Ý nỗi bận tâm của tôi về các linh mục của chúng ta, ở nhiều vùng, cảm thấy bị chê cười và ‘‘mặc cảm tội lỗi’’ vì những tội ác mà các ngài không hề can phạm. Và tôi đã nói với các ngài phải tìm kiếm nơi các giám mục của mình, hình ảnh của người anh cả và của người cha để khuyến khích mình trong những giờ phút khó khăn này, kích thích mình và nâng đỡ mình theo đuổi hành trinh [2].

Như người anh cả và như người cha, tôi muốn tôi cũng gần gũi, trước tiên để cảm ơn anh em nhân danh Dân Thánh trung thành của Thiên Chúa vì tất cả những gì Người đã nhận từ anh em và, để đáp trả, khuyến khích anh em hãy nhắc lại những lời mà Chúa đã phán với biết bao nhân hiền trong cái ngày chúng ta chịu chức và là nguồn vui của chúng ta : « Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa… Thầy gọi anh em là bạn hữu » (Ga 15,15) [3].

ĐAU KHỔ

« Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân ta » (Xh 3,7)

Thời gian gần đây, chúng ta đã có thể nghe được rõ ràng hơn tiếng kêu, nhiều khi thầm lặng và bị bắt phải im lặng, của những người anh em chúng ta là nạn nhân của những lạm dụng quyền lực, lạm dụng tinh thần và lạm dụng tình dục bởi những người có chức thánh. Không nghi ngờ gì, đây là thời gian của đau khổ trong cuộc đời của các nạn nhân đã phải chịu đựng những hình thức khác nhau của lạm dụng ; đó cũng là trường hợp của gia đình họ và của dân Thiên Chúa.

Như anh em đã biết, chúng ta kiên quyết dấn thân trong việc thực hiện những cải tổ cần thiết để động viên, từ gốc rễ, một nền văn hóa đặt nền tảng trên sự ân cần mục vụ, để cho cái văn hóa lạm dụng không tìm được khoảng trống để phát triển và càng không thể tồn tại được. Đây không phải là một trách vụ dễ dàng và trong ngắn hạn, nó đòi hỏi sự tham gia của hết thẩy mọi người. Nếu, trong quá khứ, sự thiếu sót đã có thể biến thành một hình thức trả lời, thì ngày hôm nay, chúng ta muốn rằng sự hổi cải, sự trong sáng, sự thực thà và sự liên đới với các nạn nhân phải trở thành cách làm lịch sử của chúng ta và giúp cho chúng ta lưu tâm hơn đến mọi đau khổ của con người [4].

Nỗi đau khổ đó cũng không phải là không ảnh hưởng đến các linh mục. Tôi đã có thể ghi nhận điều này nhân những chuyến tông du của tôi ở giáo phận của tôi cũng như trong các nơi khác, nơi tôi đã có dịp tiếp xúc và thảo luận cá nhân với các linh mục. Rất đông các ngài đã biểu lộ với tôi sự phẫn nộ của mình vì những điều đã xẩy ra, và đồng thời cũng là một sự bất lực nào đó bởi vì « thêm vào với nỗ lực của sự tận tụy, các ngài đã sống nỗi đau khổ gây ra bởi sự ngờ vực và cáo giác, đã có thể gây ra nơi một số hay cho nhiều vị sự hoài nghi, sự sợ hãi và sự thiếu tự tin » [5]. Nhiều thư từ của các linh mục đã chia sẻ cảm giác đó. Mặt khác, thật là an ủi được gặp những mục tử, dù ghi nhận và biết được những đau khổ của các nạn nhân và của Dân Thiên Chúa, đã động viên mình, tìm kiếm những lời nói và những con đường hy vọng.

Không phủ nhận, cũng không bác bỏ thiệt hại gây ra bởi một số người anh em chúng ta, sẽ là bất công nếu không tỏ lòng biết ơn đến bao linh mục khác, đang bằng một cách kiên trì và lương thiện, hiến dâng tất cả con người của các ngài, tất cả những gì các ngài sở hữu vì lợi ích cho tha nhân (x. 2Cr 12,15) và triển khai tình phụ tử thiêng liêng có khả năng khóc với người đang khóc. Các ngài là vô số kể, các linh mục đã biến cuộc đời của mình thành một công trình của lòng thương xót, trong những vùng hay trong những tình huống nhiều khi rất bất lợi, xa xôi hay bị bỏ rơi, kể cả có rủi ro đến tính mạng của các ngài. Tôi chào mừng và đánh giá cao gương can đảm và kiên trì của anh em, trong những giờ phút hỗn loạn, nhục nhã và đau khổ, đã cho chúng tôi thấy được anh em tiếp tục chấp nhận rủi ro với niềm vui Phúc Âm [6].

Tôi xác tín rằng, bao lâu chúng ta còn trung thành với thánh ý của Thiên Chúa, thời gian thanh tẩy Hội Thánh mà chúng ta đang sống sẽ làm cho chúng ta hạnh phúc hơn và đơn sơ hơn, và trong tương lai gần, sẽ rất phong phú. « Chúng ta đừng nản lòng ! Chúa đang thanh tẩy Bạn trăm Năm của Người và Người làm tất cả chúng ta trở lại với Người. Người để chúng ta trải nghiệm thử thách, để chúng ta hiểu được răng, không có Người, chúng ta chỉ là tro bụi. Người đang cứu thoát chúng ta khỏi sự giả hình và khỏi tính thiêng liêng bề ngoài. Người thổi Thần Khí của Người để ban lại sắc đẹp cho Bạn Trăm Năm của Người, bị bắt quả tang ngoại tình. Điều này sẽ có ích cho chúng ta ngày hôm nay nếu chúng ta đọc sách Ezechiel, chương 16. Đó là lịch sử của Hội Thánh. Mỗi người chúng ta cũng có thể nói, đó là lịch sử của tôi. Sau cùng, nhưng thông qua sự hổ thẹn của bạn, bạn sẽ tiếp tục là mục tử. Sự hối cải khiêm nhường của chúng ta, vốn thầm lặng, trong nước mắt, trước cái kinh khủng của tội lỗi và tinh bao la khôn lường của sự tha thứ của Thiên Chúa, sự ăn ăn khiêm nhường này là khởi đầu cho sự thánh thiện của chúng ta » [7].

LÒNG BIẾT ƠN

« Tôi không ngừng tạ ơn, khi nhắc tới anh em » (Ep 1,16)

Ơn gọi, quan trọng hơn cả sự lựa chọn về phần chúng ta, nó là sự đáp trả một lời kêu gọi nhưng không của Chúa. Thật là có ích khi thường xuyên đọc lại đoạn Phúc Âm kể lại Chúa Giêsu cầu nguyện, tuyển chọn và kêu gọi các môn đệ để « các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng » (Mc 3,14).

Ở đây, tôi muốn nhắc đến một người thầy cao cả của đời sống linh mục ở quê tôi, cha Lucio Gera. Khi nói với một nhóm linh mục vào một thời kỳ có nhiều thử thách tại Châu Mỹ Latinh, ngài nói : ‘‘Lúc nào cũng vậy, nhưng nhất là trong những lúc thử thách, chúng ta phải quay lại với những giờ phút sáng sủa khi chúng ta trải nghiệm ơn gọi của Chúa cống hiến suốt cả đời mình để phục vụ Người’’. Đó là điều tôi thích gọi là ‘‘ký ức đệ nhị luật của ơn gọi’’, đã cho phép chúng ta trở lại với « tụ điểm nóng bỏng, ở đó ơn của Thiên Chúa đã đụng đến tôi nơi khởi đầu con đường. Chính nhờ tia lửa đó mà tôi có thể thắp lên ngọn lửa cho ngày hôm nay, để mỗi ngày, mang đến hơi ấm và ánh sáng đến cho các anh chị em của tôi. Nhờ tia lửa đó, đã thắp sáng lên một niềm vui khiêm nhượng, một niềm vui không phạm đến đau khổ và thất vọng, một niềm vui thánh thiện và êm ái » [8].

Đã có một ngày, chúng ta trả lời bằng một câu ‘‘xin vâng’’, được sinh ra và lớn lên trong lòng một cộng đoàn Kitô giáo nhờ vào các vị thánh « ở nhà bên cạnh » đó [9], đã chỉ cho chúng ta với một đức tin đơn sơ là thật đáng để tận hiến tất cả cho Chúa và cho Nước Người. Một câu ‘‘xin vâng’’ mà tầm vóc đã và sẽ quan trọng không thể tưởng tượng được, đến nỗi nhiều khi chúng ta không thể hình dung toàn bộ điều tốt lành của câu nói đó cũng như những gì nó có thể sản xuất ra. Thật là đẹp, khi một vị linh mục già thấy mình được quây quần bên các con cái – nay đã trưởng thành – mà ngài đã ban phép Rửa khi họ còn bé và nay, với lòng biết ơn, đã đến giới thiệu với cha gia đình của họ ! Lúc đó, chúng ta khám phá ra rằng chúng ta đã được xức dầu để đi xức dầu và sự xức dầu của Thiên Chúa không hề làm người ta thất vọng, đó là điều khiến tôi hợp cùng với thánh Tông Đồ, nói lên rằng : « Tôi không ngừng tạ ơn Thiên Chúa vì anh em, khi nhắc tới anh em » (Ep 1,16) và tới tất cả những điều thiện mà anh em đã làm.

Trong những lúc gian truân, dễ bị tổn thương, cũng như trong những lúc yếu đuối và lộ ra những giới hạn của chúng ta, khi cơn cám dỗ dữ dằn nhất trong các cám dỗ, là ngồi nghiền ngẫm thất vọng[10] khi nhãn quan, sự phán đoán và tâm hồn bị đứt đoạn, vào những lúc đó, quan trọng – tôi có thể nói là sống chết – không chỉ là đừng quên đi ký ức biết ơn về sự đi qua của Chúa trong cuộc đời chúng ta, ký ức về ánh mắt đầy lòng thương xót của Người đã mời gọi chúng ta hãy hiến thân vì Người và vì dân của Người, mà còn là có can đảm thể hiện trong hành động của chúng ta và với Thánh Vịnh gia, ca lên bài hát ngợi khen riêng của chúng ta, vì « muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương » (Tv 135).

Lòng biết ơn luôn là một ‘‘vũ khí mạnh mẽ’’. Chỉ khi nào chiêm ngắm và thưởng thức cụ thể tất cả những cử chỉ thương yêu, rộng lượng, liên đới và tin tưởng, cũng như sự tha thứ, nhẫn nại, kiên trì và thương cảm mà chúng ta được đối xử thì chúng ta mới để cho Thần Khí cống hiến cho chúng ta cái không khí tươi mát có khả năng,  đổi mới (chứ không vá víu) cuộc đời chúng ta và sứ vụ của chúng ta. Cũng như thánh Phêrô buổi sáng hôm ‘‘mẻ cá phép lạ’’, mà ý thức về biết bao điều tốt đã nhận được làm phát lên trong chúng ta khả năng kinh ngạc, thán phục và biết ơn khiến chúng ta tuyên bố rằng : « Lậy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi » (Lc 5,8).  Và chúng ta hãy nghe lại một lần nữa từ miệng Chúa lời kêu gọi của người : « Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta » (Lc 5,10), vì « muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương » (Tv 135).

Anh em thân mến, cảm ơn anh em vì sự trung thành dấn thân của anh em. Thật là có ý nghĩa, trong một xã hội và một nền văn hóa đã biến đổi cái ‘‘hời hợt’’ thành giá trị, vẫn còn những con người đã mạo hiểm và tìm cách đảm đương sự dấn thân đòi hỏi suốt cả cuộc đời. Chúng ta có thể nói thẳng rằng, chúng ta tiếp tục tin vào Thiên Chúa ; Đấng đã không hề phá vỡ giao ước của Người, kể cả trong khi chúng ta đã phá vỡ nhiều lần vô số kể. Điều này mời gọi chúng ta ca tụng lòng chung thủy của Thiên Chúa đã không ngừng tín nhiệm, tin tưởng và chấp nhận rủi ro, mặc dù những giới hạn và những tội lỗi của chúng ta, và mời gọi chúng ta cũng làm như thế. Ý thức được là đang mang một kho tàng trong những chiếc bình bằng sành (x. 2Cr 4,7), chúng ta biết rằng Chúa chiến thắng trong sự yếu đuối (x. 2Cr 12,9), rằng Người không ngừng nâng đỡ chúng ta và kêu gọi chúng ta, và ban cho chúng ta gấp trăm lần chúng ta dâng lên Người (x. Mc 10, 29-30), vì « muôn ngàn đời, Chúa vẫn trọn tình thương ».

Cảm ơn anh em đã biết vui vẻ cống hiến cuộc đời anh em, tỏ ra một tấm lòng, trong suốt bao năm dài, đã đấu tranh và đang đấu tranh để không bị teo tóp và đắng cay mà, trái lại, để mỗi ngày mỗi nở rộng ra vì tình yêu Thiên Chúa và dân của Người, một tâm hồn mà thời gian đã không làm cay đắng mà đã làm cho mỗi ngày mỗi tốt hơn lên, như một loại rượu ngon, vì « muôn ngàn đời, Chúa vẫn trọn tình thương ».

Cảm ơn anh em vì anh em đã nỗ lực tăng cường những dây liên lạc của tình huynh đệ và tình bằng hữu trong linh mục đoàn và với giám mục của anh em, bằng cách nâng đỡ lẫn nhau, bằng cách săn sóc người bệnh hoạn, bằng cách đi tìm kẻ cô đơn, bằng cách tôn trọng và học hỏi sự khôn ngoan của các bậc trưởng thượng, bằng cách chia sẻ của cải, bằng cách biết cười và biết khóc chung với nhau. Những không gian đó quả là biết bao cần thiết : Và kể cả khi luôn thường xuyên và kiên trì, anh em đã phải đối đầu với những sứ vụ khó khăn hay khuyến khích một người anh em đảm đương các trách nhiện của mình, vì « muôn ngàn đời, Chúa vẫn trọn tình thương ».

Cảm ơn anh em vì chứng ta của sự kiên trì và ‘‘dẻo dai’’ trong sự dấn thân mục vụ, vốn nhiều khi, dẫn đưa chúng ta, bị thúc đẩy bởi sự tự do ngôn luận của mục tử[11], đấu tranh cả với Chúa trong cầu nguyện, giống như ông Môsê trong lời chuyển cầu can đảm và mạo hiểm cho dân chúng (x. Ds 14,13-19 ; Xh 32,30-32 ; DnL 9,18-21), vì « muôn ngàn đời, Chúa vẫn trọn tình thương ».

Cảm ơn anh em mỗi ngày đã cử hành Thánh Lễ và đã chăn dắt với lòng thương xót trong bí tích hòa giải, không khắt khe, cũng không lơ là, bằng cách chăm sóc con người và đồng hành với họ trên con đường hối cải tới một cuộc sống mới mà Chúa đã ban cho tất cả chúng ta. Chúng ta đều biết rằng, nhờ những bậc thang của lòng thương xót, chúng ta có thể đi xuống đến tận những chiều sâu kiếp sống con người của chúng ta – kèm theo tính dễ bị tổn thương và tội lỗi – và, đồng thời, đụng đến tột đỉnh của sự toàn hảo của Thiên Chúa : « Anh em hãy có lòng nhân từ […] như Cha anh em là Đấng nhân từ »[12]. Và như thế, chúng ta có thể « có khả năng sưởi ấm tâm hồn người ta, bước đi với họ trong đêm tối, biết đối thoại và kể cả đi xuống trong đêm tối của họ, trong vùng đen tối của họ mà không sợ lạc »[13], vì « từ ngàn đời, Chúa vẫn trọn tình thương ».

Cảm ơn anh em đã xức dầu và hăng hái loan truyền, ‘‘phùng thời và nghịch thời’’ (x. 2Tm 4,2) Phúc Âm của Chúa Giêsu Kitô, bằng cách thăm dò tấm lòng các cộng đoàn của các anh em « để tìm xem sự thèm khát sống động và nóng hổi đối với Thiên Chúa nằm ở đâu, và còn sự đối thoại tình yêu này đã bị tắc nghẽn hay đã không có kết quả, nằm ở đâu »[14], vì « từ ngàn đời, Chúa vẫn trọn tình thương ».

Cảm ơn anh em vì tất cả những lần, anh em đã xúc động đến tận đáy lòng, mà đón tiếp những người sa ngã, săn sóc các thương tích của họ và sưởi ấm tấm lòng của họ, khi thể hiện lòng nhân từ và thương cảm giống như người Samari trong dụ ngôn (x. Lc 10,25-37). Không có gì khẩn cấp cho bằng điều này : sự gần gũi, sát cánh, gần gũi với da thịt của người anh em đang đau khổ. Thật là một gương lành khi một vị linh mục gần gũi, không trốn tránh những vết thương của người anh em mình ![15]. Chính sự phản ánh của trái tim mục tử đã dạy cho vị linh mục biết cái hương vị thiêng liêng được cảm thấy hợp nhất với dân mình [16], không quên mình đến từ dân này và chỉ vì phục vụ cho dân này mà vị linh mục tìm được và sẽ triển khai căn tính đích thực và đầy đủ của mình, khiến mình chấp nhận chọn kiểu sống khắc khổ và đơn sơ, không chấp nhận những đặc ân vốn không có hương vị của Phúc Âm, vì « từ ngàn đời, Chúa vẫn trọn tình thương ».

Chúng ta cũng hãy cảm ơn vì sự thánh thiện của Dân trung thành của Thiên Chúa mà chúng ta được mời gọi để chăn dắt, và qua đó Chúa cũng chăn dắt chúng ta và gìn giữ ơn lành được chiêm ngắm dân này trong những « bậc cha mẹ đã giáo dục với bao tình thương, con cái mình, nơi những con người nam và nữ đang làm việc để mang lại cơm áo cho gia đình, nơi những người bệnh hoạn, nơi những nữ tu lớn tuổi vẫn tươi nụ cười. Trong sự kiên trì ra đi hàng ngày, tôi nhìn thấy được sự thánh thiện của Hội Thánh chiến đấu » [17]. Chúng ta hãy tạ ơn vì mỗi người trong họ và hãy để họ giúp đỡ chúng ta và khuyến khích chúng ta bằng những chứng tá của họ, vì « từ ngàn đời, Chúa vẫn trọn tình thưong ».

LÒNG CAN ĐẢM

« Tôi chiến đấu để họ được phấn chấn trong tâm hồn » (Cl 2,2)

Mong ước lớn thứ nhì của tôi, bằng cách vọng lại những lời thánh Phaolô xưa, là hướng dẫn anh em làm mới lại lòng can đảm linh mục của chúng ta, kết quả trước hết của Chúa Thánh Linh trong cuộc đời chúng ta. Trước những trải nghiệm đau buồn, tất cả chúng ta đều cần được an ủi và khuyến khích. Sứ vụ mà chúng ta đã được kêu gọi hoàn thành không hề huấn luyện cho chúng ta được miễn nhiễm khổ nhọc, đau đớn và kể cả hiểu lầm[18] ; trái lại, nó thúc đẩy chúng ta hãy đối đầu với chúng và đảm nhận chúng để mặc cho Chúa biến đổi chúng và đồng dạng hoá chúng ta với Người nhiều hơn. « Thực chất, sự thiếu vắng lòng biết ơn mang tính chân thật, đau đớn và cầu nguyện của những giới hạn nơi chúng ta là điều ngăn cản ơn phúc hành động tốt hơn nơi chúng ta, bởi vì đã không có chỗ để thực hiện điều tốt lành có thể có này để xen vào trên hành trình thầnh khẩn và thực tế của sự tăng trưỏng »[19].

Một cách ‘‘thử nghiệm’’ để biết được tấm lòng mục tử của chúng ta ra sao là tự hỏi xem chúng ta phản ứng như thế nào trước đau khổ. Thông thường, người ta có thể hành động như thầy lêvi hay thầy tư tế của dụ ngôn, những kẻ đi vòng và không để ý đến con người bị ngã (Lc 10,31). Có những người khác tới gần một cách không tốt, họ trí thức hóa nó bằng cách ẩn náu trong những nơi công cộng : ‘‘cuộc đời là như thế đó’’, ‘‘chẳng thể làm gì được’’, dẫn tới chủ nghĩa định mệnh và tới sự thất vọng ; hay họ tới gần với một ánh mắt lọc lựa, chỉ sinh ra sự cô lập và thải loại. « Cũng như ngôn sứ Jonas, chúng ta có trong chúng ta cám dỗ tiềm ẩn là chạy trốn tới một nơi an toàn có thể mang nhiều danh xưng : chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tâm linh, rút về những vòng tròn nhỏ… »[20] những thứ đó, thay vì làm cho lòng dạ chúng ta bị xúc động, cuối cùng lại lái chúng ta ra khỏi những thương tích của chính chúng ta, những thương tích của những người khác, và như thế, những vết thương của Chúa Giêsu[21].

Cũng trên đường hướng này, tôi muốn cảnh báo một thái độ tế nhị và nguy hiểm, như lời văn hào Bernanos thường nói, là « liều thuốc ngọt được ưa thích nhất của ma quỷ »[22] và độc hại nhất đối với những người trong chúng ta mong muốn phụng sự Chúa, bởi vì nó gieo rắc sự nản lòng, tình cảm bị bỏ rơi và dẫn tới thất vọng[23]. Thất vọng bởi thực tế, bởi Hội Thánh và bởi chính chúng ta, chúng ta có thể sống cái cám dỗ bám víu vào một nỗi buồn êm ái, mà các thượng phụ phương Đông gọi là ‘nản tu’. Đức Hồng Y Tomas Spidlik đã nói : « Nếu sự buồn nản tấn công chúng ta vì đời sống thực tại, vì sự chung đụng với người khác, bởi vì chúng ta cô đơn, thì luôn có một sự thiếu thốn đức tin nào đó vào sự Quan Phòng của Thiên Chúa và vào công trình của Người. Sự buồn nản làm tê liệt lòng can đảm tiếp tục công việc và cầu nguyện, làm cho chúng ta đáng ghét đối với những người đang sống bên cạnh chúng ta. Các tác giả tu sĩ đã dành một sự mô tả dài dòng cho cái tật xấu này và gọi nó là ké thù tệ hại nhất của đời sống thiêng liêng »[24].

Chúng ta biết nỗi buồn này dẫn tới quen nghiện và dần dà tới sự thuần hóa điều ác và điều bất công với lời than yếu ớt ‘‘xưa nay người ta vẫn làm như thế’’. Sự buồn nản làm cằn cỗi mọi tính toán thay đổi và hoán cải bằng cách phổ biến hận thù và ác tâm. « Đây không phải là sự lựa chọn của một đời sống xứng đáng và đầy đủ, đây không phải là ý muốn của Thiên Chúa phục sinh » và là chủ đích khiến chúng ta đã được kêu gọi[25]. Anh em thân mến, khi cái nỗi buồn êm ái này đe dọa và xâm chiến cuộc đời chúng ta hay cộng đoàn của chúng ta, chúng ta hãy cầu xin và nhờ cầu xin Chúa Thánh Linh để « Người xuống đánh thức chúng ta, lay lắc chúng ta trong cơn say ngủ, giải thoát chúng ta cho khỏi trì lực. Chúng ta hãy đối phó với sự quen thuộc, chúng ta hãy mở to đôi mắt, đôi tai, và nhất là tấm lòng chúng ta, để chúng ta xúc động bởi những gì xẩy ra chung quanh chúng ta và bởi tiếng kêu của Lời hằng sống và hữu hiệu của Đấng Phục Sinh »[26].

Cho phép tôi được nhắc lại, tất cả chúng ta đều cần sự an ủi và sức mạnh của Thiên Chúa và của anh em chúng ta trong những thời kỳ khó khăn. Những lời thánh Phaolô nhắn gửi các cộng đoàn của ngài cũng hữu ích cho tất cả chúng ta : « Bởi vậy, tôi xin anh em đừng nản chí vì những thử thách » (Ep 3,13) ; « Tôi chiến đấu để họ được phấn khởi trong tâm hồn » (Cl 2,2), và như thế, có thể hoàn thành sứ vụ mà mỗi buổi sáng Chúa ban cho chúng ta : loan truyền « một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân » (Lc 2,10). Nhưng điều này, không phải như một lý thuyết hay một sự hiểu biết trí thức hay đạo đức của điều đáng lẽ phải thế, mà như những con người, trong lúc ở giữa đau khổ đã được biến đổi và biến hình bởi Chúa, và như ông Job, có thể kêu lên : « Trước kia, con chỉ biết về Ngài nhờ người ta nói lại, nhưng giờ đây, chính mắt con chứng kiến » (G 42,5). Không có cái kinh nghiệm căn bản đó, tất cả mọi nỗ lực của chúng ta chỉ đẫn chúng ta tới con đường của thất vọng và nản chí.

Suốt cuộc đời chúng ta, chúng ta đã có thể chiêm ngắm « niềm vui được sinh ra và tái sinh với Chúa Giêsu Kitô »[27] như thế nào. Dù rằng có nhiều chặng đường trong trải nghiệm đó, chúng ta biết rằng xa hơn những mỏng giòn và tội lỗi của chúng ta, Thiên Chúa luôn « để cho chúng ta ngước đầu lên và bắt đầu trở lại với một lòng nhân từ không hề làm thất vọng và luôn luôn có thể trả lại niềm vui cho chúng ta »[28]. Niềm vui đó không nẩy sinh từ những nỗ lực duy ý chí và trí thức của chúng ta ; mà từ lòng trông cậy, biết rằng những lời của Chúa Giêsu phán với thánh Phêrô vẫn còn mang tính thời sự : trong những giờ phút mà anh em bị giao động, anh em đừng quên rằng « Thầy đã cầu nguyện cho anh, để anh khỏi mất lòng tin » (Lc 22,32) . Chúa là Đấng đầu tiên cầu nguyện và chiến đấu cho anh em và cho chính tôi. Và Người mời gọi chúng ta hãy đi vào trọn vẹn trong sự cầu nguyện của Người. Còn có thể có những giờ phút mà chúng ta phải dìm mình trong « kinh nguyện tại vườn Giêtsêmani, kinh nguyện mang tính con người và bi thảm nhất trong những kinh nguyện của Chúa Giêsu (…). Có van nài, buồn thảm, lo âu, gần như một sự mất định hướng » (Mt 14,33ss)[29].

Chúng ta biết rằng không phải là dễ để đứng trước mặt Chúa và để cho Người nhìn kỹ vào cuộc đời chúng ta, chữa lành tâm hồn bị thương của chúng ta và rửa chân lấm bụi trần gian cho chúng ta, bụi bặm đã lấm chân chúng ta trên đường đi và ngăn cản chúng ta cất bước. Trong cầu nguyện chúng ta trải nghiệm sự nghèo nàn diễm phúc của chúng ta, nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta là những môn đệ đói khát sự giúp đỡ của Chúa và Người giải thoát chúng ta ra khỏi xu hướng « cậy mình của những kẻ, cuối cùng, chỉ tin tưởng và cái lực của chính mình và cảm thấy vượt trội hơn những người khác bởi vì họ tuân thủ những tiêu chí được xác định trước »[30].

Thưa anh em, Chúa Giêsu, hơn bao giờ hết, biết rõ những nỗ lực và những thành công của chúng ta, cũng như những thất bại và những không may của chúng ta. Người là Đấng đầu tiên phán với chúng ta : « Tất cả những ai vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng » (Mt 11, 28-29).

Trong một lời cầu nguyện như thế, chúng ta biết rằng, chúng ta không chỉ một mình. Lời cầu nguyện của người mục tử là một lời cầu nguyện được cư ngụ bởi Thánh Linh « Đấng kêu lên ‘‘Abba’’, nghĩa là Cha ơi ! » (Gl 4,6) và cả bởi dân chúng đã được giao phó cho mình. Sứ vụ của chúng ta và căn tính của chúng ta được thấu hiểu từ hai quan hệ đó.

Lời cầu nguyện của mục tử được nuôi dưỡng và nhập thể trong trái tim của Dân Thiên Chúa. Nó mang những chỉ dấu của những thương tích và những niềm vui của dân chúng mà nó âm thần dâng lên Chúa để xức dầu với ơn phúc của Chúa Thánh Linh. Chính là niềm hy vọng của vị mục tử, người tin tưởng và đấu tranh để Chúa chữa lành sự mỏng giòn cá nhân của chúng ta và của dân chúng ta. Nhưng chúng ta đừng quên rằng chính là trong sự cầu nguyện của Dân Thiên Chúa mà trái tim của mục tử tìm được chỗ đứng và nhập thể trong đó. Điều này giải thoát chúng ta tất cả khỏi cảnh đi tìm hay mong muốn những câu trả lời dễ dàng, nhanh chóng và được tiền chế, trong lúc để cho Chúa, để chính Người (chứ không phải những công thức hay những ưu tiên của chúng ta) chỉ ra con đường hy vọng. Chúng ta đừng quên rằng trong những giớ phút khó khăn nhất của cộng đoàn tiên khởi, như chúng ta đã đọc trong sách Tông Đồ Công Vụ, cầu nguyện đã trở thành có vai trò chủ chốt.

Thưa anh em, chúng ta hãy thừa nhận sự mỏng giòn của chúng ta, phải, nhưng chúng ta hãy để Chúa Giêsu biến đổi nó và thúc đẩy chúng ta mãi mãi trong sứ vụ của chúng ta. Chúng ta đừng mất đi niềm vui cảm thấy mình là ‘‘con cừu non’’, và biết rằng Người là Chúa của chúng ta và là Mục Tử của chúng ta.

Để giữ cho tâm hồn can đảm, cần phải không được bỏ qua hai mối quan hệ này làm thành căn tính của chúng ta : thứ nhất là với Chúa Giêsu. Mỗi lần chúng ta xa rời Chúa Giêsu hay chúng ta lơ là quan hệ với Người, dần dần dự trữ của chúng ta bị khô cạn và cây đèn của chúng ta thiếu dầu, sẽ không còn có khả năng thắp sáng cuộc đời (c. Mt 25, 1-13) : « Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy. (…) không có Thầy, anh em chẳng làm gì được » (Ga 15, 4-5). Trên ý nghĩa này, tôi khuyến khích anh em đừng quên sự đồng hành thiêng liêng, phải có một người anh em để nói chuyện, đối chứng, thảo luận và phân định, với đầy lòng tin tưởng và trong sáng, con đường của riêng mình ; một người anh em khôn ngoan để trải nghiệm cùng với người đó sự hiểu biết làm môn đệ. Đi tìm người đó, kiếm được người đó và tận hưởng niềm vui được hướng dẫn, đồng hành và cố vấn. Đó là một sự trợ giúp không thay thế được để có thể sống sứ vụ trong lúc thực hiện thánh ý của Chúa Cha (x. Dt 2,5) và để cho trái tim mình đập với « những tâm tình nơi chính Đức Kitô Giêsu » (Pl 2,5). Mong rằng những lời của Sách Giảng Viên làm điều ích cho chúng ta « Hai người thì hơn một… Người này ngã, đã có người kia nâng dậy. Nhưng chỉ có một mình mà bị ngã thì thật là khốn, vì chẳng có ai nâng dậy cả » (Gv 4, 9-10).

Quan hệ cấu thành kia là : làm tăng trưởng và nuôi dưỡng quan hệ với dân chúng của anh em. Đừng cô lập người ta và các linh mục hay các cộng đoàn. Càng không thể giam mình trong những nhóm khép kín và mang tính tinh hoa chủ nghĩa. Điều này, thực chất, bóp nghẹt và làm linh hồn nhiễm độc. Một linh mục được yêu quý là một vị linh mục luôn đi ra ngoài ; và ‘‘đi ra ngoài’’ dẫn chúng ta tới bước đi « đôi khi phía trước, đôi khi ở giữa, đôi khi đàng sau :  đi phía trước để hướng dẫn cộng đoàn, đi ở giữa để hiểu rõ cộng đoàn hơn, để khuyến khích cộng đoàn và nâng đỡ cộng đoàn ; đi đàng sau, để giữ cho cộng đoàn hợp nhất và để cộng đoàn không bao giờ tuột hậu quá xa… và đôi khi vì những lý do khác : bởi vì dân chúng ‘‘cảm thấy’’. Dân có một giác quan khứu giác trong sự tìm kiếm những con đường mới để bước đi, họ có ‘‘sensus fidei’’ (x. LG 12). Liệu có gì đẹp hơn thế không ?[31]. Chính Chúa Giêsu đã là khuôn mẫu của sự lựa chọn Phúc Âm hóa này dẫn đưa chúng ta vào trong tâm hồn của dân chúng. Thật là có ích cho chúng ta được thấy Người ở giữa tất cả chúng ta ! Sự khổ nạn của Chúa Giêsu trên thánh giá không là gì hơn kết quả của cách Phúc Âm hóa vốn nêu đặc tính của toàn bộ cuộc đời của mình.

Thưa anh em, nỗi đau của bao nạn nhân, nỗi đau của Dân Thiên Chúa, cũng như của chúng ta, không thể là vô ích. Chính Chúa Giêsu đã nhận lấy gánh nặng đó trên cây thập giá của Người và mời gọi chúng ta hãy canh tân sứ vụ của chúng ta để gần gũi với những người đang đau khổ, để không hổ thẹn, được gần gũi với sự khốn khổ của nhân loại và, tại sao không, trải nghiệm chúng như những nỗi đau khổ của chúng ta để làm của lễ hy tế[32]. Thời đại của chúng ta, bị đánh dấu bởi những vết thương cũ và mới, cần được chúng ta là những người thợ thủ công của quan hệ và của hiệp thông, mở ra ; tin cậy và đợi chờ sự mới mẻ mà Nước Thiên Chúa muốn khơi dậy trong ngày hôm nay. Một Vương Quốc của những người tội lỗi được tha thứ và được mời gọi làm chứng cho sự thương cảm luôn tích cực và mang tính thời sự của Chúa « bởi vì từ ngàn đời, Chúa vẫn trọn tình thương ».

NGỢI KHEN

« Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa » (Lc 1,46)

Không thể nói đến tạ ơn và khuyến khích mà không chiêm ngắm Đức Mẹ Maria. Mẹ, người phụ nữ với trái tim bị đâm thấu qua (x. Lc 2,35), dạy cho chúng ta lời ngợi khen có khả năng mở tầm nhìn ra tương lai và làm cho hy vọng trở thành hiện tại. Tất cả cuộc đời Mẹ được cô đọng trong bản thánh ca ngợi khen của Mẹ (x. Lc 1, 46-55) mà chúng ta cũng được mời gọi để hát lên như lời hứa viên mãn.

Mỗi lần tôi đến một Thánh Địa Đức Mẹ Maria, tôi thích ‘‘câu giờ’’ bằng cách nhìn ngắm Đức Mẹ và để Đức Mẹ nhìn mình, và cầu xin Mẹ lòng tin cậy của con cái, của kẻ nghèo khó và của kẻ đơn sơ biết rõ rằng Mẹ mình đang ở đó và có thể cầu xin một chỗ trong vòng tay của Mẹ. Và vào lúc mà tôi nhìn lên Mẹ, một lần nữa nghe như người da đỏ Juan Diego đã xác nhận : « Con trai út của mẹ sao vậy ? Điều gì làm con buồn lòng ? Có lẽ tại mẹ không có ở đây, mẹ có hân hạnh là mẹ của con »[33].

Nhìn lên Đức Maria, chính là « tin trở lại vào sức mạnh cách mạng của lòng nhân ái và tình yêu thương. Nơi mẹ, chúng ta thấy được lòng khiêm nhường và nhân ái không phải là những đức tính của kẻ yếu đuối, mà của những người mạnh mẽ, không có nhu cầu hành hạ người khác để cảm thấy mình quan trọng »[34].

Và nếu khi nào ánh mắt đanh sắt lại, hay nếu chúng ta cảm thấy rằng sức mạnh quyến rũ của sự lãnh đạm hay của sự sầu não muốn bám rễ và chiếm lấy con tim ; nếu lòng mong muốn cảm thấy mình là một phần tử sống động của Dân Thiên Chúa bắt đầu gây phiền nhiễu và chúng ta cảm thấy bị thúc đẩy tới một thái độ tinh hoa chủ nghĩa… chúng ta đừng sợ chiêm ngắm Đức Maria và hát lên bài thánh ca ngợi khen của mẹ.

Và nếu đôi khi chúng ta bị cám dỗ tự cô lập và khép kín trong tâm tư và trong các dự án của chúng ta bằng cách tự vệ, tránh những con đường luôn đầy bụi bặm của lịch sử, hay nếu sự than vãn, rên rỉ, sự phê phán hay mỉa mai chiếm lĩnh các hoạt động của chúng ta mà không có ý định đấu tranh, hy vọng và yêu thương nào… thì chúng ta hãy trông lên Đức Maria để mẹ tẩy rửa ánh mắt chúng ta hết mọi ‘‘cát bụi’’ có thể ngăn cản chúng ta chú tâm và tỉnh thức để chiêm ngắm và ca tụng Đức Kitô đang sống giữa Dân Người. Và nếu chúng ta thấy rằng chúng ta không có khả năng đi cho thẳng thắn, chúng ta khó khăn đễ giữ các mục tiêu hối cải của chúng ta, chúng ta hãy nói lên như vị cha sở thi sĩ vĩ đại đã yêu cầu trong sự đơn sơ, trong giáo phận của ngài : « Lạy Mẹ, lời hứa chiều nay của con là chân thành. Nhưng vạn nhất, xin mẹ đừng quên để chìa khóa ngoài cửa cho con »[35]. « Mẹ là người bạn luôn chú tâm để cho rượu không bao giờ bị thiếu trong cuộc đời chúng ta. Mẹ là đấng mà trái tim đã bị ngọn giáo đâm thấu, trái tim hiểu thấu mọi nỗi đau buồn. Như là mẹ của mọi người, mẹ là dấu chỉ của hy vọng cho những dân đang chịu sự đau đớn lúc sinh đẻ cho tới khi nào công lý được sinh ra… Như một người mẹ đích thực, mẹ bước đi với chúng ta, đấu tranh với chúng ta, và không ngừng ban phát sự gần gũi của tình yêu Thiên Chúa »[36].

Thưa anh em, một lần nữa, « tôi không ngừng tạ ơn Thiên Chúa vì anh em, khi nhắc tới anh em trong những lời cầu nguyện của tôi » (Ep 1,16) vì sự tận tụy và sứ vụ của anh em với lòng trông cậy mà « Thiên Chúa lấy đi những phiến đá cứng nhất nơi đập vỡ những hy vọng và những chờ đợi : sự chết, tội lỗi, sợ hãi, thế tục. Lịch sử loài người không chấm dứt trước một tấm mộ bia bằng đá, bởi vì ngày hôm nay nó khám phá ra ‘‘Viên Đá sống động’’ (x. 1Pr 2,4) : Chúa Giêsu phục sinh. Chúng ta, cũng như Hội Thánh, chúng ta được xây dựng trên Người và, dù là khi chúng ta mất đi lòng dũng cảm, khi chúng ta bị cám dỗ phán đoán mọi chuyện dựa trên căn bản những thất bại của chúng ta, Người đến để làm mọi điều mới lại »[37].

Chúng ta hãy để cho lòng tạ ơn khơi lên lời ngợi khen và khuyến khích một lần nữa trong sứ vụ dâng hiến các anh em trong niềm hy vọng. Là những con người làm chứng bằng đời sống của chính mình lòng thương cảm và thương xót mà chỉ có  Chúa Giêsu mới có thể hiến tặng cho chúng ta.

Cầu xin Chúa Giêsu ban phước lành cho anh em và cầu xin Đức Trinh Nữ Maria gìn giữ anh em. Và xin anh em vui lòng, tôi cầu xin anh em đừng quên cầu nguyện cho tôi.

Trong tình huynh đệ

Phanxicô

Ban ra tại Rôma, gần thánh đường Thánh Gioan Latran, ngày 04/8/2019

Phụng vụ kính nhớ Thánh Cha sở họ Ars

_______________________

 [1] Tông thư Anno Iubilari (23/4/1929) : AAS 21 (1929) 313

 [2] Bài diễn văn tại Hội Đồng Giám Mục Ý ; (20/5/2019). Tình phụ tử thiêng liêng, thúc đẩy giám mục không bỏ các linh mục của mình mồ côi, có thể ‘đụng chạm’ đến nhau, không chỉ trong khả năng để cửa rộng mở cho tất cả các linh mục, mà còn đi tìm kiếm họ để săn sóc và đồng hành với họ.

 [3] X. ĐGH Gioan XXIII, Tông thư Sacerdotii nostri primordia, nhân dịp ngày giỗ 100 năm thánh Cha Sở Họ Ars (01/8/1959) : AAS 51 (1959) 548.

 [4] X. Thư gửi Dân Chúa (20/8/2018)

 [5] Gặp gỡ với các linh mục, tu sĩ, những người tận hiến và các chủng sinh, Santiago, Chilê (16/01/2018).

 [6] X. Thư gửi Dân Thiên Chúa trên đường lữ hành tại Chilê (31/5/2018).

 [7] Gặp gỡ với hàng giáo sĩ giáo phận Rôma (07/3/2019)

 [8] Bài giảng đêm vọng Phục Sinh (19/4/2014).

 [9] Tông huấn Gaudete et exultate, số 7.

 [10]  X. Jorge Mario Bergoglio, Las cartas de la tribulación (Herder, 2019), 21.

 [11] X. Bài diễn văn đọc trước các linh mục giáo phận Rôma (06/3/2014).

 [12] Tĩnh tâm nhân dịp Năm Thánh các linh mục, Bài nguyện ngẫm đầu (02/6/2016).

 [13] A. Spadaro, Phỏng vấn Đức Giáo Hoàng Phanxicô, ‘‘La Civilta Cattolica’’ 3918 (19/9/2013) ; 462.

 [14] Tông huấn Evangelii gaudium, số 137.

 [15] X. Bài diễn văn trước các linh mục giáo phận Rôma (06/11/2014).

 [16] X. Tông huấn Evangelii gaudium, số 268.

 [17] Tông huấn Gaudete et exultate, số 7.

 [18] X. Tông thư Miresicordia et Misera, số 13.

 [19] Tông huấn Gaudete et exultate, số 50.

 [20] Ibid., số 134.

 [21] Jorge Mario Margeglio, Reflexiones en esperanza, (LEV 2013), 14.

 [22] Nhật ký của một cha sở nông thôn, 135, x. Tông huấn Evangelii gaudium, số 83.

 [23] X. Barsanufio, Epistolario, in V. Cutro – Michal Tadeusz Szwemin, Bisogno di paternità, Varsovie, 2018, trg 124.

 [24] X. L’Arte di purificare il cuore, Roma, 1999, trg 47.

 [25] Tông huấn Evangelii gaudium, số 2.

 [26] Tông huấn Gaudete et exultate, số 137.

 [27] Tông Huấn Evangelii Gaudium, số 1.

 [28] Ibid., số 3

 [29] Jorge Mario Bergoglio, Reflexiones en esperanza, (LEV 2013), 26.

 [30] Tông huấn Evangelii Gaudium, số 94.

 [31] Gặp gỡ với hàng giáo sĩ, những người đời sống tận hiến và các thành viên các hội đồng mục vụ, Assisi (04/10/2013).

 [32] X. Tông huấn Evangelii Gaudium, số 268-270.

 [33] X. Nican Mopohua, 107. 108. 119.

[34] Tông huấn Evangelii Gaudium, số 288.

 [35] X. Amelio Luis Calori, Aura Fúlgida, Buenos Aires, 1946.

 [36] Tông huấn Evangelii Gaudium, số 286.

 [37] Bài giảng đêm Vọng Phục Sinh (20/4/2019).

© Librairie éditrice du Vatican

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

https://fr.zenit.org/articles/le-merci-du-pape-aux-pretres/

 797 khách đã đọc bài này
This entry was posted in Chưa được phân loại. Bookmark the permalink.