Bài Giáo Lý – Một cách mới để hiểu được quan hệ với Thiên Chúa

Cho đến thử thách tuyệt đối (Bản dịch toàn văn)

JUIN 03, 2020 17:22 HÉLÈNE GINABATPAPE FRANÇOIS

Triều kiến chung, ngày 03 tháng 6 năm 2020

Khi ông Ápraham rời xứ sở của ông theo lời hứa của một Thiên Chúa mà ông còn chưa biết, « sự ra đi của ông làm ra một cách mới để hiểu rõ về quan hệ với Thiên Chúa », Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã khẳng định nhân buổi triều kiến chung ngày 03/6/2020, trong thư viện của Dinh tông tòa tại Vatican. « Cuộc sống của người tín hữu bắt đầu hình thành », Đức Giáo Hoàng giải thích, « như là nơi thực hiện một lời húa » : « Thiên Chúa của ông Ápraham trở thành ‘‘Thiên Chúa của tôi’’, Thiên Chúa của lịch sử cá nhân tôi, Đấng dẫn dắt bước chân tôi đi, mà không bỏ tôi ».

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tiếp tục các Bài Giáo Lý của ngài về cầu nguyện bằng cách nhắc tới vị tổ phụ đầu tiên. « Ông đã sống sự cầu nguyện », Đức Giáo Hoàng bình giảng, « trong một sự trung thành liên tục vào Lời đó đã định kỳ hiện lên trên đường đi của ông ». Ông Ápraham « đã tin, ông đã ra đi mà không biết đi đâu (…) nhưng ông tin tưởng ». Và như thế, ông « trở thành thân tình với Thiên Chúa, có cả khả năng tranh luận với Người, nhưng luôn trung thành. Ông nói với Thiên Chúa và ông tranh luận ».

Vào thời khắc thử thách tối hậu của sự hy tế ông Isaác ; « Ông Ápraham sống đức tin của ông như một thảm kịch, như một con đường lần mò trong đêm tối, dưới một vòm trời lần này không trăng sao ». « Và điều này cũng rất hay xẩy ra cho chúng ta, phải bước đi trong đêm tối nhưng với đức tin ». Và Đức Giáo Hoàng kết luận : « Chúng ta hãy học ông Ápraham, chúng ta hãy học cầu nguyện với đức tin : lắng nghe Chúa, bước đi, đối thoại với ngài đến độ có thể tranh luận. Chúng ta đừng sợ tranh luận với Thiên Chúa (…) nhưng luôn sẵn lòng đón nhận lời của Thiên Chúa và mang ra thực hành ».

Sau đây là bản dịch Bài Giáo Lý bằng tiếng Ý của Đức Giáo Hoàng Phanxicô.

HG

Bài Giáo Lý bằng tiếng Ý của Đức Giáo Hoàng Phanxicô (Bản dịch toàn văn)

Thân chào Quý Anh Chị Em !

Có một tiếng nói vang lên một cách bất ngờ trong cuộc đời của ông Ápraham. Một tiếng nói mời gọi hãy chọn một con đường có vẻ là vô lý : một tiếng nói thúc đẩy rời bỏ cội nguồn đất nước, cội nguồn gia đình của mình để đi tới một tương lai mới, một tương lai khác. Và tất cả điều đó được xây dựng trên một lời hứa, phải tin vào. Và tin cậy vào một lời hứa không phải là dễ, phải có can đảm. Và ông Ápraham đã tin tưởng.

Thánh Kinh không nói gì về quá khứ của vị tổ phụ đầu tiên. Một cách hợp lý thì phải nghĩ rằng ông đã thờ kính các thần linh ; có thể ông là một người công chính, có thói quen ngắm trời và các tinh tú. Chúa, quả đã hứa với ông rằng con cháu ông sẽ đông như sao trên trởi.

Và ông Ápraham ra đi. Ông nghe tiếng nói của Thiên Chúa và tin vào lời Người. Thật là quan trọng : ông tin vào lời của Thiên Chúa. Và sự ra đi của ông làm ra một cách mới để quan niệm về quan hệ với Thiên Chúa ; chính vì lý do đó mà tổ phụ Ápraham đã hiện diện trong những truyền thống thiêng liêng lớn của người Do Thái, Kitô giáo và Hồi giáo như là con người toàn hảo của Thiên Chúa, có khả năng suy phục Người, kể cả khi ý của Người tỏ ra gay go, nếu không muốn nói là hoàn toàn không thể hiểu được.

Ông Ápraham như thế là con người của Lời. Khi Thiên Chúa phán, con người trở thành kẻ tiếp nhận Lời đó và cuộc sống của con người là nơi mà Lời yêu cầu được nhập thể. Đó là một sự mới mẻ to lớn trên con đường tôn giáo của con người : đời sống của người tín hữu bắt đầu thực hiện như một ơn gọi, nghĩa là như một lời kêu gọi, như là một nơi lời hứa được thực hiện ; và người đó di chuyển trên thế gian không phải dưới sức nặng của một bí ẩn mà bởi sức mạnh của lời hứa này sẽ được thực hiện vào một ngày nào đó. Và ông Ápraham đã tin vào lời hứa của Thiên Chúa. Ông đã tin và đã ra đi mà không biết là ông sẽ đi đâu – theo điều nói trong thư gửi tín hữu Do Thái (x. Dt 11,8). Nhưng ông tin tưởng.

Khi đọc sách Sáng Thế Ký, chúng ta khám phá được cách nào mà ông Ápraham đã sống cầu nguyện trong một lòng trung thành liên tục vào Lời này, vốn đã xuất hiện định kỳ trên con đường của ông. Tóm lại, chúng ta có thể nói rằng, trong cuộc đời của ông Ápraham, đức tin đã làm nên lịch sử. Đức tin làm nên lịch sử. Hay đúng hơn, bằng cuộc sống của mình, bằng tấm gương của mình, ông Ápraham chỉ dạy cho chúng ta con đường đó, hướng đi mà trên đó đức tin làm nên lịch sử. Thiên Chúa không còn chỉ được coi như những hiện tượng vũ trụ, như một Thiên Chúa xa vời, có thể khiến cho sợ hãi. Thiên Chúa của Ápraham trở thành « Thiên Chúa của tôi », Thiên Chúa của tiểu sử riêng tôi, Đấng dẫn dắt bước đi của tôi, Đấng không hề bỏ tôi ; Thiên Chúa của những ngày sống của tôi, Đấng đồng hành với những cuộc phiêu lưu của tôi ; Thiên Chúa Quan Phòng. Tôi tự hỏi và tôi xin hỏi Quý Anh Chị Em : và chúng ta, chúng ta có cái trải nghiệm về Thiên Chúa đó không ? « Thiên Chúa của tôi », Đấng Thiên Chúa đồng hành với tôi, Đấng Thiên Chúa của tiểu sử riêng tư của tôi, Đấng Thiên Chúa dẫn dắt bước đi của tôi, Đấng không hề bỏ tôi, Đấng Thiên Chúa của những ngày sống của tôi ? Chúng ta có cái trải nghiệm đó không ? Chúng ta hãy suy nghĩ đôi chút về điều này.

Một trong những bản gốc của câu chuyện thiêng liêng, bản Ký Sự của Blaise Pascal, cũng chứng minh sự trải nghiệm của ông Ápraham. Nó bắt đầu như thế này : « Thiên Chúa của Ápraham, của Isaác, của Giacóp, chứ không phải của các triết gia và những nhà thông thái. (là) Xác thực, xác thực. Tình cảm. Niềm vui. Bình an. Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô ». Ký sự này, được ghi trên một tờ giấy da nhỏ, và được tìm thấy sau khi ông mất được khâu ở phía trong một tấm áo của nhà triết học, bầy tỏ không phải một suy nghĩ trí thức mà một người thông thái như ông có thể quan niệm về Thiên Chúa, mà là cảm tưởng sống động, trải nghiệm về sự hiện diện của Người. Ông Pascal đã ghi rõ cái lúc chính xác mà ông cảm nhận được chân lý đó, lúc ông gặp được nó : vào chiều ngày 23/11/1654.  Không phải một Thiên Chúa trừu tượng cũng không phải một Thiên Chúa vũ trụ, không. Đó là Thiên Chúa của một con người, của một ơn gọi, Thiên Chúa của Ápraham, của Isaác và của Giacóp, Thiên Chúa vốn là xác thực, là tình cảm, là niềm vui.

« Những việc cầu nguyện của ông Ápraham đưọc diễn tả trước tiên bằng hành động : là con người thinh lặng, ông đã dựng một bàn thờ để kính Thiên Chúa ở mỗi chặng dừng chân » (Sách Giáo Lý Của Hội Thánh Công Giáo, 2570). Ông Ápraham không dựng lên một đền thờ, mà ông trải đá trên đường đi để nhắc nhở nơi Thiên Chúa đã đi qua. Một Đấng Thiên Chúa lạ kỳ, như khi Người tới thăm ông qua hình ảnh ba người khách mà ông đón tiếp, với bà Sarah, với đầy sự chăm sóc, và khách báo với ông bà sự ra đời của Isaác (x. St 18, 1-15). Ít nhiều gì thì ông Ápraham đã 100 tuổi và vợ ông cũng đã 90 rồi. Và ông bà đã tin, họ tin tưởng vào Thiên Chúa. Và bà Sarah, vợ ông đã thụ thai. Vào cái tuổi đó ! Đó là Thiên Chúa của Ápraham, Thiên Chúa của chúng ta, Người đồng hành với chúng ta. Như thế, ông Ápraham trở nên thân tình với Thiên Chúa, có cả khả năng để tranh luận với Người, nhưng luôn luôn suy phục Người. Ông nói chuyện với Thiên Chúa và ông tranh luận. Cho đến sự thử thách quyết liệt, khi Thiên Chúa đòi ông phải hy tế con của chính ông là Isaác, đứa con của tuổi già mình, đứa con thừa tự duy nhất. Lúc đó, ông Ápraham thấy đức tin của mình như một thảm kịch, như một con đường lần mò đi trong đêm tối, dưới một vòm trời không trăng sao. Và điều đó cũng thường hay xẩy ra với chúng ta, phải đi trong đêm tối nhưng với đức tin. Thiên Chúa đã đích thân ngăn bàn tay của Ápraham, lúc đó đã sẵn sàng xuống dao, bởi vì Người đã thấy được sự sẵn lòng thật sự trọn vẹn của ông (x. St 22, 1-19).

Quý Anh Chị Em thân mến, chúng ta hãy học theo ông Ápraham, chúng ta hãy học cầu nguyện với đức tin : học lắng nghe lời Chúa, bước đi, đối thoại kể cả tranh luận. Chúng ta đừng sợ phải tranh luận với Thiên Chúa ! Tôi sẽ còn nói cả một điều có vẻ như lạc đạo. Tôi rất thường hay nghe được người ta nói với tôi : « Cha biết đó, đã xẩy ra cho con chuyện này và con nổi giận với Chúa. – Con có can đảm dám nổi giận với Thiên Chúa sao ? – Vâng, con đã nổi giận. – Nhưng đó cũng là một hình thức cầu nguyện ! ». Bởi vì chỉ có con cái mới dám nổi giận với cha mình và rồi lại đến gặp lại người. Chúng ta hãy học ông Ápraham cách cầu nguyện, cách đối thoại, cách tranh luận, nhưng luôn luôn sẵn lòng đón nhận lời của Thiên Chúa và mang ra thực hành. Với Thiên Chúa, chúng ta hãy học cách thưa lên như một người con với cha mình. Chính như thế mà ông Ápraham dạy cho chúng ta biết cầu nguyện. Cảm ơn.

© Traduction de Zenit, Hélène Ginabat

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

https://fr.zenit.org/articles/catechese-une-nouvelle-maniere-de-concevoir-la-relation-avec-dieu/

This entry was posted in Chưa được phân loại. Bookmark the permalink.