Bài Giáo Lý – Cầu thay nguyện giúp hay là nhịp cầu giữa Thiên Chúa và người ta

Bởi vì thế gian thuộc về Thiên Chúa (Bản dch toàn văn)

JUIN 17, 2020 17:58 HÉLÈNE GINABATPAPE FRANÇOIS

Triều kiến chung ngày 17.6.2020

Sách Thánh thường hay trình bầy ông Môsê « hai tay hướng lên trời, hướng lên Thiên Chúa, như để làm thành nhịp cầu bằng chính bản thân mình giữa trời và đất », Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã lưu ý. « Lòng tin của ông nơi Thiên Chúa làm hợp nhất với tình cảm của tình từ phụ mà ông cảm thấy với dân của ông », với dân đó, ông đã « có những mối quan hệ chặt chẽ của tình liên đới » ; bởi vậy, dù cho « vào giờ phút của cám dỗ và của tội lỗi », ông Môsê không thể « nghĩ đến chuyện bỏ dân của ông sang một bên » : ông là « nhịp cầu, ông là người cầu thay nguyện giúp ».

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã dành Bài Giáo Lý của ngài cho việc chuyển cầu ; « cách cầu nguyện riêng của ông Môsê ». Vẫn trong Thư Viện tông tòa của Vatican đã diễn ra buổi triều kiến chung ngày thứ tư 17/6/2020, được truyền hình trực tuyến bởi các phương tiện truyền thông của Vatican. Ông Môsê là « một người chuyển cầu ; cho dân của ông », Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh trước khi thốt lên rằng : « Đây là tấm gương tốt đẹp biết bao đối với các mục tử vốn phải là những « nhịp cầu ».

Việc cầu thay nguyện giúp là « riêng của các thánh, các đấng đã noi gương Chúa Giêsu, là những « nhịp cầu » giữa Thiên Chúa và dân của Người », Đức Giáo Hoàng khẳng định. Chính điều đó, ngài nói tiếp, cầu nguyện mà những tín hữu đích thực vun trồng trong đời sống thiêng liêng của họ. Kể cả nếu họ không đích thân trải nghiệm những lầm lỗi của người ta và sự xa rời Thiên Chúa, những người cầu nguyện đó không kết án họ, không từ chối họ ». Và Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã kết luận bằng cách mời gọi « hãy chuyển cầu cho thế gian, hãy nhớ rằng, mặc dù tất cả những mỏng giòn, nó luôn thuộc về Thiên Chúa ».

Sau đây là bản dịch Bài Giáo Lý bằng tiếng Ý của Đức Giáo Hoàng Phanxicô.

HG

Bài Giáo Lý của Đức Giáo Hoàng Phanxicô (Bản dịch toàn văn)

Thân chào Quý Anh Chị Em !

Trong cuộc hành trình của chúng ta trên chủ đề cầu nguyện, chúng ta đã nhận thấy rằng Thiên Chúa không bao giờ ưa thích những người cầu nguyện « dễ dàng ». Và ông Môsê cũng thế, ông sẽ không phải là một người đối thoại « yếu mềm », ngay từ ngày đầu tiên ơn gọi của ông.

Khi Thiên Chúa gọi ông, ông Môsê là « một kẻ thất bại ». Sách Xuất Hành trình bầy ông cho chúng ta trên đất Madian như một kẻ chạy trốn. Lúc trẻ, ông đã cảm thấy lòng thương đối với dân của ông, và ông lại còn đã bênh vực những người bị đàn áp nữa. Nhưng ông nhanh chóng khám phá ra rằng, mặc cho những thiện chí của ông, công lý vẫn không tuôn ra từ bàn tay của ông, mà thay vào đó là bạo lực. Như thế bao giấc mơ vinh quang của ông đã tan vỡ : ông Môsê không còn là một công chức đầy hứa hẹn, được dự định cho một nghề nghiệp nhanh chóng, mà là một người đã để lỡ thời cơ và bây giờ đang chăn dắt một đàn chiên cũng chẳng phải là của ông. Và chính trong sự thinh lặng của sa mạc Madian mà Thiên Chúa triệu tập ông Môsê để tỏ mình ra cho ông trong bụi cây cháy bừng : « ‘‘Ta là Thiên Chúa của cha ngươi, Thiên Chúa của Ápraham, Thiên Chúa của Isaác, Thiên Chúa của Giacob’’. Ông Môsê che mặt đi vì sợ nhìn phải Thiên Chúa » (Xh 3,6).

Đối với Thiên Chúa là Đấng phán ra, Đấng mời gọi ông hãy chăm lo trở lại dân Israel, ông Môsê đã đáp trả bằng sợ hãi và thoái thác : ông không xứng với nhiệm vụ đó, ông không biết tên của Thiên Chúa, ông sẽ không được dân Israel tin, ông nói cà lăm… Và tất cả những thoái thác của ông là như thế. Lời nói thường hay trở lại nhất trong miệng ông Môsê, trong tất cả các lần cầu nguyện ông dâng lên Thiên Chúa, là câu hỏi : « tại sao ? ». Tại sao Ngài đã sai con ? Tại sao Ngài muốn giải thoát dân này thế ? Trong Ngũ Thư (5 sách đầu của Thánh Kinh), có cả một đoạn thảm thương trong đó Thiên Chúa trả lại cho ông Môse sự thiếu lòng tin của ông, một cái thiếu đã ngăn cấm ông bước vào đất hứa (x. Ds 20,12).

Với những sợ hãi đó, với trái tim đó thường hay chao đảo, làm sao ông Môsê có thể cầu nguyện được ? Hay đúng hơn, ông Môsê giống một người như chúng ta. Và điều đó cũng xẩy ra cho chúng ta : khi chúng ta có những nghi vấn, thì làm sao chúng ta có thể cầu nguyện cho được ? Cầu nguyện không đến với chúng ta. Và chính là vì lý do sự yếu đuối của mình, hơn cả sức mạnh của mình mà chúng ta được chạm tới. Được Thiên Chúa giao cho nhiệm vụ truyền lại Lề Luật cho dân ông ; ông là người sáng lập việc thờ phượng Thiên Chúa, người trung gian của các mầu nhiệm cao cả nhất, ông sẽ không ngừng gìn giữ những quan hệ liên đới chặt chẽ với dân của ông, đặc biệt vào giờ phút bị cám dỗ và của tội lỗi. Luôn luôn gắn liền với dân mình. Ông Môsê đã không hề mất đi ký ức của dân mình. Và điều này, chính là sự vĩ đại của các mục tử : không quên dân mình, không quên cội nguồn. Đó là điều thánh Phaolô đã nói với vị giám mục trẻ Timôtê đáng yêu của ngài : « Con hãy nhớ tới mẹ con và tới bà ngoại con, tới nguồn gốc của con và dân tộc của con ». Ông Môsê là bạn chí thiết của Thiên Chúa đến độ ông có thể mặt giáp mặt đàm đạo với Người (x. Xh 33,11) ; và ông cũng sẽ là bạn chí thiết với mọi người, đến độ ông sẽ cảm thấy lòng thương xót đối với tội lỗi của họ, đối với những cám dỗ của họ, đối với những nỗi buồn hoài hương bất chợt của những kẻ bị lưu đầy trong quá khứ của họ, lúc họ nhớ lại thời gian họ ở Ai Cập.

Ông Môsê không chối Thiên Chúa, nhưng ông cũng không chối bỏ dân của ông. Ông là con người nhất quán với máu của mình, ông nhất quán với tiếng nói của Thiên Chúa. Ông Môsê như thế, không phải là một người lãnh đạo độc tài và bạo ngược ; trái lại, sách Dân Số định nghĩa ông như là « một người khiêm nhượng và hiền lành nhất đời » (x. Ds 12,3). Mặc dù tình trạng ưu đãi của ông, ông Môsê không ngừng thống thuộc vào tập đoàn những kẻ nghèo nàn trong lòng đang sống và tin cậy vào Thiên Chúa để có của ăn đường trên hành trình của họ. Chính là một người của dân chúng.

Như thế, cách cầu nguyện riêng tư nhất của ông Môsê sẽ là kinh chuyển cầu (x. Sách Giáo Lý Của Hội Thánh Công Giáo, 2574). Đức tin của ông nơi Thiên Chúa làm hiệp nhất với cảm tưởng của tình phụ tử mà ông cảm thấy đối với dân ông.  Sách Thánh thường hay trình bầy ông hai tay giơ lên trời, hướng tới Thiên Chúa, như để làm thành nhịp cầu với thân xác của chính ông giữa trời và đất. Kể cả trong những lúc khó khăn, kể cả trong cái ngày mà dân loại bỏ Thiên Chúa và loại bỏ luôn cả ông nữa với tư cách là người hướng dẫn để làm cho mình một con bê bằng vàng, ông Môsê đã không thể dự kiến bỏ dân mình sang một bên. Đó là dân của tôi. Đó là dân của anh. Đó là dân tôi. Ông không hề từ bỏ Thiên Chúa cũng như dân của ông. Và ông thưa với Thiên Chúa rằng : « Than ôi ! Dân này đã phạm một tội lớn : họ đã làm cho mình một tượng thần bằng vàng. Nhưng giờ đây, ước gì Ngài miễn chấp tội họ ! Bằng không, thì xin Ngài xóa tên con khỏi cuốn sách Ngài đã viết » (Xh 32, 31-32). Ông Môsê đã không đổi chác dân ông. Ông là nhịp cầu, ông là người chuyển cầu. Hai bên, dân và Thiên Chúa, và ông ở giữa. Ông không bán rẻ dân tộc mình để làm sự nghiệp. Ông không phải một kẻ tham vọng, ông là một người chuyển cầu : cho dân tộc ông, cho da thịt ông, cho lịch sử ông, cho dân tộc ông và cho Thiên Chúa, Đấng đã gọi ông. Ông là nhịp cầu. Thật là gương sáng biết bao cho tất cả các mục tử vốn phải là những « nhịp cầu ». Bởi vậy người ta gọi các ngài là pontifex, những nhịp cầu. Các mục tử là những nhịp cầu giữa dân tộc mà họ thống thuộc và Thiên Chúa, mà họ cũng thống thuộc nhờ ơn gọi. Ông Môsê cũng giống như thế : « Lậy Chúa, xin Ngài tha thứ tội lỗi cho họ, nếu Ngài không tha, xin Ngài xóa tên con khỏi cuốn sách Ngài đã viết. Con không thể bán rẻ dân tộc con vì sự nghiệp ».

Và chính điều này, sự cầu nguyện mà những tín hữu đích thực vun trồng trong đời sống thiêng liêng của họ. Kể cả nếu họ không đích thân trải nghiệm những sai lầm của người ta và sự xa rời Thiên Chúa của họ, những người cầu nguyện đó không kết án họ, không từ chối họ. Thái độ chuyển cầu là đặc trưng của các thánh, các ngài noi gương Chúa Giêsu, là những « nhịp cầu » giữa Thiên Chúa và dân của Người. Trên chiều hướng đó, ông Môsê đã là vị ngôn sứ cao cả nhất của Chúa Giêsu, là vị trạng sư và vị cầu thay nguyện giúp của chúng ta (x. Sách Giáo Lý Của Hội Thánh Công Giáo, 2577). Và ngày nay cũng thế, Chúa Giêsu là Đấng pontifex, Người là nhịp cầu giữa chúng ta và Chúa Cha. Và Chúa Giêsu cầu bầu cho chúng ta, Người trình cho Cha Người những vết thương của Người vốn là cái giá của sự cứu độ chúng ta và Người chuyển cầu. Và ông Môsê là hình ảnh của Chúa Giêsu đang cầu nguyện ngày hôm nay cho chúng ta, Người đang chuyển cầu cho chúng ta.

Ông Môsê khuyến khích chúng ta nên cầu nguyện với cùng sự sốt sắng như Chúa Giêsu, nên chuyển cầu cho thế giới, nên nhớ rằng, mặc dù tất cả những mỏng giòn của nó, nó luôn thuộc về Thiên Chúa. Tất cả mọi người đều thuộc về Thiên Chúa. Những người tội lỗi tệ hại nhất, những con người xấu xa nhất, những kẻ lãnh đạo tham ô nhất, đều là con cái của Thiên Chúa và Chúa Giêsu cảm thấy điều này và chuyển cầu cho chúng ta tất cả. Và thế gian sống và phồn vinh nhờ vào phúc lành của người chính trực, nhờ cầu nguyện thương xót, mà thánh nhân, người chính trực, người chuyển cầu, vị linh mục, vị giám mục, Đức Giáo Hoàng, người giáo dân, mọi người đã chịu Phép Rửa, không ngừng dâng lên cho mọi người ở mọi không gian và mọi thời gian trong lịch sử. Chúng ta hãy suy nghĩ về ông Môsê, vị chuyển cầu. Và khi chúng ta có ý muốn kết án ai đó và chúng ta đang giận dữ trong lòng -nổi giận có thể làm điều tốt, nhưng kết án thì không làm điều lành -, chúng ta hãy chuyển cầu cho người đó : điều đó giúp đỡ rất nhiều.

© Traduction de Zenit, Hélène Ginabat

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

https://fr.zenit.org/articles/catechese-la-priere-dintercession-ou-etre-un-pont-entre-dieu-et-les-hommes/

This entry was posted in Chưa được phân loại. Bookmark the permalink.