« Fratelli tutti » sự thật để chỉ đường chứ không là « thao túng » !

Và lòng khoan dung như điều kiện của đối thoại

OCTOBRE 04, 2020 12:23 ANITA BOURDINDOCUMENTSPAPE FRANÇOIS

Triều kiến ngày 23/9/2020

Để cho một xã hội có một « tương lai », Đức Giáo Hoàng Phanxicô mời gọi hãy « lột mặt nạ những loại thao túng, bóp méo và che dấu sự thật, trong những lãnh vực công cộng cũng như riêng tư » và sống với lòng khoan dung mà sự thật đó xây dựng. Ngài bác bỏ mọi « chủ nghĩa tương đối »

Trọng tâm sứ điệp của ngài « Fratelli tutti », được công bố ngày 04/10/2020, và được soạn thảo như sứ điệp trước đây – « Laudato si’ » năm 2015 – theo giáo huấn của thánh Phanxicô Assisi, Đức Giáo Hoàng Phanxicô, đặt « sự đối thoại » và « tình bạn xã hội » (ch.6), như một từ chủ đạo của tài liệu, nó đã được dùng 15 lần, nhưng phi là một sự đối thoại và một tình bạn « trong sự thật ».

Khoan dung giả mạo

Bởi vì tình bạn bền chặt này chẳng hề là một sự đồng thuận yếu mềm, và không tạo ra « chủ nghĩa tương đối », không làm tan loãng xã hội, trái lại, Đức Giáo Hoàng khẳng định, « chủ nghĩa tương đối không phải là một giải pháp. Dưới bề ngoài của một thứ khoan dung giả mạo, nó cuối cùng sẽ khiến cho những giá trị đạo đức bị diễn giải bởi những kẻ quyền thế tùy sở thích, tùy thời » (206).

Ngài cảnh báo, cùng với sứ điệp Laudato si’, chống lại một nền kinh tế băng hoại : « Chung cuộc, ‘‘nếu không có những sự thật khách quan hay những nguyên tắc chắc chắn ngoài sự thực hiện các dự án cá nhân và sự thỏa mãn những nhu cầu trước mắt […], chúng ta không thể nghĩ rằng các dự án chính trị và sức mạnh của luật pháp sẽ là đủ […]. Khi văn hóa bị băng hoại và khi không còn nhận ra sự thật khách quan nào cũng như không còn những nguyên tắc có giá trị một cách phổ quát, luật pháp sẽ chỉ được hiểu như là những áp đặt độc đoán và như những trở ngại cần phải lách qua’’ (LS 123) » (206).

Tiêu chuẩn, chính là chân lý về con người : « Liệu có thể chú ý đến sự thật, tìm kiếm sự thật tương ứng với thực tế sâu xa nhất của chúng ta không ? Pháp luật là gì nếu không có lòng xác tín, được góp nhặt trên quá trình suy nghĩ và khôn ngoan, rằng mọi con người đều là thiêng liêng và bất khả xâm phạm.

Lý trí và lương tâm

Đó là nền tảng vững chắc nhất của sự cấm giết người : « Để một xã hội có một tương lai, cần phải vun trồng cho nó tinh thần tôn trọng những gì liên quan đến chân lý của phẩm giá con người mà chúng ta tuân phục. Bởi vậy, người ta sẽ không tránh giết người chỉ vì để tránh sự trừng phạt của xã hội và sức nặng của luật pháp, nhưng vì niềm tin. Đó là một chân lý không thể chối cãi mà chúng ta công nhận bằng lý trí và chấp nhận bằng lương tâm. Một xã hội cũng tỏ ra cao quý và khả kính nhờ vào ý thức tìm kiếm chân lý và sự gắn kết của nó với những sự thật căn bản nhất » (207).

Với chân lý như là thước đo, Đức Giáo Hoàng mời gọi hãy có sự phân định những sự thao túng : « Phải tập lật mặt nạ những hình thức của thao túng, của bóp méo và của che dấu sự thật, trong lãnh vực công cộng và tư nhân » (208).

Đức Giáo Hoàng đã nói đến « tính chất ảo của truyền thông » và « sự khôn ngoan của thông tin » trong chương đầu. Trước hết để tố giác sự xâm nhập này : « Trong truyền thông kỹ thuật số, người ta muốn trưng ra mọi chuyện và mỗi con người trở thành mục tiêu của những cái nhìn soi mói, lột trần và tiết lộ, nhiều khi với tính cách ẩn danh. Sự tôn trọng người khác đã tiêu tan, và như thế, đồng thời trong lúc tôi di chuyển người đó, coi thường người đó và để người đó ở ngoài xa, tôi vẫn có thể xâm nhập đời tư của người đó từ đầu đến cuối » (42).

Và những sự bóp méo thực tế : « Khôn ngoan thật sự đòi hỏi sự phù hợp với thực tế ». Nhưng ngày hôm nay tất cả đều có thể ngụy tạo ra, che dấu đi, làm cho biến chất » (47).

Ở đây, Đức Giáo Hoàng chỉ rõ rằng vấn đề không chỉ là sự thật của thông tin, mà là sự công nhận các « sự thật căn bản » : « Cái mà chúng ta gọi là ‘‘sự thật’’, không chỉ là sự phổ biến các sự kiện bởi báo chí. Nó trước hết là sự tìm kiếm những nền tảng vững chắc nhất của những lựa chọn cũng như những luật pháp của chúng ta. Điều này đòi hỏi người ta phải công nhận rằng trí khôn của con người có thể đi xa hơn là những sở thích nhất thời và nắm bắt những chân lý không thay đổi, chúng vẫn thật trước cả chúng ta và sẽ luôn mãi thật. Bằng cách thăm dò bản tính con người, lý trí khám phá ra những giá trị vốn là phổ quát bởi vì chúng xuất phát từ sự thật » (208)

« Đức bác ái cần ánh sáng của chân lý (…) không có chủ nghĩa tương đối », Đức Giáo Hoàng nói (185) trong khi viện dẫn nhiều câu của ĐGH Biển Đức XVI trong chương trước về tình yêu trong chính trị (x. Caritas in veritate)

Không đặc ân cũng chẳng ngoại trừ

Ngài cũng đã viện dẫn sứ điệp của ĐGH Gioan Phaolô II « Veritatis splendor » để nhắc nhở những « đòi hỏi luân lý » : « Thêm vào với chủ nghĩa tương đối là rủi ro kẻ quyền lực hay kẻ mưu mô nhất cuối cùng sẽ áp đặt một chân lý ngụy tạo ». Trái lại, « đối với những tiêu chuẩn đạo đức vốn ngăn chặn cái ác nội tại, không có đặc quyền cũng chẳng có ngoại lệ cho ai cả. Dù người là bá chủ thế giới hay là kẻ khốn cùng nhất trên mặt đất, điều này không có gì khác nhau : trước những đòi hỏi đạo đức, tất cả chúng ta đều tuyệt đối bình đẳng » (209).

Ngài không hài lòng về cái « lôgíc đồi bại và trống rỗng » của một « sự đồng hóa đạo đức và chính trị với vật lý » : « Cái thiện và cái ác tự nó không hiện hữu, nhưng chỉ là một sự tính toán hơn thiệt. Sự sa sút của lý trí đạo đức dẫn đến hậu quả là pháp luật không còn dựa vào một quan niệm cốt yếu của công lý mà nó trở thành sự phản ánh của những ý tưởng thống trị. Lúc đó, chúng ta đi vào một sự thoái hóa : đi tới ‘‘bằng cách san bằng mức đáy’’ bằng một sự đồng thuận bề mặt và thương lượng. Như thế, cái logic của sức mạnh sẽ toàn thắng » (210)

Những giá trị vĩnh cửu, không thể thương lượng

Đối thoại xã hội mà sứ điệp đề cao ở mọi cấp chỉ có thể triển khai từ chân lý này : « Trong một xã hội đa nguyên, đối thoại là con đường thích hợp nhất để đạt tới việc công nhận những gì phải luôn được khẳng định và tôn trọng, xa hơn sự đồng thuận mang tính hoàn cảnh. Chúng ta nói tới một sự đối thoại cần được làm phong phú và soi sáng bởi những biện minh, những lập luận hợp lý, những viễn cảnh khác nhau, bởi những đóng góp đến từ những kiến thức và những quan điểm khác nhau, một sự đối thoại không loại trừ xác tín rằng có thể đạt tới những chân lý căn bản nào đó vốn phải hay sẽ phải luôn luôn được ủng hộ. Chấp nhận rằng những giá trị vĩnh cửu hiện hữu, cho dù không phải là chuyện dễ dàng để biết được chúng, sẽ mang đến sự vững vàng và ổn định cho một nền đạo đức xã hội ».

Đối thoại cho phép khẳng định một cách chính xác những giá trị « không thể thương lượng được » này, mà chính đối thoại được hình thành : « Cho dù chúng ta đã công nhận và chấp nhận những giá trị đó nhờ đối thoại và đồng thuận, chúng ta thấy rằng những giá trị căn bản đó ở trên cả mọi sự đồng thuận ; chúng ta công nhận chúng như những giá trị làm thăng tiến những bối cảnh của chúng ta và không bao giờ có thể thương lượng. Sự hiểu biết của chúng ta về ý nghĩa và phạm vi của chúng sẽ có thể tăng lên – và trong chiều hướng này sự đồng thuận là một chuyện năng động – nhưng, tự bản chất của chúng, những giá trị này được coi như ổn định vì lý do ý nghĩa nội tại của chúng » (211).

Sự sống còn của một xã hội được xây dựng trên sự thừa nhận các chân lý đó : « Nếu có cái gì luôn được mong muốn cho sự vận hành tốt đẹp của xã hội, liệu có phải là bởi vì đàng sau nó có một chân lý vĩnh cửu mà trí tuệ có thể nắm được không ? » (212).

Phương pháp đối thoại

Đức Giáo Hoàng ca tụng một chủ nghĩa hiện thực xã hội và chính trị và một sự đối thoại giúp khám phá cái nền vững chắc này : « Trong chính thực tế của con người và xã hội, trong bản chất thầm kín của họ, có một loạt những cấu trúc căn bản nâng đỡ sự phát triển và sống còn của họ. Từ đó xuất hiện nhiều đòi hỏi có thể được khám phá nhờ vào đối thoại, mặc dù chúng không phải hoàn toàn là kết quả của một sự đồng thuận ».

Phẩm giá con người « bất khả xâm phạm » là thành phần của cái nền đó, mà đối thoại có thể giúp khám phá : « Mọi con người đều có một phẩm giá không thể chuyển nhượng là một chân lý tương ứng với bản chất con người độc lập với mọi thay đổi văn hóa. Bởi vậy con người có cùng một phẩm giá bất khả xâm phạm trong mọi thời đại của lịch sử và không ai có thể cảm thấy được phép bởi những hoàn cảnh để chối bỏ cái xác tín đó hay để không hành động theo đó. Như thế, trí thông minh có thể xem xét thực tế của mọi sự, qua suy nghĩ, kinh nghiệm và đối thoại, để công nhận, trong thực tế đó vốn hướng thượng thực tế, nền tảng của những đòi hỏi luân lý phổ quát » (213)

Những chân lý đó phải được khám phá ra trong đối thoại, và phải được triển khai trong đối thoại, dù người ta là kẻ theo thuyết bất khả tri hay là tín hữu và không có « thuyết cố định về đạo đức » : « Nền tảng đó sẽ có thể tỏ ra có vẻ đủ cho những kẻ bất khả tri để trao cho những nguyên tắc đạo đức căn bản và không thể thương lượng được một hiệu lực phổ quát chắc chắn và ổn định có thể ngăn chặn những tai họa mới. Với những tín hữu, bản chất con người đó, nguồn gốc của những nguyên tắc đạo đức, đã được tạo dựng bởi Thiên Chúa, Đấng cuối cùng, đã ban một nền tảng vững chắc cho những nguyên tắc đó. Điều này không dẫn tới chủ thuyết cố định đạo đức, cũng không bao hàm một hệ thống luân lý nào cả, vì những nguyên tắc đạo đức sơ đẳng và có giá trị một cách phổ quát có thể sản sinh nhiều tiêu chuẩn thực tế khác nhau ». (214)

Những ngôi sao trong bóng tối

Như thế, sự đối thoại, sự gặp gỡ « hạnh phúc nhận ra người khác », lòng nhân từ dựa trên nền tảng vững chắc này. Bởi vì Đức Giáo Hoàng kết luận chương này khi mời gọi hãy « tìm lại cho được lòng nhân từ », trái ngược với điều mà « chủ nghĩa cá nhân mang tính tiêu thụ » làm ra. « Chủ nghĩa cá nhân tiêu thụ gây ra nhiều sự vi phạm. Những người khác bị coi như là những cản trở đích thực cho một sự thanh thản êm ái mang tính ích kỷ. Cuối cùng, người ta xử lý họ như là những cản trở và tính hung hãn tăng lên. Điều này gia tăng và đạt tới cực điểm trong những cuộc khủng hoảng, những tai họa, trong những lúc khó khăn, khi đó tinh thần « mạnh ai nấy chạy » hiện ra trước ánh sáng. Tuy nhiên, có thể chọn vun trồng lòng nhân từ. Nhiều người làm điều này và trở thành những ngôi sao trong bóng tối.

Lòng nhân từ đích thực là một « hoa trái của Chúa Thánh Thần », Đức Giáo Hoàng đã lưu ý bằng cách viện dẫn thư của thánh Phaolô gửi tín hữu Galát : « Đó là một cách để đối xử với những người khác được thể hiện dưới nhiều hình thức đa dạng như là : lòng nhân từ trong cách hành xử, sự chú tâm để không làm tổn thương bằng lời nói và cử chỉ, nỗ lực làm nhẹ gánh nặng cho những người khác. Điều này đòi hỏi phải « nói những lời khuyến khích để an ủi, để tăng cường, để xoa dịu, để kích thích » thay vì những lời nói để hạ nhục, để làm buồn lòng, để gây khó chịu, để phỉ báng » (223).

Hơn nữa, lòng nhân từ giải giới « sự hung ác » mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô thường hay tố cáo trong những biến cố thời sự : « Lòng nhân từ là một sự giải thoát khỏi sự hung ác đôi khi đặc trưng cho các quan hệ của con người với nhau, khỏi sự lo âu ngăn cản chúng ta nghĩ đến người khác, khỏi sự vội vàng đãng trí quên rằng người khác cũng có quyền được hưởng hạnh phúc (224).

Đức Giáo Hoàng còn đi xa hơn đến độ dùng thành ngữ « phép lạ của một người đáng mến » và không có gì là đạo đức giả trong cái thái độ đó, thái độ giải giới các tranh chấp, đó là một « nỗ lực » của ý chí chứng tỏ có kết quả : « Nỗ lực đó, được trải nghiệm hàng ngày, có khả năng tạo ra một sự chung sống lành mạnh, vượt qua những hiểu lầm và ngăn ngừa các xung đột. Vun trồng lòng nhân từ không phải là một tiểu tiết cũng không phải là một thái độ hời hợt hay là tư sản. Bởi vì nó ngụ ý nâng cao giá trị và sự tôn trọng, nó thay đổi sâu đậm cách sống, các quan hệ xã hội và cách tranh luận và cách đối chứng các tư tưởng, khi nó trở thành văn hóa trong một xã hội. Nó tạo thuận lợi cho sự tìm kiếm đồng thuận và mở ra những con đường ở nơi nào mà sự bực tức phá hủy mọi cây cầu »

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

https://fr.zenit.org/2020/10/04/fratelli-tutti-la-verite-pour-boussole-non-a-la-manipulation/

This entry was posted in Chưa được phân loại. Bookmark the permalink.