Ngày Hòa Bình Thế Giới – từ chối « sự bình thường hóa tranh chấp » – thông điệp của Đức Giáo Hoàng

Để triển khai một nền văn hóa của « sự chăm sóc »

DÉCEMBRE 17, 2020 11:30 ANNE KURIAN-MONTABONEPAPE FRANÇOIS

Phép lành Urbi et Orbi, Lễ Phục Sinh 2019

Làm thế nào để giáo dục cho một nền văn hóa của sự chăm sóc, điều kiện tiên quyết của hòa bình ? Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhấn mạnh đến gia đình, học đường, tôn giáo, trong thông điệp của ngài cho Ngày Hòa Bình Thế Giới sẽ được cử hàng vào ngày 01 tháng 01 năm 2021.

« Chúng ta phải dừng lại và tự hỏi : cái gì đã dẫn tới việc bình thường hóa xung đột trên thế giới ? Đức Giáo Hoàng viết. Và, nhất là, làm thế nào hoán cải lòng mình và thay đổi tâm tư để thực sự tìm kiếm hòa bình trong sự liên đới và trong tình huynh đệ ? »

Ngài đưa ra những nguyên tắc của Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội như là « cơ bản nền văn hóa của sự chăm sóc » : « một gia sản quý báu những nguyên tắc, những tiêu chuẩn và những chỉ dẫn từ đó rút ra ‘‘văn phạm’’ của sự chăm sóc : sự phát huy phẩm giá của mọi con người, sự liên đới với người nghèo và những người không thể tự vệ, sự ân cần vì công ích, vì sự bảo vệ công trình tạo dựng ».

Trong văn bản này được công bố ngày 17/12/2020, Đức Giáo Hoàng lấy làm tiếc vì những tài nguyên « bị lãng phí để dành lợi cho vũ khí, đặc biệt là vũ khí hạt nhân, những tài nguyên có thể được sử dụng cho những ưu tiên có ý nghĩa nhất để bảo đảm sự an toàn của con người, như là sự phát huy hòa bình và sự phát triển con người toàn diện, cuộc đấu tranh chống nghèo, sự bảo đảm những nhu cầu y tế ».

Ngài lại hô hào lần nữa hãy có quyết định « can đảm » để « thành lập với tiền bạc mà người ta dùng cho những vũ khí và những phí tổn quân sự khác, một ‘‘Quỹ Thế Giới’’ để có thể loại bỏ vĩnh viễn nạn đói và đóng góp cho sự phát triển những nước nghèo nhất ».

AKM

Thông điệp của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Văn hóa của sự chăm sóc như là hành trình hòa bình

1. Trước thềm năm mới, tôi mong muốn gửi những lời chào trân trọng nhất tới các Vị Nguyên Thủ Quốc Gia và các Vị Đứng Đầu Chính Phủ, tới các người trách nhiệm của các Tổ Chức Quốc Tế, tới các vị Lãnh Đạo Tinh Thần và tới các Tín Đồ các Tôn Giáo, tới những người nam và nữ có thiện chí. Tôi gửi tới tất cả mọi người những lời chúc tốt đẹp nhất để năm nay có thể làm thăng tiến nhân loại trên con đường của  tình huynh đệ, của công lý và hòa bình giữa các con người, các cộng đoàn, các dân tộc và các Quốc Gia.

Năm 2020 đã bị đánh dấu bởi cuộc khủng hoảng y tế lớn lao Covid-19 vốn trở thành một hiện tượng đa phương diện và toàn cầu, làm nặng nề thêm những khủng hoảng khác gắn rất chặt với nhau, như các khủng hoảng khí hậu, thực phẩm, và di dân, và gây ra những phiền phức và những đau khổ lớn. Tôi nghĩ tới nhất là những người đã mất đi một thành phần của gia đình họ hay một người thân, nhưng cũng nghĩ tới những người đã mất đi công ăn việc làm. Một ký ức đặc biệt, xin gửi tới các bác sĩ, các y tá, các dược sĩ, các nhà nghiên cứu, các thiện nguyện viên, các vị tuyên úy và nhân viên các bệnh viện và các trung tâm chăm sóc đã xả thân phục vụ, và tiếp tục hoạt động, với cái giá là những mệt mỏi nặng nề và những hy sinh to lớn đến độ nhiều người trong họ đã bỏ mạng trong mong muốn gần gũi với các bệnh nhân, làm dịu bớt những đau khổ của họ hay cứu sống họ. Bằng cách tỏ lòng kính trọng với những người này, tôi nhắc lại lời kêu gọi của tôi với những người trách nhiệm chính trị và với khu vực tư nhân để họ chấp nhận những biện pháp thích hợp để bảo đảm sự tiếp cận với thuốc chủng ngừa chống lại Covid-19 và với những kỹ thuật thiết yếu và cần thiết để trợ giúp các bệnh nhân và tất cả những người nghèo khổ nhất và mong manh nhất [1].

Thật là đau đớn phải ghi nhận rằng bên cạnh nhiều sự làm chứng lòng bác ái và liên đới, nhiều hình thức quốc gia chủ nghĩa, phân biệt chủng tộc, bài ngoại và cả chiến tranh và tranh chấp đã gieo rắc chết chóc và hủy diệt, khốn nỗi đang trên đà phát triển mạnh mẽ. Các biến cố đó và những thứ khác, đã ghi dấu ấn trên đường đi của nhân loại trong năm vừa qua, dạy cho chúng ta rằng quan trọng là phải chăm sóc lẫn nhau và chăm sóc thiên nhiên để xây dựng một xã hội đặt nền tảng trên những quan hệ của tình huynh đệ. Bởi vậy, tôi đã chọn chủ đề của thông điệp này là : « Văn hóa chăm sóc như là hành trình của hòa bình ». Một nền văn hóa của sự chăm sóc để loại trừ cái văn hóa vô cảm, văn hóa của sự vứt bỏ và của đối đầu, nhiều khi đang thắng thế trong ngày hôm nay.

2. Thiên Chúa tạo hóa, nguồn gốc của ơn gọi nhân bản cho chăm sóc

Trong nhiều truyền thống tôn giáo, có những văn bản nói tới nguồn gốc của con người, tới quan hệ của con người với Đấng Tạo Hóa, với thiên nhiên và với đồng loại. Trong Kinh Thánh, Sách Sáng Thế cho thấy, ngay từ nguyên thủy, tầm  quan trọng của sự chăm sóc hay của sự kiện canh giữ trong dự án của Thiên Chúa dành cho loài người, làm rõ quan hệ giữa con người (adam) và đất (adamah), và giữa các anh em. Trong câu chuyện của Kinh Thánh về công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã đặt khu vườn ‘‘được trồng trong Địa Đàng’’ (x. St 2,8) vào trong tay của ông Adam với nhiệm vụ là ‘‘trồng cấy và canh giữ’’ (x. 2,15). Điều này có nghĩa, một mặt là làm cho đất đai trù phú và mặt kia, bảo vệ nó và giữ gìn cho nó giữ được khả năng của đất là hỗ trợ sự sống [2]. Những động từ ‘‘trồng cấy’’ và ‘‘canh giữ’’ mô tả quan hệ giữa ông Adam và nhà-vườn của ông ta, và cũng cho thấy sự tin tưởng mà Thiên Chúa đặt trên ông ta bằng cách đưa ông lên thành chúa tể và thành người canh giữ công trình tạo dựng.

Sự ra đời của Cain và Abel gây ra một câu chuyện giữa anh em ruột thịt mà quan hệ sẽ được biểu hiện – môt cách tiêu cực – bởi Cain trong việc bảo quản hay canh giữ. Sau khi giết em mình là Abel, Cain đã trả lời câu hỏi của Thiên Chúa rằng : « Con là người giữ em con sao ? » (St 4,9). Phải, chắc chắn là phải ! Cain là ‘‘người canh giữ’’ của em mình. « Trong những văn bản rất cổ xưa này, ghi dấu những biểu tượng sâu xa, một niềm xác tín hiện tại đã có mặt : tất cả được gắn liền với nhau, và sự bảo vệ đích thực của sự sống chúng ta cũng như những quan hệ của chúng ta với thiên nhiên là không tách rời được với tình huynh đệ, với công lý cũng như với sự chung thủy với người khác » [4].

3. Thiên Chúa tạo hóa, gương mẫu chăm sóc.

Sách Thánh trình bầy Thiên Chúa không chỉ là Đấng Tạo Hóa, nhưng cũng là Đấng đã chăm sóc các vật thụ tạo của Người, đặc biệt là ông Adam, bà Eva và các con cái của hai người. Cũng ông Cain, mặc dù trên ông đã giáng xuống sự chúc dữ vì tội ác ông đã phạm phải, cũng đã nhận được như là ân điển của Đấng Tạo Hóa một dấu chỉ của sự bảo vệ để cho sự sống của ông đã được giữ lại (x. St 4,15). Sự kiện này, đồng thời nó củng cố phẩm giá bất khả xâm phạm của con người được tạo dựng theo hình ảnh và giống với Thiên Chúa, thể hiện kế hoạch Thiên Chúa để bảo vệ sự hài hòa của công trình tạo dựng bởi vì « hòa bình và bạo lực không thể sống chung trong một nhà » [5].

Sự chăm sóc công trình tạo dựng chính là căn bản của sự thiết lập ngày Sabát, vốn ngoài sự kiện là để điều hòa sự thờ phượng Thiên Chúa, nhằm tái lập trật tự xã hội và sự quan tâm đến những người nghèo (x. St 1,1-3 ; Lv 25,4). Sự cử hành Năm Thánh nhân dịp năm thứ bẩy là năm sabát mang đến một sự tạm hoãn với chiến tranh, với nô lệ và với những con nợ.Trong năm ân điển này, người ta chăm sóc những người mong manh nhất bằng cách hiến tặng một viễn cảnh sống mới để cho không còn người nghèo khó trong dân chúng (x. Đnl 15,4).

Cũng đáng ghi nhận là truyền thống tiên tri theo đó, đỉnh cao của sự hiểu biết Kinh Thánh của sự công bằng được thể hiện trong cách mà một cộng đồng xử trí với những người yếu đuối nhất trong cộng đồng của họ. Vì thế Amos (2, 6-8 ; 8) và Isaia (58), đặc biệt, đã liên tục lên tiếng ủng hộ tính công bằng đối với người nghèo, vì sự mong manh và thiếu quyền lực cûa họ, họ chỉ được một mình Thiên Chúa lắng nghe và chăm sóc họ (x. Tv 34,7 ; 113, 1-8).

4. Sự chăm sóc trong sứ vụ của Chúa Giêsu

Cuộc đời và sứ vụ của Chúa Giêsu thể hiện đỉnh cao của sự mặc khải lòng thương yêu của Chúa Cha đối với nhân loại (x. Ga 3,16). Trong hội đường của Nazareth, Chúa Giêsu đã biểu hiện mình như là Đấng mà Chúa đã tấn phong và « sai đi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, Người đã sai đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức » (Lc 4,18). Những hành động thiên sai này, đặc trưng của các lễ mừng, làm thành chứng cớ hùng biện nhất của sứ vụ mà Chúa Cha đã giao cho Người. Trong sự thương cảm, Đức Kitô đến gần với những người bệnh trong thân xác và trong tinh thần và Người chữa lành họ. Ngài tha thứ cho các tội nhân và ban cho họ một đời sống mới. Chúa Giêsu là Mục Tử Nhân Lành chăm sóc cho con chiên (x ; Ga 10,11-18 ; Ed 34,1-31). Người là người Samari nhân hậu đã cúi mình xuống người bị thương, chăm sóc những vết thương của hắn và chăm sóc hắn (X. Lc 10,30-37).

Trên đỉnh cao sứ vụ của Người, Chúa Giêsu in dấu sự chăm sóc Người dành cho chúng ta bằng cách hiến mình trên thập giá và bằng cách giải thoát chúng ta ra khỏi cảnh nô lệ tội lỗi và nô lệ sự chết. Bằng sự hiến tặng mạng sống và sự hy sinh của Người, Người đã mở ra cho chúng ta con đường tình yêu và Người phán với mỗi người chúng ta rằng : ‘‘Hãy theo tôi. Hãy cũng làm như vậy’’ (x. Lc 10,37).

5. Văn hóa chăm sóc trong cuộc đời các môn đệ của Chúa Giêsu

Các công trình lòng thương xót tinh thần và thể xác làm thành trái tim của sự phục vụ bác ái của Hội Thánh tiên khởi. Các Kitô hữu thế hệ thứ nhất đã tiến hành sự chia sẻ để không ai trong họ bị lâm vào cảnh túng thiếu (x. Cv 4, 34-35) và họ đã nỗ lực làm cho cộng đoàn thành một gia đình đón nhận, mở ra cho mọi tình huống con người, sẵn sàng chăm lo cho những người mong manh nhất. Đã trở thành thói quen dâng hiến để nuôi sống những người nghèo, mai táng người chết và nuôi nấng cô nhi, người già và các nạn nhân thiên tai, như những vụ đắm thuyền. Và trong thời gian sau này, khi lòng quảng đại của các Kitô hữu mất đi một chút hăng hái, nhiều Thượng Phụ của Hội Thánh nhấn mạnh đến sự kiện là tài sản được làm ra bởi Thiên Chúa cho công ích. Thánh Ambrosio chủ trương rằng « thiên nhiên đã trải ra mọi chuyện cho con người để sử dụng chung. […] Bởi vậy, thiên nhiên đã sản xuất ra một quyền chung cho tất cả mọi người, nhưng lòng tham lam đã làm thành quyền của một số ít người » [6]. Sau khi đã qua các cuộc bách hại của những  thế kỷ đầu, Hội Thánh đã tận dụng sự tự do để gợi ý cho xã hội và nền văn hóa của nó. « Những nhu cầu của thời gian đó đòi hỏi những dấn thân mới cho việc phục vụ bác ái Kitô giáo. Lịch sử biên niên đã ghi lại vô số thí dụ các công trình lòng thương xót. Từ những nỗ lực phối hợp này, nhiều cơ sở nhằm nâng đỡ mọi nhu cầu con người đã xuất hiện như : các bệnh viên, các cư xá cho người nghèo, các cô nhi viện, sự đón tiếp trẻ em, các nơi trú ngụ cho những khách qua đường, vân vân… »[7].

6. Những nguyên tắc của giáo huấn xã hội của Giáo Hội làm nền tảng của nền văn hóa chăm sóc.

Sự phục vụ lúc khởi đầu, được phong phú hóa bởi những suy nghĩ của các Thượng Phụ và được làm sống động trong nhiều thế kỷ bởi lòng bác ái hành động của rất nhiều chứng nhân trong sáng của đức tin, đã trở thành trái tim đập mạnh của giáo huấn xã hội của Hội Thánh, nó cống hiến cho tất cả mọi người thiện chí như một gia sản quý giá về nguyên tắc, về tiêu chuẩn và về những chỉ dẫn từ đó rút ra ‘‘văn phạm’’ của sự chăm sóc : sự phát huy phẩm giá của mọi con người, sự liên đới với người nghèo và những người không thể tự vệ, sự quan tâm đến công ích, sự bảo toàn công trình tạo dựng.

* Sự chăm sóc như là phát huy phẩm giá và các quyền con người.

« Chính quan niệm về con người, được sinh ra và lớn lên trong Kitô giáo, giúp tiếp tục một sự phát triển con người toàn diện. Bởi vì nói đến con người, tức là nói đến quan hệ, chứ không phải chủ nghĩa cá nhân, khẳng định bao gồm và không thải loại, phẩm gia vô song và bất khả xâm phạm và bất khả khai thác » [8]. Mỗi con người tự bản thể là một cứu cánh, chứ không bao giờ là một khí cụ để được đánh giá tùy theo sự hữu dụng của mình. Con người được tạo dựng để cùng chung sống trong gia đình, trong cộng đoàn, trong xã hội nơi đó tất cả các thành viên đều bình đẳng về phẩm giá. Chính từ phẩm giá đó mà sinh ra các quyền con người, và đồng thời những bổn phận, chúng nhắc nhở, thí dụ trách nhiệm đón nhận và nâng đỡ người nghèo, người bệnh, người bị gạt ra ngoài lề xã hội, mỗi người đều là « người thân cận, gần gũi hay cách xa về không gian và thời gian » [9].

* Chăm sóc ngôi nhà chung.

Mọi khía cạnh của đời sống xã hội, chính trị và kinh tế đều tìm được sự viên mãn của mình khi nó phục vụ cho công ích, nghĩa là cho « sự tập hợp những tầng lớp xã hội, cho phép cả những tập thể lẫn cá nhân các thành viên, đạt tới sự toàn hảo của họ một cách đầy đủ và dễ dàng nhất » [10]. Bởi vậy, các chương trình và các nỗ lực của chúng ta phải luôn tính tới những ảnh hưởng trên toàn thể gia đình nhân loại, bằng cách cân nhắc các hậu quả đối với thời gian hiện tại và đối với các thế hệ tương lai. Trận đại dịch Covid-19 cho thấy điều này là đúng và mang tính thời sự như thế nào, trận đại dịch mà để đối phó với nó « chúng ta nhận thấy rằng chúng ta đều ngồi chung trên một con thuyền, mọi người đều mong manh và hoảng loạn, nhưng đồng thời mọi người đều quan trọng và cần thiết, mọi người đều được kêu gọi phải cùng nhau chèo chống » [11] bởi vì « không ai có thể một mình tự cứu được » [12] và không một quốc gia đơn lẻ nào có thể bảo đảm công ích của chính dân chúng của mình [13].

* Chăm sóc bằng sự liên đới.

Sự liên đới biểu lộ cụ thể tình yêu đối với người khác, không phải như là một tình cảm mơ hồ mà như « sự quyết tâm vững vàng và kiên đinh làm việc cho công ích, nghĩa là cho lợi ích của tất cả mọi người và của mỗi người bởi vì tất cả chúng ta thực sự có trách nhiệm với tất cả mọi người » [14]. Sự liên đới giúp chúng ta nhìn vào người khác – dù cho như là con người hay trong nghĩa rộng, là dân tộc hay quốc gia – không phải như một dữ kiện thống kê hay một phương tiện để khai thác và sau đó bỏ đi khi không còn hữu dụng nữa, nhưng như người thân cận của chúng ta, như bạn đồng hành, được kêu gọi tham dự như chúng ta vào bữa tiệc của sự sống mà tất cả mọi người đều được Thiên Chúa mời dự.

* Sự chăm sóc và gìn giữ thiên nhiên.

Sứ điệp Laudato si’ ghi nhận sự kết nối của tất cả thực tế được tạo ra và làm nổi bật sự đòi hỏi phải lắng nghe đồng thời tiếng kêu của người nghèo khó và tiếng kêu của thiên nhiên. Từ sự chăm chú và kiên trì lắng nghe đó, có thể nẩy sinh một sự chăm sóc hữu hiệu cho trái đất, ngôi nhà chung của chúng ta, và những người nghèo. Về chủ đề này, tôi muốn nhắc lại rằng « cảm tưởng hợp nhất thân mật với những sinh vật khác của thiên nhiên không thể có thật nếu đồng thời trong lòng không có lòng hiền hòa, lòng thương cảm và sự bận tâm đến những con người khác » [15]. « Hòa bình, công lý và sự bảo vệ thiên nhiên là ba vấn đề hoàn toàn liên quan đến nhau và không thể tách rời để được xử trí một cách riêng lẻ, nếu không chúng sẽ rơi vào chủ nghĩa giản lược [16].

7. Kim chỉ nam cho một hướng chung

Vào một thời đại bị thống trị bởi cái nền văn hóa loại bỏ, trước những bất bình đẳng ngày càng trầm trọng trong nội bộ các quốc gia và giữa các quốc gia với nhau [17], tôi muốn mời gọi những người trách nhiệm của các Tổ Chức quốc tế và các chính phủ, của thế giới kinh tế và thế giới khoa học, của truyền thông xã hội và những thiết chế giáo dục, hãy lấy kim chỉ nam của những nguyên tắc được nhắc tới trên đây để vạch một hướng đi chung cho tiến trình toàn cầu hóa, « một hướng thật sự nhân bản » [18]. Quả vậy, điều này có thể cho phép đánh giá cao giá trị và phẩm giá của mỗi con người, cùng nhau hành động và trong sự liên đới cho công ích, bằng cách đỡ đần những người chịu cảnh nghèo khó, bệnh hoạn, nô lệ, phân biệt đối xử và những tranh chấp. Tôi khuyến khích bằng kim chỉ nam đó, mỗi người trở thành ngôn sứ và chứng nhân của nền văn hóa chăm sóc để san bằng những bất công xã hội. Và điều này chỉ có thể đạt tới với một sự tham gia mạnh mẽ và rộng rãi của các phụ nữ, trong gia đình và trong mỗi môi trường xã hội, chính trị và cơ chế.

Kim chỉ nam của những nguyên tắc xã hội, cần thiết để phát huy nền văn hóa chăm sóc, là chỉ dẫn ngay cả đối với những quan hệ giữa các quốc gia vốn phải được gợi ý bởi tình huynh đệ, sự kính phục lẫn nhau, sự liên đới và sự tuân thủ luật pháp quốc tế. Về vấn đề này, sự bảo vệ và phát huy các quyền căn bản của con người, vốn không thể chuyển nhượng, phổ quát và bất khả phân, phải được tái xác định.

Sự tôn trọng luật nhân đạo cũng phải được nhắc lại, nhất là trong thời gian này khi các cuộc tranh chấp và chiến tranh nối đuôi nhau không ngớt. Khốn nỗi, nhiều vùng và nhiều cộng đồng không còn nhớ cái thời gian họ đã từng sống trong hòa bình và an ninh. Nhiều thành phố đã trở thành như là những trung tâm bất ổn : dân cư phải vật lộn để duy trì nhịp độ bình thường bởi vì họ bị tấn công và bị đánh bom một cách bừa bãi bởi chất nổ, pháo binh và vũ khí nhẹ. Các trẻ em không thể đi học. Người lớn nam nữ không thể đi làm để nuôi sống gia đình. Nạn đói bám rễ ở những nơi mà trước đây nó không được biết đến. Mọi người bị bắt buộc phải trốn chạy, bỏ lại sau lưng không những nhà cửa của họ, mà còn cả lịch sử gia đình và những cội nguồn văn hóa.

Có nhiều lý do của tranh chấp, nhưng kết quả thì luôn giống nhau : tàn phá và khủng hoảng nhân đạo. Chúng ta phải dừng lại và tự hỏi : cái gì đã đưa tới sự bình thường hóa tranh chấp trên thế giới ? Và, nhất là, làm sao chuyển hóa được lòng người và thay đổi tâm thức chúng ta để thực sự tìm được hòa bình trong tình liên đới và trong tình huynh đệ ?

Biết bao tài nguyên đã bị lãng phí để phục vụ cho vũ khí, đặc biệt là vũ khí hạt nhân [20], những tài nguyên đáng lẽ có thể sử dụng cho những ưu tiên có ý nghĩa hơn để bảo đảm sự an toàn cho con người, như là sự cổ vũ hòa bình và sự phát triển con người toàn diện, sự đấu tranh chống nghèo đói, sự bảo đảm những nhu cầu y tế. Nhiều vấn đề thế giới như đại dịch Covid-19 hiện nay và những biến đổi khí hậu cũng đưa ra ánh sáng. Sẽ là quyết định can đảm biết bao nếu là quyết định « xây dựng một ‘‘Quỹ Thế Giới’’ để có thể loại trừ vĩnh viễn nạn đói và đóng góp vào sự phát triển các nước nghèo nhất, với tiền bạc mà người ta dùng cho khí giới và những chi phí quân sự khác ! » [21].

8. Để giáo dục nền văn hóa chăm sóc

Sự phát huy nền văn hóa chăm sóc đòi hỏi một tiến trình giáo dục. Cho chuyện này, kim chỉ nam của những nguyên tắc xã hội làm thành một khí cụ đáng tin cậy để những bối cảnh phụ thuộc lẫn nhau. Tôi muốn đưa ra một số thí dụ về chuyện này.

– Việc giáo dục chăm sóc sinh ra trong gia đình, yếu tố tự nhiên và căn bản của xã hội, trong đó người ta học sống trong quan hệ và trong sự tương kính. Tuy nhiên, gia đình cần được đặt trong những điều kiện cho phép hoàn tất bổn phận cốt yếu và không thể thiếu được này.

– Luôn hợp tác với gia đình, nhiều tác nhân quan trọng của nền giáo dục là học đường và đại học, và một cách tương tự bởi nhiều khía cạnh, các tác nhân của truyền thông [22]. Họ được kêu gọi hãy chuyển vận một hệ thống giá trị được xây dựng trên sự công nhận phẩm giá của mỗi con người, của mỗi cộng đồng ngôn ngữ, sắc tộc và tôn giáo, của mỗi dân tộc và các quyền căn bản toát ra từ đo. Giáo dục là một trong những cột trụ công chính nhất và liên đới của xã hội.

– Các tôn giáo nói chung, và những nhà lãnh đạo tôn giáo nói riêng, có thể giữ một vai trò không thể thay thế để truyền lại cho các tín hữu và cho xã hội những giá trị của sự liên đới, của sự tôn trọng những dị biệt, của sự đón nhận và của sự chăm sóc những người anh em mong manh nhất. Về vấn đề này, tôi nhắc lại những lời của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI nói với Quốc Hội nước Ouganda năm 1969 : « Quý Vị đừng sợ Hội Thánh : Hội Thánh tôn trọng Quý Vị, Hội Thánh giáo dục các công dân lương thiện và trung thành cho Quý Vị, Hội Thánh không gieo rắc những chống đối cũng như những chia rẽ, Hội Thánh tìm cách phát huy sự tự do lành mạnh, sự công bằng xã hội, sự hòa bình. Nếu Hội Thánh có sự lựa chọn nào đó, thì sự lựa chọn đó là cho người nghèo, cho giáo dục các trẻ em và dân chúng, cho sự chăm sóc những người đau khổ hay bị bỏ rơi » [23] – Với những người dấn thân vào việc phục vụ các dân cư trong những tổ chức quốc tế, của chính phủ hay phi chính phủ, với những người có một sứ mạng giáo dục, và với tất cả những người, dưới nhiều nhãn hiệu, hoạt động trong lãnh vực giáo dục và khảo cứu, tôi nhắc lại sự khuyến khích của tôi để người ta có thể đạt được mục đích của một nền giáo dục « cởi mở hơn và bao gồm hơn, có khả năng kiên nhẫn lắng nghe, đối thoại xây dựng và thông cảm lẫn nhau » [24]. Tôi cầu chúc lời mời gọi này, được gửi tới trong khuôn khổ của Hiệp Ước Giáo Dục Toàn Cầu, tìm được một sự tham gia rộng rãi và đa dạng.

9. Không có hòa bình nếu không có văn hóa chăm sóc

Văn hóa chăm sóc, sự dấn thân chung này, liên đới và tham gia để bảo vệ và phát huy phẩm giá và lợi ích của tất cả mọi người, sự sẵn sàng quan tâm, chú ý, đồng cảm, hòa giải và chữa lành, tương kính và đón nhận lẫn nhau này, là con đường ưu tiên để xây dựng hòa bình. « Ở nhiều nơi trên thế giới, hành trình hòa bình dẫn đến sự hàn gắn các vết thương là cần thiết. Cần phải có những người xây dựng hòa bình sẵn sàng xây dựng, với trí tuệ và sự táo bạo, những tiến trình để chữa lành và để tìm lại nhau » [25].

Vào lúc này, con thuyền của nhân loại, đang bị chao đảo bởi bão táp của khủng hoảng, chật vật để lướt sóng đi tìm một chân trời yên bình và phẳng lặng, bánh lái của phẩm giá con người và ‘‘hải bàn’’ của những nguyên tắc xã hội căn bản có thể giúp cho chúng ta đi tới với một hướng chắc chắn và cùng chung. Như các Kitô hữu, chúng ta hướng mắt lên Đức Trinh Nữ Maria, Ngôi Sao biển và là Mẹ của hy vọng. Tất cả cùng nhau, chúng ta hãy hợp tác để tiến lên một chân trời mới của tình yêu  và của hòa bình, của tình huynh đệ và của tình liên đới, của nâng đỡ lẫn nhau và đón tiếp qua lại. Chúng ta đừng nhường bước cho cám dỗ không để ý tới người khác, đặc biệt là những người yếu đuối nhất, chúng ta đừng làm quen với việc ngoảnh mặt đi [26], nhưng chúng ta hãy tham gia mỗi ngày một cách cụ thể để « hình thành một cộng đồng bao gồm những người anh em đón nhận nhau và chăm sóc lẫn nhau » [27].

Vatican, ngày 08 tháng 12 năm 2020
PHANXICÔ

© Librairie éditrice du Vatican

_______________________
[1] X. Thông điệp truyền hình nhân dịp Phiên họp thứ 75 của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, ngày 25/9/2020.
[2] X. Tông Thư Laidato si’ (24/5/2015), số 67.
[3] X. ‘‘Tình huynh đệ, nền tảng và con đường cho hòa bình’’, Thông điệp cho Ngày Hòa Bình Thế Giới lần thứ 47, 01/01/2014 (08/12/2013), số 2
[4] Tông Thư Laudato si’ (24/5/2015) số 70.
[5] Hội Đồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình, Tóm lược GHXH của Giáo Hội, số 488
[6] De officiis, 1, 28, 132 : PL 16, 67.
[7] K. Bihlmeyer-H. Tüchle, Church History tập 1, Westminster, The Newman Press, 1958, trang 373, 374.
[8] Bài diễn văn trước các tham dự viên Hội nghị được tổ chức bởi Thánh Bộ về phục vụ Phát Triển con người toàn diện nhân dịp 50 năm kỷ niệm sứ điệp ‘‘Populorum progressio’’ (04/4/2017).
[9] Thông điệp gửi Phiên họp thứ 22 của Hội Nghị các Quốc Gia thành viên của Công Ước Khung của Liên Hiệp Quốc về Biến Đổi Khí Hậu (COP 22), 10/11/2016. X. Hội nghị Bàn tròn liên bộ của Tòa Thánh về Sinh Thái toàn diện, Trên đường chăm sóc ngôi nhà chung. Năm năm sau Laudati si’, LEV 31/5/2020.
[10] Công Đồng Vaticanô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, số 26.
[11] Cầu nguyện đặc biệt trong thời đại dịch, 27/3/2020
[12] Ibid.
[13] X. Tông Thư Fratelli tutti (03/10/2020) số 8 và 153
[14] Thánh Gioan Phaolô II Tông Thư Sollicitudo rei socialis (30/11/1987) số 38.
[15] Tông Thư Laudato si’ (24/5/2015) số 91.
[16]  Hội nghị Giám Mc Biển Đức, Tông Thư Sobre la relación del hombre con la naturaleza (21/01/1987) ; x. Tông Thư Laudato si’ (24/5/2015) số 92.
[17] X. Tông Thư Fratelli tutti (03/10/2020), số 125.
[18] Ibid., số 29
[19] X. Thông điệp gửi các tham dự viên Hội Nghị quốc tế ‘‘Nhân Quyền trong thế giới hiện nay : chinh phục, sơ sót, phủ định’’, Rôma, 10-11/12/2018.
[20] X. Thông điệp gửi Hội Nghị Liên Hiệp Quốc về việc thương thuyết một khí cụ pháp lý mang tính bắt buộc nhằm cấm các vũ khí hạt nhân nhắm tới loại bỏ hoàn toàn, ngày 23/3/2017.
[21] Thông điệp truyền hình nhân dịp Ngày Thực Phẩm Thế Giới 2020, 16/10/2020.
[22] X. Biển Đức XVI, ‘‘Giáo dục giới trẻ về công lý và hòa bình’’, Thông điệp cho Ngày Hòa Bình Thế Giới ln thứ 45, 01/01/2012 (08/12/2011), số 2 ; ‘‘Cjhiến thắng đối với vô cảm và mang lại hòa bình’’, Thông điệp cho Ngày Hòa Bình Thế Giới 01/01/2016 (08/12/2015), số 6.
[23] Bài diễn văn trước các Dân biểu và Thượng Nghị Sĩ của Ouganda, Kampala, 01/8/1969.
[24] Thông điệp nhân dịp phổ biến Minh Ước Giáo Dục 12/9/2019.
[25] Tông Thư Fratelli tutti (03/10/2020) số 225
[26] X. Ibid., số 64.
[27] Ibid., số 96 ; x. ‘‘Tình huynh đệ, nền tảng và con đường cho hòa bình’’, Thông điệp cho Ngày Hòa Bình Thế Giới lần thứ 47, 01/01/2014 (08/12/2013), số 1.

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Journée pour la paix : refuser la “normalisation du conflit”, le message du pape – ZENIT – Francais

 305 khách đã đọc bài này
This entry was posted in Chưa được phân loại. Bookmark the permalink.