Những « gốc rễ cụ thể của Kitô giáo » và khuôn mặt của những đứa trẻ tỵ nạn

« Những người sợ hãi đã không nhìn thấy khuôn mặt của các con » Đức Barthôlômêô năm 2016 (toàn văn)

DÉCEMBRE 05, 2021 20:56 ANITA BOURDINMIGRANTS ET RÉFUGIÉSPAPE FRANÇOISVOYAGES APOSTOLIQUES

Các trẻ em của Trại Mavrovouni, Lebos (Hy Lạp)

Hai lần, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã viện dẫn văn hào Elie Wiesel trong chuyến du hành mới tới Lebos, tới trại Movrovouni, hôm chúa nhật 05/12/2021, năm năm rưỡi sau chuyến đi ngày 16/4/2016, tới trại Moria, bị hỏa hoạn từ đó.

Đức Giáo Hoàng đã mời gọi hãy nhìn ngắm khuôn mặt của các trẻ em tỵ nạn và ngài đã gọi lại những gốc rễ Kitô giáo, trước điều mà ngài gọi là một « sự đắm thuyên của nền văn minh ». Ngài đã viện dẫn Đức Barthôlômêô Đệ Nhất : « Kẻ nào sợ anh em đã không dám nhìn vào mắt anh em. Kẻ nào sợ không dám nhìn mặt anh em ».

Tại sao Elie Wiesel ? Đức Giáo Hoàng viện dẫn trước hết đoạn này lúc mà người đoạt Giai Nobel vượt thoát khỏi những trại tử thần của Đức quốc xã (nazis) nhắc tới tình huynh đệ nhân bản : “Ông Elie Wiesel, nhân chứng của thảm kịch to lớn nhất của thế kỷ trước, đã viết : “Chính bởi tôi nhớ tới nguồn gốc chung của chúng ta mà tôi đã đến gần với những người anh em của tôi, những con người. Chính bởi vì tôi từ chối quên rằng tương lai của họ cũng quan trọng như tương lai của tôi (From the Kingdom of Memory, Reminiscensesz, New York, 1990, 10)”.

Đức Giáo Hoàng còn viện dẫn ông Elise Wiesel trước sự nguy hiểm chết người mà những người di dân trên thế giới phải đối mặt : « Ông Elie Wiesel cũng đã nói : « Một khi những mạng sống con người bị nguy hiểm, một khi phẩm giá con người bị nguy hiểm, các biên giới quốc gia trở thành vô nghĩa » (Diễn văn nhận Giải Thưởnfg Nobel Hòa Bình, 10/12/1986) ».

Tại sao một sự đắm thuyền ? Bởi vì biển Địa Trung Hải, trước kia là cái nôi và sự sống của các nền văn minh, trở thành một nghĩa trang to lớn : « Địa Trung Hải, nó đã từng hiệp nhất trong nhiều thiên kỷ các dân tộc khác nhau và các vùng đất xa xôi, đang trở thành một nghĩa trang lạnh lẽo không có mộ bia. Vùng nước mênh mông này, cái nôi của bao nền văn minh, từ nay như là một tấm gương của sự chết. Chúng ta đừng để cho biển của chúng ta (mare nostrum) biến thành một biển của chết chóc (mare mortuum) đau thương, đừng để cho cái nơi của hội ngộ này trở thành sân khấu của chiến tranh ! Chúng ta đừng để « mặt biển của kỷ niệm » này trở thành « mặt biển của lãng quên ». Thưa anh chị em, tôi cầu xin anh chị em, chúng ta hãy ngưng lại sự đắm thuyền của nền văn minh ! » 

Tại sao khuôn mặt của các trẻ em ? Chính là khi nhìn ngắm các em mà người ta hiểu được vai trò của một hành động chung bây giờ, không phải của một vài người, nhưng của tất cả mọi người cùng nhau : « Chúng ta hãy nhìn khuôn mặt của các trẻ em. Chúng ta hãy có can đảm cảm thấy xấu hổ trước các em, các em là những trẻ vô tội và đại diện cho tương lai. Các em kêu gọi lương tâm chúng ta và chất vấn chúng ta : « Mấy người muốn cho chúng tôi thế giới nào đây ? » Chúng ta đừng quá vội vàng lẩn trốn những hình ảnh sống sượng của những thân xác bé nhỏ nằm trên bãi biển ».

Một ám chỉ đến vụ tranh cãi về tấm ảnh của bé Aylan Kurdi, một đứa bé người Syria, 3 tuổi nằm chết trên một bãi biển ở Bodrum (Thổ Nhĩ Kỳ), sau vụ đắm thuyền của em trên đường đi tới đảo Kos (Hy Lạp), ngày 02/9/2015.

Nhưng bà Tổng Thống Hy Lạp, Ekaterini Sakellaropoulou, có bằng thẩm phán, đã nhớ lại, trong bài diễn văn của bà trước bài của Đức Giáo Hoàng, đã nhớ tới bức ảnh của bà cụ người Hy Lạp, Emilia Kamvisi, cư dân của Lesbos, đang cho một em bé người Syria bú bình.

Đó là vào tháng 10 năm 2015, và tấm hình của Leftris Partsalis đã được lưu truyền trên khắp thế giới, bà Tổng Thống nhắc lại. Bà Emilia Kamvisi đã tâm sự với báo chí : « Chúng tôi là con cái của di dân, mẹ tôi đã trốn khỏi Thổ Nhĩ Kỳ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Nếu một con tầu bị đắm, đối với chúng tôi, đó là một nỗi đau to lớn ». Bà đã giúp đỡ các di dân cập bến trên đảo của bà, đặc biệt là những trẻ sơ sinh, dưới ánh mắt nhân từ của các bà cụ Hy Lạp khác, và của bà mẹ người Syria, hơi né ra xa, sửng sốt.

Đức Giáo Hoàng đã viện dẫn Đức Barthôlômêô Đệ Nhất khi ngài nói, trong chuyến đi năm 2016 : « Kẻ sợ hãi anh em đã không nhìn thẳng vào mắt anh em. Kẻ sợ hãi đã không nhìn thấy mặt anh em. Kẻ sợ hãi đã không nhìn thấy con cái anh em. Họ quên rằng phẩm giá và sự tự do vượt lên nỗi sợ hãi và sự chia rẽ. Họ quên rằng vấn đề di dân không phải là một vấn đề của Trung Đông và của Bắc Phi, của Châu Âu và của nước Hy lạp. Nó là một vấn đề toàn cầu ». Và ngài đã viện dẫn ĐGH Biển Đức XVI.

Những nguồn gốc Kitô giáo nào ? Hơn nữa, Đức Giáo Hoàng đã mời gọi hãy đòi lấy bằng hành động những gốc rễ Kitô giáo của Châu Âu, mời gọi tất cả Châu Âu nên làm, cũng làm như Hy Lạp : « Khi khinh thường con người được tạo dựng theo hình ảnh của Người, mặc cho bị sóng biển nhấn chìm, trong sự vỗ về của sự vô cảm, đôi khi lại còn được biện hộ nhân danh những cái coi như giá trị Kitô giáo, người ta xúc phạm đến chính Thiên Chúa. Trái lại, đức tin đòi hỏi lòng trắc ẩn và lòng thương xót – chúng ta đừng quên rằng đó là kiểu của Thiên Chúa : sự gần gũi, lòng trắc ẩn và sự dịu dàng. Đức tin khuyến khích lòng hiếu khách, sự hiếu khách đã thấm nhuần nền văn hóa cổ điển và đã tìm được sự thể hiện vĩnh viễn nơi Chúa Giêsu, đặc biệt trong dụ ngôn người Samari nhân hậu và trong những lời của chương 25 của Phúc Âm theo thánh Mátthêu. Đó không phải là hệ tư tưởng tôn giáo, đó là những gốc rể Kitô giáo cụ thể. Chúa Giêsu long trọng khẳng định rằng Người ở đó, trong người khách lạ, trong người tỵ nạn, trong người trần truồng và đói khát. Và chương trình Kitô giáo, chính là ở nơi có Chúa Giêsu. Phải, bởi vì chương trình Kitô giáo, như ĐGH Biển Đức đã viết : « chính là một trái tim biết nhìn thấy » ».

« Chỉ là một ảo tưởng khi nghĩ rằng chỉ cần giữ mình cho khỏi bị những người yếu đuối gõ cửa chúng ta », Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh.

Tại sao nước Hy Lạp ? « Và tôi không muốn kết thúc thông điệp này mà không cảm ơn nhân dân Hy lạp vì sự đón tiếp của họ. Rất thường xuyên, sự đón tiếp này trở thành một vấn đề, bởi vì người ta không tìm được lối thoát cho những con người, để họ có thể đi nơi khác. Cảm ơn, thưa anh chị em Hy Lạp vì sự đại lượng đó ». Đức Giáo Hoàng đã nhấn mạnh tính cách « bất cân xứng » của nỗ lực của người Hy Lạp để cứu vớt các di dân.

Cuộc gặp gỡ ở Lesbos đã bắt đầu và đã chấm dứt đối với Đức Giáo Hoàng bởi sự gặp gỡ với các gia đình và các trẻ em, trước khi ngài khởi hành đi Athene nơi ngài đã chủ sự thánh lễ cho các vị đại diện cho các nghi thức công giáo khác nhau, trước sự hiện diện của bà Tổng Thống mà ngài đã cảm ơn nồng nhiệt.

Khi trở về tòa khâm sứ, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tiếp kiến đức tổng giám mục chính thống giáo Hiéronymos để thăm trả lễ cuộc viếng thăm của ngài hôm qua tại tòa tổng giám mục.

Đây là ngày thứ tư chuyến tông du của Đức Giáo Hoàng, ngày thứ nhì tại Hy Lạp, sau hai ngày ở Chypre. Ngày mai, thứ hai 06/12, Đức Giáo Hoàng sẽ gặp gỡ các bạn trẻ trước khi lên máy bay trở về Rôma.

AB

Các trẻ em ở trại Mavrovouni, Lesbos (Hy Lạp)

Bài Diễn Văn của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Thưa anh chị em,

Xin cảm ơn vì những lời của quý vị. Tôi biết ơn, thưa bà Tổng Thống, vì sự hiện diện và những lời nói của bà. Thưa anh chị em thân mến, tôi lại đến đây để gặp gỡ anh chị em. Tôi đã đến để nói với anh chị em rằng tôi gần gũi với anh chị em, và nói lên điều này tự đáy lòng. Tôi đến đây để nhìn thấy khuôn mặt của anh chị em, để nhìn thẳng vào mắt anh chị em. Những đôi mắt đầy sợ hãi và chờ đợi, những đôi mắt đã nhìn thấy bạo lực và sự nghèo khổ, những đôi mắt đẫm quá nhiều lệ. Cách đây năm năm, cũng trên hòn đảo này, Thượng Phụ đại kết, quý huynh Barthôlômêô của tôi đã nói một điều làm tôi động lòng : « Kẻ sợ hãi anh chị em đã không nhìn thẳng vào mắt anh chị em. Kẻ sợ hãi đã không nhìn mặt anh chị em. Kẻ sợ hãi đã không nhìn thấy các con em của anh chị em. Người đó quên rằng phẩm giá và sự tự do vượt lên nỗi sợ hãi và sự chia rẽ. Người đó quên rằng vấn đề di dân không phải là một vấn đề của Trung Đông và của Bắc Phi, của Châu Âu và của Hy lạp. Nó là một vấn đề toàn cầu » (Diễn văn ngày 16/4/2016).

Đúng, đó là một vấn đề toàn cầu, một cuộc khủng hoảng nhân đạo liên quan đến tất cả chúng ta. Đại dịch giáng xuống chúng ta trên toàn cầu, nó đã làm chúng ta nhận ra rằng, tất cả chúng ta đều cùng ngồi trên một chiếc thuyền, nó đã làm cho chúng ta cảm thấy thế nào có nghĩa là có chung một sự sợ hãi. Chúng ta đã hiểu rằng những vấn đề lớn phải được cùng nhau đề cập, bởi vì trên thế giới ngày hôm nay, những giải pháp riêng lẻ là không thích hợp. Tuy nhiên, trong lúc mà những việc chích ngừa tiến triển một cách khó khăn trên quy mô thế giới và, mặc dù những chậm trễ và những do dự, dường như có một chuyện gì đó có chuyển động trong cuộc đấu tranh chống biến đổi khí hậu, nhưng tất cả có vẻ như bị bế tắc một cách khủng khiếp khi liên quan đến vấn đề di dân. Tuy thế, những con người và những mạng sống con người, đang là vấn đề ! Tương lai của tất cả mọi người đang là vấn đề, con người chỉ thanh thản khi được hội nhập. Chỉ khi nào được hòa giải với những người yếu kém nhất thì tương lai mới phồn thịnh. Bởi vì khi người nghèo bị loại bỏ, thì hòa bình sẽ bị loại bỏ. Sự co cụm lại và những chủ nghĩa dân tộc – như lịch sử đã dạy cho chúng ta – dẫn tới những hậu quả tàn khốc. Như Công Đồng Vatican II đã nhắc nhở, « Thái độ thực tâm muốn tôn trọng tha nhân và các dân tộc khác cũng như phẩm giá của họ, và sự ân cần thực thi tình huynh đệ là những điều kiện thiết yếu để xây dựng hòa bình » (Gaudium et spes, s. 78). Chỉ là một ảo tưởng khi nghĩ rằng chỉ cần giữ mình cho khỏi bị những người yếu đuối gõ cửa chúng ta. Tương lai đặt chúng ta ngày càng nhiều tiếp xúc giữa người này và người kia. Để làm cho nó tốt, đó là những chính sách có tầm cỡ lớn mới có ích, chứ không phải là những hành động đơn phương. Tôi nhắc lại : lịch sử dạy chúng ta, nhưng chúng ta luôn không nhớ. Chúng ta đừng quay lưng lại với thực tế, chúng ta hãy ngừng luôn đổ trách nhiệm cho người khác, chúng ta đừng cứ bán cái vấn đề di dân cho người khác, cứ như nó không quan trọng đối với ai cả, và nó không phải là một gánh nặng vô dụng mà ai đó bị bắt buộc phải gánh vác.

Thưa quý anh chị em thân mến, khuôn mặt, ánh mắt của anh chị em yêu cầu chúng tôi đừng quay mặt đi, đừng từ chối tình nhân loại kết hợp chúng ta, để lấy lịch sử của anh chị em làm lịch sử của chúng tôi, và đừng quên những thảm kịch của anh chị em. Văn hào Elie Wiesel, chứng nhân của thảm kịch to lớn nhất thế kỷ trước, đã viết : « Chính bởi tôi nhớ tới nguồn gốc chung của chúng ta mà tôi đã đến gần với những người anh em của tôi, những con người. Chính bởi vì tôi từ chối quên rằng tương lai của họ cũng quan trọng như tương lai của tôi » (From the Kingdom of Memory, Reminiscensesz, New York, 1990, 10). Trong ngày chúa nhật này, tôi cầu nguyện Thiên Chúa đánh thức chúng ta ra khỏi sự lãng quên những người đang đau khổ, lay động chúng ta ra khỏi chủ nghĩa cá nhân mang tính loại trừ, đánh thức những trái tim bị điếc trước những nhu cầu của người khác. Và tôi cũng cầu xin con người, tất cả mọi người : chúng ta hãy vượt lên sự tê liệt của sự sợ hãi, sự vô cảm mang tính giết người, sự thờ ơ vô liêm sỉ, với những bao tay bằng nhung, chúng kết án tử hình những người ở bên lề cuộc đời ! Chúng ta hãy đấu tranh từ gốc rễ chống lại tư tưởng thống trị này, tư tưởng này tập trung trên chính cái tôi, trên những tính ích kỷ riêng cá nhân và quốc gia để trở thành thước đo và tiêu chí của mọi sự.

Năm năm đã qua đi từ chuyến viếng thăm của tôi ở đây, với các quý huynh của tôi là Barthôlômêô và Giêrônimô. Sau tất cả thời gian đó, chúng tôi ghi nhận rằng chỉ có ít chuyện đã thay đổi trên vấn đề di dân. Chắc chắn, có nhiều người đã dấn thân trong việc đón tiếp và hội nhập, và tôi muốn cảm ơn nhiều thiện nguyện viên, cũng như tất cả những người, ở mọi cấp – thể chế, xã hội, từ thiện, chính trị – đã đưa ra những nỗ lực to lớn bằng cách lo cho những người và những vấn đề di dân. Tôi chào mừng sự dấn thân để tài trợ và để xây dựng những cấu trúc đón tiếp xứng đáng, và tôi hết lòng cảm ơn dân chúng địa phương vì tất cả những điều tốt lành được thực hiện và nhiều những sự hy sinh phải chấp nhận. Và tôi cũng muốn cảm ơn các Chính Quyền địa phương đã ra công tiếp nhận, bảo vệ và làm cho thăng tiến những người đến với chúng ta. Cảm ơn ! Cảm ơn vì những điều quý vị làm ! Phải cay đắng mà công nhận rằng đất nước này, như các nước khác, đang còn trong khó khăn, và rằng nhiều nước ở Châu Âu vẫn kiên trì coi vấn đè này như một chuyện không liên quan đến họ. Và điều này là bi thảm. Tôi còn nhớ những lời sau cùng của bà [Tổng Thống] : « Mong rằng Châu Âu cũng làm điều này ». Những điều kiện này không xứng đáng với con người biết bao !  Có bao nhiêu những điểm nóng nơi các di dân và những người tỵ nạn sống trong những điều kiện ở giới hạn của sự có thể chấp nhận, không hề thấy có giải pháp ! Tuy thế, sự tôn trọng con người và những quyền con người này, nhất là trên châu lục đã cổ vũ những giá trị đó trên thế giới, luôn phải được bảo vệ, và phẩm giá của mỗi người phải đặt trước mọi thứ ! Thật là buồn khi nghe đề nghị, như là giải pháp, sự sử dụng công quỹ để xây dựng những bức tường, những hàng rào dây thép gai. Chúng ta đang ở thời đại của những bức tường và những dây thép gai.  Chắc chắn, những nỗi sợ hãi và những bất an, những khó khăn và những nguy hiểm có thể hiểu được. Sự mệt mỏi và sự thất vọng làm cho cảm nhận, bị làm trầm trọng hơn bởi những khủng hoảng kinh ntế và đại dịch, nhưng không phải bằng cách dựng lên những rào cản mà người ta giải quyết các vấn đề và người ta cải thiên được đời sống nói chung. Trái lại, chính là bằng cách kết hợp các sức lực của chúng ta để chăm sóc người khác, theo những khả năng thực sự của mỗi người và trong sự tôn trọng pháp luật, và luôn đặt lên hàng đầu giá trị không thể kềm hãm của sự sống của tất cả mọi người nam nữ. Ông  Eloie Wiesel cũng đã nói : « Một khi những mạng sống của con người bị nguy hiểm, một khi phẩm giá của con người bị nguy hiểm, các biên giới quốc gia trở nên vô nghĩa » (Bài diễn văn lúc nhận Giải Thưởng Nobel Hòa Bình, ngày 10/12/1986).

Trong nhiều xã hội khác nhau, người ta thường đặt vào thế đối lập ý thức hệ tính an toàn và sự đoàn kết, tính địa phương và tính phổ quát, truyền thống và cởi mở. Thay vì đứng vào bên những tư tưởng, có thể là hữu ích khi xuất phát đi từ thực tế : Dừng lại, mở rộng tầm mắt, dìm nó vào trong những vấn đề của phần lớn của nhân loại, của biết bao là những dân tộc nạn nhân của những khẩn cấp nhân đạo mà họ đã không gây ra mà chỉ chịu đựng, thường thường tiếp nối từ những lịch sử lâu dài của sự khai thác còn đang kéo dài. Thật là dễ để dẫn dắt dư luận quần chúng bằng cách tung ra sự sợ hãi người khác. Tại sao, trái lại, không nói lên với cùng một sự mạnh mẽ về sự bóc lột người nghèo, về những cuộc chiến tranh bị quên lãng và thường được tài trợ rộng rãi, về những hiệp ước kinh tế được ký kết gây thiệt hại cho người dân, về những thủ đoạn bí mật cho việc buôn bán vũ khí và gây ra sự tán phát súng đạn ? Tại sao người ta lại không nói về chuyện này ? Đây là tấn công vào những nguyên nhân sâu xa, và không vào những người nghèo đang phải trả giá cho những hậu quả và đang bị sử dụng cho những tuyên truyền chính trị ! Để loại bỏ những nguyên nhân sâu xa, che đậy những sự khẩn cấp là chưa đủ. Phải có những hành động thận trọng. Phải đề cập đến những thay đổi thời đại với một cái nhìn rộng rãi. Bởi vì không có những câu trả lời dễ dãi cho những vấn đề phức tạp. Ngược lại, cần thiết là phải đồng hành với những quy trình từ bên trong để vượt lên những việc phải khoanh vùng người nghèo và tạo điều kiện cho một sự hội nhập chậm rãi và thiết yếu, để đón tiếp những nền văn hóa và những truyền thống của những người khác một cách anh em và có trách nhiệm.

Trên hết, nếu chúng ta muốn bắt đầu lại, chúng ta hãy nhìn vào mặt các trẻ em. Chúng ta hãy có can đảm cảm thấy xấu hổ trước các em, vốn là những kẻ vô tội và tượng trưng cho tương lai. Các em cật vấn lương tâm chúng ta và chất vấn chúng ta : « Mấy người muốn cho chúng tôi thế giới như thế nào ? ». Chúng ta đừng trốn tránh quá nhanh những khuôn mặt sống sượng của những thân hình nhỏ bé nằm yên trên bãi biển. Biển Điạ Trung Hải, vốn đã kết nối trong nhiều thiên kỷ các dân tộc khác nhau và những vùng đất xa xôi, đang trở thành một nghĩa trang lạnh lẽo không có mộ bia. Mặt biển mênh mông này, cái nôi của những nền văn minh, từ nay như là một tấm gương của sự chết. Chúng ta đừng để cho biển cả của chúng ta (mare nostrum) biến thành một biển chết (mare mortuum) hoàng tàn, mong rằng nơi chốn của gặp gỡ này đừng trở thành sân khấu của những tranh chấp ! Chúng ta đừng để « biển cả của những ký ức » này trở thành « biển cả của quên lãng ». Thưa anh chị em, tôi cầu xin anh chị em, chúng ta hãy ngăn cản sự chìm thuyền của văn minh này !

Trên bờ của biển này, Thiên Chúa đã làm người. Lời của Người đã vang dội, mang sự rao truyền về Thiên Chúa, Người là « Cha và Đấng dẫn đường của tất cả mọi người » (Thánh Grêgôriô thành Nazianze, Bài diễn văn 7 cho anh của ngài là Xêda, s.24). Người thương yêu chúng ta như các con cái của Người, và muốn rằng chúng là là anh em với nhau. Và tuy thế, chính Thiên Chúa mà người ta xúc phạm bằng cách khinh thường con người được tạo dựng theo hình ảnh của Người, bằng cách để mặc con người cho sóng to gió lớn, trong sự vỗ về của sự vô cảm, đôi khi còn được hiện minh nhân danh những giá trị được coi là các giá trị Kitô giáo. Đức tin, trái lại, đòi hỏi lòng trắc ẩn và lòng thương xót – chúng ta đừng quên rằng đó là kiểu của Thiên Chúa : gần gũi, trạnh lòng và dịu dàng. Đức tin khuyến khích lòng hiếu khách, sự hiếu khách đã thấm nhuần nền văn hóa cổ điển và đã tìm được sự thể hiện vĩnh viễn nơi Chúa Giêsu, đặc biệt trong dụ ngôn người Samari nhân hậu (x. Lc 10, 29-37) và trong những lời của chương 25 của Phúc Âm theo thánh Mátthêu (x. c. 3-46).*

*Đó không phải là hệ tư tưởng tôn giáo, đó là những gốc rể Kitô giáo cụ thể. Chúa Giêsu long trọng khẳng định rằng Người ở đó, trong người khách lạ, trong người tỵ nạn, trong người trần truồng và đói khát. Và chương trình Kitô giáo, chính là ở nơi có Chúa Giêsu. Phải, bởi vì chương trình Kitô giáo, như ĐGH Biển Đức đã viết : « chính là một trái tim biết nhìn thấy » (Tông thư Deus caritas est, số 31). Và tôi không muốn chấm dứt thông điệp này mà không cảm ơn nhân dân Hy Lạp vi sự đón tiếp của họ. Rất thường khi sự đón tiếp này trở thành một vần đề, bởi vì người ta không tìm được lối thoát cho con người, để họ đi nơi khác. Cảm ơn các anh chị em Hy Lạp vì lòng đại lượng đó.

Bây giờ, chúng ta hãy cầu nguyện Đức Trinh Nữ Maria để Mẹ mở mắt chúng ta ra trên những đau khổ của những người anh em của chúng ta. Mẹ đã vội vàng lên đường đi thăm người chị họ Elizabeth của Mẹ đang mang thai. Biết bao người mẹ có thai đã bỏ mạng trong sự vội vã đi xa trong lúc họ đang mang sự sống trong lòng họ ! Cầu xin Mẹ Thiên Chúa giúp chúng ta có được một ánh mắt mẹ hiền nhìn thấy trong những con người các con cái của Thiên Chúa, những người anh chị em phải đón tiếp, phải bảo vệ, phải phát huy và phải hội nhập. Và phải yêu thương một cách dịu dàng. Cầu xin Mẹ Rất Thánh dạy cho chúng ta biết đặt thực tại con người trước các suy nghĩ và những hệ tư tưởng, và biết thúc đẩy chúng ta đi gặp những người đang đau khổ.

Và bây giờ, tất cả chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện Đức Trinh Nữ Maria.

[Kinh Truyền Tin]

© Librairie éditrice du Vatican

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit

Les “racines chrétiennes concrètes” et le visage des petits enfants réfugiés (texte complet) – ZENIT – Francais

 24 khách đã đọc bài này
This entry was posted in Chưa được phân loại. Bookmark the permalink.