JMJ – những lễ nghi địa phương từ nay sẽ diễn ra trong Lễ Chúa Kitô Vua

Lời loan báo của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

NOVEMBRE 22, 2020 12:27 ANNE KURIAN-MONTABONEPAPE FRANÇOIS

Thánh Lễ Chúa Kitô Vua, ngày 22/11/2020

Việc cử hành tại các giáo phận Ngày Giới Trẻ Thế Giới từ nay sẽ diễn ra vào ngày lễ Chúa Kitô Vua, bế mạc năm phụng vụ, và không còn là ngày chúa nhật Lễ Lá nữa, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã loan báo hôm 22/11/2020.

Vào cuối Thánh Lễ do ngài cử hành trong Đền Thánh Phêrô mừng « Chúa Kitô Vua Vũ Trụ », các bạn trẻ của Panama – nơi đã diễn ra JMJ năm 2019 –  đã bàn giao cây thập giá và ảnh tượng Đức Maria là những biểu tượng của JMJ cho các bạn trẻ của Bồ Đào Nha – nơi dự trù tổ chức JMJ năm 2023, tại Lisboa. Lễ bàn giao truyền thống đã không được tổ chức như thông lệ vào ngày chúa nhật Lễ Lá, vì lý do đại dịch coronavirút.

Hướng dẫn lễ bàn giao này, Đức Giáo Hoàng đã biểu lộ ước muốn của ngài cũng đẩy mạnh ngày JMJ « trong các Giáo Hội địa phương ». Để làm điều này, ngài đã quyết định rằng các lễ nghi từ nay sẽ được cử hành vào ngày lễ Chúa Kitô Vua, để cho « Mầu Nhiệm Chúa Giêsu Kitô Cứu Chuộc của con người chiếm vị trí trung tâm, như đã được nhấn mạnh bởi Thánh Gioan Phaolô II, người khởi xướng và chủ trì các ngày JMJ ».

Sau đây là những lời Đức Giáo Hoàng ban ra vào cuối Thánh Lễ.

Lời của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Cuối Thánh Lễ này, tôi thân ái chào mừng tất cả Quý Anh Chị Em hiện diện nơi đây và tất cả những người theo dõi Quý Anh Chị Em thông qua các phương tiện truyền thông. Một lời chào đặc biệt dành cho những bạn trẻ của Panama và Bồ Đào Nha, được đại diện bởi hai phái đoàn, trong chốc lát, sẽ làm cử chỉ có ý nghĩa là bàn giao Thánh Giá và Ảnh Tượng Đức Maria Cứu Độ Dân Rôma, những biểu tượng của ngày JMJ. Đó là một sự bàn giao quan trọng trong cuộc hành hương sẽ đưa chúng ta đến Lisboa vào năm 2023.

Và trong lúc mà chúng ta chuẩn bị cho biến cố JMJ quốc tế sắp tới, tôi cũng muốn đẩy mạnh việc cử hành trong các Giáo Hội địa phương. Ba mươi lăm năm sau khi thiết lập ngày JMJ, sau khi đã nghe những quan điểm khác nhau và Thánh Bộ về Giáo Dân, gia đình và sự sống, có thẩm quyền về mục vụ giới trẻ, tôi đã quyết định, kể từ năm tới, việc cử hành JMJ tại các giáo phận được rời lại vào ngày Chúa Nhật Chúa Kitô Vua. Mầu Nhiệm Chúa Giêsu Kitô Cứu Thế của con người ở vào vị trí trung tâm, như luôn được nhấn mạnh bởi Thánh Gioan Phaolô II, người khởi xướng và là chủ sự của các ngày JMJ.

Các bạn trẻ thân mến, các con hãy bằng cuộc sống của các con, tung hô Chúa Kitô trường cửu và hiển trị ! Nếu các con im lặng, đất đá sẽ kêu lên (x. Lc 19, 40).

© Librairie éditrice du Vatican

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

JMJ : les célébrations locales auront lieu dorénavant à la fête du Christ Roi – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở JMJ – những lễ nghi địa phương từ nay sẽ diễn ra trong Lễ Chúa Kitô Vua

Thánh Lễ Chúa Kitô Vua – các lựa chọn « mạnh mẽ, quyết định, vĩnh cửu », không phải « tầm thường »

Để sống mạnh mẽ chứ không phải sống vất vưởng (Bài giảng của Đức Giáo Hoàng)

NOVEMBRE 22, 2020 11:46 ANNE KURIAN-MONTABONEPAPE FRANÇOIS

Thánh Lễ Chúa Kitô Vua ngày 22/11/2020

Cuộc sống « là thời gian để có những lựa chọn mạnh mẽ, quyết định, vĩnh cửu », Đức Giáo Hoàng Phanxicô khẳng định và khuyên nhủ hãy có « những chọn lựa lớn lao » chứ đừng có « những chọn lựa tầm thường », chúng « kéo theo một cuộc sống tầm thường ». « Chúng ta không được tạo dựng để mơ về những ngày nghỉ hay về những ngày cuối tuần, mà để thực hiện những giấc mơ của Thiên Chúa trên thế giới này », ngài còn nhấn mạnh trong Thánh Lễ do ngài cử hành ngày 22/11/2020 mừng lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ.

Trong ngày lễ này, bế mạc năm phụng vụ, Đức Giáo Hoàng Phanxicô một lần nữa, đã mời gọi hãy thực hiện các công trình lòng thương xót, tại trung tâm bài Phúc Âm hôm nay : đó là « những công trình đẹp nhất đời. Nếu bạn có những giấc mơ về sự vinh quang đích thực, chứ không phải vinh quang của thế gian vốn lúc đến, lúc đi, nhưng sự vinh quang của Thiên Chúa, đó là con đường phải đi ».

Và ngài cảnh báo, từ Đền Thánh Phêrô : « Chúng ta trở thành điều mà chúng ta chọn lựa, tốt hay xấu. Nếu chúng ta chọn lấy trộm thi chúng ta sẽ trở thành những kẻ trộm, nếu chúng ta chọn nghĩ tới chính mình, chúng ta trở thành những kẻ ích kỷ, nếu chúng ta chọn thù ghét, chúng ta trở thành những kẻ nóng giận, nếu chúng ta chọn bỏ hàng giờ ra với cái điện thoại di động, chúng ta trở thành lệ thuộc ».

Ngược lại, Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói thêm, « nếu chúng ta chọn Thiên Chúa, chúng ta trở thành ngày càng được thương yêu và nếu chúng ta chọn yêu thương, chúng ta trở thành những người hạnh phúc… nếu chúng ta sống khép kín và vô cảm, chúng ta sẽ tê liệt, nhưng nếu chúng ta xả thân cho người khác, chúng ta trở thành những người tự do ». Đó quả là « bí quyết của cuộc đời : người ta chỉ có nó khi hiến tặng nó đi ». 

Suốt bài suy ngẫm của ngài, Đức Giáo Hoàng  đã mời gọi « đừng bám vào những câu hỏi vì sao của cuộc đời bằng cách chờ đợi một câu trả lời từ Trời rơi xuống » : « Không, tình yêu thúc đẩy nên từ cái vì sao đi sang cái vì ai, từ câu hỏi vì sao tôi sống qua câu hỏi vì ai tôi sống, từ vì sao cái này xẩy đến cho tôi sang vì ai tôi có thể làm điều thiện ».

Thay vì « trải qua năm này sang năm khác chỉ nghĩ tới chính chúng ta mà không bắt đầu yêu thương », ngài đã đưa ra lời khuyên của nhà văn người Ý Alessandro Manzoni (1785-1873) : « Người ta nên nghĩ nhiều hơn đến sự làm việc thiện, hơn là cảm thấy thoải mái : và như thế người ta kết cuộc cũng sẽ cảm thấy thoải mái hơn ». Ngài đã kết luận bằng cách đưa ra song đề của « sự chọn lựa hàng ngày » : không phải « tôi phải làm gì mới phải đây ? » mà « cái gì làm cho tôi thoải mái ? »… để « sống mạnh mẽ chứ không phải sống vất vưởng ». 

Cuối lễ với một số ít người, vì những hạn chế y tế, đại diện các bạn trẻ Panama – nơi đã diễn ra Ngày Giới Trẻ Thế Giới năm 2019 – đã bàn giao thập giá và ảnh tượng của JMJ cho các bạn trẻ của Bồ Đào Nha, nơi sẽ diễn ra Đại Hội JMJ năm 2023, tại Lisboa.

Bài giảng của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Trang Phúc Âm mà chúng ta vừa nghe là đoạn cuối của Phúc Âm theo Mátthêu trước cuộc Khổ Nạn : trước khi ban cho chúng ta tình yêu của Người trên thập giá, Chúa Giêsu đã để lại cho chúng ta những ý nguyện sau cùng của Người. Người phán với chúng ta rằng việc tốt mà chúng ta làm với một trong những người anh em nhỏ nhất của Người – đói, khát, khách lạ, trần truồng, đau yếu, tù rạc – sẽ là làm cho chính Người (x ; Mt 25, 37-40). Như vậy, Chúa để lại cho chúng ta danh sách các tặng phẩm Người muốn cho tiệc cưới vĩnh cửu với chúng ta trên Trời.

Đó là những công trình thương xót, làm cho cuộc đời chúng ta nên vĩnh cửu. Mỗi người trong chúng ta có thể tự hỏi : liệu tôi có thể mang chúng ra thực hành không ? Liệu tôi có thể làm điều tốt cho người đang có nhu cầu hay không ? Hay là tôi chỉ làm việc tốt cho những người thân yêu hay các bằng hữu thôi ? Liệu tôi có giúp đỡ người không thể đền đáp lại cho tôi không ? Tôi có là bạn của một người nghèo không ? « Thầy đang ở đây », Chúa Giêsu phán với con, « Thầy đợi con ở đây, nơi mà con không tưởng tượng ra được và là nơi mà có lẽ con còn không thèm liếc mắt nhìn đến, ở đây trong những người nghèo ». Thầy ở đó, nơi mà tư tưởng chủ đạo, theo đó cuộc sống sẽ thoải mái nếu nó hợp với ta, không có ý nghĩa gì cả. Thầy ở đây, Chúa Giêsu cũng phán với con, người bạn trẻ đang đi tìm cách thực hiện những mơ ước của cuộc đời.

Thầy ở đó, từ nhiều thế kỷ qua, Chúa Giêsu phán với một người lính trẻ. Đó là một người thanh niên 18 tuổi chưa được chịu Phép Rửa. Một ngày người đó thấy một người nghèo đang ngửa tay xin người ta giúp đỡ, nhưng hắn đã không nhận được gì, vì « tất cả đều bỏ đi ». Và người thanh niên đó « khi nhìn thấy những người khác không hề cảm động thương xót, đã hiểu rằng người nghèo đó đã được dành cho mình ». Tuy nhiên, chàng ta không có gì trong người, chỉ có bộ quân phục trên mình. Chàng bèn cắt  tấm áo choàng của mình và cho nửa tấm áo đó cho người nghèo, dưới sự chê cười chế nhạo của một số người chung quanh. Đêm hôm sau, chàng thanh niên đã có một giấc mơ : chàng thấy Chúa Giêsu, mặc trên người nửa tấm áo choàng mà chàng ta đã khoác lên cho người nghèo. Và chàng nghe Người phán : « Martinô đã choàng cho Ta với tấm áo này » (x. SULPICIO SEVERO, Vita Martini, III). Thánh Martino là một thanh niên đã mơ thấy giấc mơ đó bởi vì chàng ta đã trải nghiệm nó, dù là trong lòng không biết, giống như những người công chính của bài Phúc Âm ngày hôm nay.

Các bạn trẻ thân mến, thưa Quý Anh Chị Em, chúng ta đừng chối bỏ những giấc mơ lớn. Chúng ta đừng thỏa mãn với những gì đã có. Chúa không muốn rằng chúng ta thu hẹp chân trời lại, Người không muốn chúng ta dừng lại bên cạnh cuộc đời, nhưng phải bước tới những mục đích lớn, với niềm vui và lòng hăng hái. Chúng ta không được tạo dựng nên để chỉ mơ về những ngày nghỉ hay những ngày cuối tuần, mà để thực hiện những giấc mơ của Thiên Chúa trên thế gian này. Người đã làm cho chúng ta có khả năng mơ tưởng để ôm ấp vẻ đẹp của cuộc đời. Và những công trình lòng thương xót là những công trình đẹp đẽ của cuộc đời. Nếu bạn có những mơ mộng có được vinh quang thực sự, không phải vinh quang của thế gian, lúc đến lúc đi, nhưng là vinh quang của Thiên Chúa, đó mới là đường đi. Bởi vì những công trình thương xót làm vinh danh Thiên Chúa hơn bất cứ mọi thứ khác… Chúng ta cuối cùng sẽ bị phán xét về các công trình thương xót.

Nhưng người ta phải xuất phát từ đâu để thực hiện những giấc mơ lớn ? Những chọn lựa lớn. Bài Phúc Âm ngày hôm nay cũng nói về chuyện này. Quả vậy, vào lúc phán xét cuối cùng, Chúa dựa trên những chọn lựa của chúng ta. Có thể gần như không có phán xét : Người tách biệt chiên và dê, nhưng là tốt hay xấu đều tùy thuộc chúng ta. Người chỉ rút ra những hậu quả của các chọn lựa của chúng ta, Người đưa chúng ta ánh sáng và tôn trọng chúng.

Đời sống, như thế, là thời gian của sự chọn lựa mạnh mẽ, quyết định và vĩnh cửu. Những chọn lựa tầm thường dẫn tới một cuộc sống tầm thường, những chọn lựa to tát làm cho cuộc đời vĩ đại. Quả vậy, chúng ta trở thành điều mà chúng ta chọn lựa, cái tốt hay cái xấu. Nếu chúng ta chọn lấy trộm thi chúng ta sẽ trở thành những kẻ trộm, nếu chúng ta chọn nghĩ tới chính mình, chúng ta trở thành những kẻ ích kỷ, nếu chúng ta chọn thù ghét, chúng ta trở thành những kẻ nóng giận, nếu chúng ta chọn bỏ hàng giờ ra với cái điện thoại di động, chúng ta trở thành lệ thuộc.

Nhưng nếu chúng ta chọn Thiên Chúa, chúng ta trở thành ngày càng được thương yêu và nếu chúng ta chọn yêu thương, chúng ta trở thành những người hạnh phúc. Phải, bởi vì sự tươi đẹp của những chọn lựa tùy thuộc tình yêu. Chúa Giêsu biết rằng nếu chúng ta sống khép kín và vô cảm chúng ta sẽ bị tê liệt, nhưng nếu chúng ta xả thân cho người khác, chúng ta trở thành những người tự do. Chúa sự sống muốn cho chúng ta tràn đầy sự sống và ban cho chúng ta bí quyết của cuộc đời : người ta chỉ có nó khi hiến tặng nó đi (…). Nhưng có những trở ngại khiến cho những chọn lựa trở nên khó khăn : thường là sự sợ hãi, sự bất ổn, những cái vì sao không có câu trả lời. Tuy nhiên, tình yêu đòi hỏi phải đi xa hơn, phải đừng bám lấy những cái vì sao của cuộc đời trong khi chờ đợi một câu trả lời tới từ trên Trời.  Không, tình yêu thúc đẩy nên từ cái vì sao đi sang cái vì ai, từ câu hỏi vì sao tôi sống qua câu hỏi vì ai tôi sống, từ vì sao cái này xẩy đến cho tôi sang vì ai tôi có thể làm điều thiện. Vì ai ? Không chỉ vì tôi : đời sống đã đầy dẫy rồi những lựa chọn mà chúng ta làm cho chính chúng ta, để có một mảnh bằng cấp trong học tập, có những người bạn, có một ngôi nhà, để thỏa mãn những thú tiêu khiển hay những quyền lợi của chúng ta. Nhưng chúng ta có rủi ro bỏ ra nhiều năm tháng để nghĩ đến chính mình mà không bắt đầu yêu thương. Văn hào Manzoni đã cho một lời khuyên hay : « Người ta phải nghĩ nhiều đến việc làm điều thiện, hơn là cảm thấy thoải mái : và như thế, cuối cùng người ta sẽ cảm thấy tốt hơn » (Les fiancés, chương XXXVIII).

Nhưng không phải chỉ có những nghi ngờ và những cái vì sao đã ngầm phá hoại những chọn lựa to lớn mang tính quảng đại, còn có nhiều trở ngại khác nữa. Có cơn sốt tiêu thụ, đầu độc tâm hồn bởi những chuyện dư thừa. Có sự ám ảnh giải trí dường như là con đường duy nhất để vượt thoát những vấn đề và thật ra nó chỉ là sự trì hoãn các vấn đề. Có sự kiện là trụ vững trên những quyền đòi hỏi của mình và quên đi bổn phận phải giúp đỡ người khác. Và rồi còn có cái ảo ảnh lớn lao về tình yêu, nó có vẻ là cái gì có thể trải nghiệm bằng cảm xúc, trong lúc tình yêu trước hết là sự hiến tặng, sự chọn lựa và sự hy sinh. Chọn lựa, nhất là trong ngày hôm nay, chính là đừng thuần hóa bằng cách đồng hóa, đó không phải là để mình bị làm mê hoặc bởi những cơ chế tiêu thụ có khả năng làm mất đi tính độc đáo, chính là biết từ bỏ những cái bề ngoài và làm bộ. Chọn lựa sự sống, tức là đấu tranh chống lại cái tâm thức dùng-rồi-bỏ và phải có-mọi-thứ-ngay-tức-khắc, để lèo lái cuộc sống đi tới điểm đến trên Trời, tới những mơ ước của Thiên Chúa.

Mỗi ngày, nhiều chọn lựa xuất hiện với thâm tâm chúng ta. Tôi muốn cho anh em một lời khuyên chót để luyện tập cách chọn lựa tốt. Nếu chúng ta nhìn vào nội tâm chúng ta, chúng ta thấy rằng nhiều khi hai câu hỏi khác nhau nổi lên trong chúng ta. Một câu là : tôi làm gì mới phải ? Đó là một câu hỏi thường hay gây lầm lẫn, bởi vì nó ngầm hiểu rằng điều quan trọng chính là phải nghĩ đến mình và thỏa mãn tất cả những ham muốn và những thôi thúc xẩy đến. Nhưng câu hỏi mà Chúa Thánh Thần gợi ý trong tâm hồn lại là câu hỏi khác : không phải tôi làm gì mới phải ? mà cái gi làm điều tốt cho bạn ? Chính ở đây có sự chọn lựa hàng ngày, tôi làm gì mới phải hay cái gì làm điều tốt cho tôi ? Từ sự tìm kiếm nội tâm này, có thể nẩy sinh những chọn lựa tầm thường hay những chọn lựa của cuộc đời. Chúng ta hãy nhìn lên Chúa Giêsu, chúng ta hãy cầu xin Người lòng can đảm để chọn lựa điều làm điều tốt cho chúng ta, để bước đi theo chân Người, trên con đường của tình yêu. Và tìm được niềm vui. Để sống mạnh mẽ chứ không sống vất vưởng.

© Librairie éditrice du Vatican

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Messe du Christ Roi : faire des choix “forts, décisifs, éternels”, non pas “banals” – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Thánh Lễ Chúa Kitô Vua – các lựa chọn « mạnh mẽ, quyết định, vĩnh cửu », không phải « tầm thường »

Tam bách chu niên của các tu sĩ Dòng Thương Khó Chúa Giêsu – các ngôn sứ « trong một thế giới mất đi ý nghĩa của tình yêu »

Thư của Đức Giáo Hoàng Phanxicô (Bản dịch toàn văn)

NOVEMBRE 19, 2020 15:52 ANNE KURIAN-MONTABONEPAPE FRANÇOIS

Các tu sĩ Dòng Thương Khó Chúa Giêsu

« Hy vọng, chính là vui mừng vì cái gì đang hiện hữu, chứ không là than vãn vì cái gì đã thiếu hụt », Đức Giáo Hoàng viết cho các tu sĩ Dòng Thương Khó Chúa Giêsu, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 300 ngày lập dòng (22/11/1720 – 22/11/2020). Ngài cầu chúc rằng « việc kính nhớ Sự Thương Khó » vốn là đặc sủng của Dòng, khiến cho họ trở thành « những ngôn sứ cho tình yêu của Đấng Chịu Đóng Đinh trong một thế giới đã mất đi ý nghĩa của tình yêu ».

Trong thư của ngài được công bố ngày 19/11/2020, Đức Giáo Hoàng khuyến khích họ hãy « tiếp cận với Lời của Thiên Chúa » và hãy « đọc các dấu chỉ thời gian trong các biến cố hàng ngày », để « cảm nhận được hơi thở của Thần Khí thổi xuống những giải đáp cho những đợi chờ của nhân loại ».

Trong lúc mà nhân loại sống « một vòng xoáy những biến đổi », ngài khuyến khích Dòng Thương Khó Chúa Giêsu Kitô hãy « tìm ra những lối sống mới và những hình thức ngôn từ mới để loan truyền tình yêu của Đấng Chịu Đóng Đinh ». Ngài yêu cầu các tu sĩ đặc biệt quay lại « với những người bị đóng đinh của thời đại chúng ta : những người nghèo khó, những người yếu kém, những người bị đàn áp và những người bị loại bỏ bởi nhiều hình thức bất công ».

Và Đức Giáo Hoàng đã báo trước : « Không thể (…) thuyết phục người khác về tình yêu của Thiên Chúa chỉ qua một sự loan truyền bằng miệng và bằng thông tin. Phải có những cử chỉ cụ thể làm cho tình yêu đó trải nghiệm trong tình yêu riêng của chúng ta được hiến tặng ».

Năm thánh kỷ niệm 300 năm sẽ khai mạc ngày 22/11/2020 trong một Thánh Lễ được cử hành bởi Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Pietro Parolin trong Vương Cung Thánh Đường các thánh Gioan và Phaolô tại Rôma, và sẽ bế mạc vào ngày 01/01/2022. Năm thánh có chủ đề « Canh tân sứ vụ của chúng ta : tạo ơn, ngôn sứ, hy vọng ».

Dòng các tu sĩ Thương Khó Chúa Giêsu được sáng lập bởi thánh Phaolô Thánh Giá (1694-1775), ngày 22/11/1720, ngài đã nhận áo dòng ẩn tu và bắt đầu một cuộc tĩnh tâm 40 ngày trong một phòng nhỏ của Thánh Đường Thánh Charles đệ Castellazzo, tiểu sử ngài viết vậy. Trong cuộc tĩnh tâm, ngài viết Luật dòng của « Những người nghèo của Chúa Giêsu », tiền thân của Dòng Thương Khó tương lai. Với thời gian, ngài và các bạn đồng hành được gọi là các « Cha Thương Khó », với nhiệm vụ là giảng dạy Sự Thương Khó của Chúa Giêsu Kitô, như là « ơn phúc tuyệt vời nhất của tình yêu Thiên Chúa, sức mạnh có thể thay đổi con người và toàn thế giới ». Ngài được tuyên phong hiển thánh năm 1867 bởi Đức Giáo Hoàng Piô IX.

Thông điệp của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Kính gửi Cha Joachim Rego C.P.
Bề Trên Tổng Quyền
Tu Hội Thương Khó Chúa Giêsu Kitô (Các tu sĩ Thương Khó)

Các lễ nghi mừng năm thánh 300 năm của quý cộng đoàn cho tôi dịp hiệp nhất thiêng liêng với niềm vui của anh chị em vì sự ban tặng ơn gọi cho anh chị em để sống và loan truyền sự tưởng nhớ Cuộc Khổ Nạn của Đức Kitô, bằng cách đặt mầu nhiệm vượt qua vào trung tâm của đời sống anh chị em (x. Hiến Pháp 64). Đặc sủng, như mọi đặc sủng của đời sống thánh hiến, là một sự lan tỏa của tình yêu cứu độ vốn được tuôn ra từ mầu nhiệm Ba Ngôi, được tỏ ra trong tình yêu của Đấng Chịu Đóng Đinh (x. Tông huấn Vita consecrata 17-19. 23), đổ ra trên một người được chọn bởi quan phòng bằng cách lan ra một cộng đoàn, để nhập vào Hội Thánh hầu trả lời cho những nhu cầu của lịch sử. Nhằm để đặc sủng kéo dài trong thời gian, phải là cho nó gắn liền vào những đòi hỏi, bằng cách giữ cho sống động sức mạnh sáng tạo của những lúc ban đầu.

Lễ bách chu niên đầy ý nghĩa này tượng trưng cho một cơ hội quan phòng để lên đường đi tới những chân trời mới, không bị sa vào cám dỗ « để yên mọi sự như cũ » (Tông huấn Evangelii gaudium, 25). Sự tiếp xúc với Lời Thiên Chúa trong cầu nguyện và sự đọc những dấu chỉ thời gian trong những biến cố hàng ngày, sẽ làm cho anh chị em thấy được hơi thở sáng tạo của Thần Khí đang thổi xuống những đáp án cho những đợi chờ của nhân loại. Chúng ta không ai thoát khỏi việc sống ngày hôm nay trong một thế giới trong đó không còn gì như trước nữa. Nhân loại đang ở trong một vòng xoáy những biến đổi, chúng đặt lại vấn đề không chỉ là giá trị của những luồng văn hóa đã làm cho nó phong phú cho đến bây giờ, nhưng cả trong sự cấu tạo nội bộ của bản thể của nó. Thiên nhiên và vũ trụ, bị gắn chặt với sự đau đớn và với sự suy thoái vì những hành động của con người (x. Rm 8,20), đang có những nét thoái hóa. Anh chị em cũng được yêu cầu tìm ra những kiểu sống mới và những hình thức ngôn ngữ mới để loan truyền tình yêu của Đấng Chịu Đóng Đinh, bằng cách làm chứng căn tính của anh chị em với tấm lòng.

Về điều nay, tôi được biết những nghiên cứu mới đây trong tu nghị của anh chị em đã dẫn tới sự dấn thân và việc canh tân sứ vụ, bằng cách điều chỉnh lại ba tiến trình : tạ ơn, tiên tri và hy vọng. Sự biết ơn là trải nghiệm mà quá khứ đã sống trong thái độ của kinh Magnificat và đi tới tương lai trong một thái độ Thánh Thể. Lòng tạ ơn của anh chị em là hoa trái của ký ức sự thương khó (memoria passionis). Người chìm đắm trong sự chiêm niệm và dấn thân trong việc loan truyền tình yêu được ban cho chúng ta trên thập giá trở thành một sự nối dài của những điều đó trong lịch sử, và cuộc sống của người đó được thực hiện và hạnh phúc. Tiên tri, chính là suy nghĩ và nói lên trong Chúa Thánh Thần. Điều này có thể được cho người sống cầu nguyện như là hơi thở của linh hồn, và có thể đón nhận những tác động của Thánh Thần trong thầm kín của lòng mình và trong toàn thể công trình tạo dựng. Như thế, lời nói được đưa ra luôn được làm cho thích hợp với những nhu cầu của hiện tại. Mong rằng memoria passionis (ký ức sự thương khó) làm cho anh chị em thành những tiên tri của tình yêu của Đấng Chịu Đóng Đinh trong một thế giới đã mất đi ý nghĩa của tình yêu. Hy vọng, đó là hạt giống chết đi mang lại bông lúa cho 30, 60, 100%. Vấn đề là thấy rằng trong các cộng đoàn tu sĩ và giáo xứ, luôn thu hẹp hơn, nối tiếp hành động phát sinh của Thánh Thần, làm cho chúng ta chắc chắn về lòng thương xót của Chúa Cha, Đấng không bỏ rơi chúng ta. Hy vọng, chính là vui mừng vì cái đang hiện hửu, hơn là than vãn vì cái đã thiếu hụt. Trong mọi trường hợp, anh chị em đừng để « bị trộm mất niềm vui loan truyền Phúc Âm » (Tông huấn Evangelii gaudium, 83).

Tôi cầu mong các thành viên thuộc Viện của anh chị em có thể cảm thấy « được đánh dấu bởi lửa » (ibid., 273) trong sứ vụ bắt nguồn trong Memoria passionis (ký ức Khổ Nạn). Vị Sáng Lập của anh chị em, Thánh Phaolô Thánh Giá, định nghĩa Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu như là « một món quà tuyệt vời của tình yêu Thiên Chúa » (Letter II, 499). Ngài cảm thấy bị thiêu đốt trong tình yêu đó và ngài đã muốn đốt cháy thế giới bằng hoạt động truyền giáo cá nhân của ngài và của các bạn đồng hành với ngài. Hơn lúc nào hết, quan trọng là phải nhớ rằng « Sứ vụ là một sự thương khó đối với Chúa Giêsu, nhưng đồng thời, một sự thương khó của dân Người. Khi chúng ta dừng lại trước Chúa Giêsu chịu đóng đinh, chúng ta công nhận toàn bộ tình yêu của Người làm cho chúng ta xứng đáng và nâng đỡ chúng ta, đồng thời, nếu chúng ta không bị mù lòa, chúng ta bắt đầu thấy được ánh mắt  đầy thương yêu và nồng nhiệt của Chúa Giêsu nhìn rộng rãi và hướng tới toàn thể dân Người. Như thế, chúng ta tái khám phá ra rằng Người muốn dùng chúng ta để luôn gần gũi với dân thân yêu của Người. Người lấy chúng ta ra từ giữa dân Người để gửi chúng ta cho dân của Người, để cho căn tính của chúng ta không bị biết đến mà không có sự thống thuộc này » (Tông Huấn Evangelii gaudium, 268).

Trong lúc, như cái Đầu của chúng ta, Chúa chúng ta đã sống lại và Người sẽ không chết nữa, trong thân thể Người – vốn là mầu nhiệm Hội Thánh nhưng cũng là mầu nhiệm của hết mọi con người mà Người đã hiệp nhất bằng một cách nào đó trong sự  nhập thể (x. Hiến Chế Gaudium et spes, 22) – còn đau khổ và còn chết. Anh chị em đừng lơi là việc gia tăng sự dấn thân của mình cho những người bị đóng đinh của thời đại chúng ta : những người nghèo khó, những người yếu kém, những người bị áp bức và những người bị loại bỏ của nhiều hình thức bất công. Sự thực hiện nhiệm vụ này đòi hỏi về phía anh chị em một nỗ lực canh tân nội tâm  thành thật xuất phát từ quan hệ cá nhân với Đấng Chịu Đóng Đinh-Phục Sinh. Chỉ có người chịu đóng đinh vì tình yêu, như Chúa Giêsu trên thập giá, mới có khả năng cứu giúp những người bị đóng đinh của lịch sử với những lời lẽ và những hành động có hiệu quả. Quả là không thể nào thuyết phục được người khác về tình yêu của Thiên Chúa chỉ thông qua một sự loan báo bằng miệng và bằng thông tin. Phải có những cử chỉ cụ thể làm cho (đối tượng) trải nghiệm tình yêu đó trong tình yêu riêng của chính chúng ta được hiến tặng bằng cách chia sẻ những tình trạng bị đóng đinh, kể cả tận hiến sự sống của mình đến tận cùng, được hiểu rằng giữa sự loan truyền và sự tiếp nhận trong đức tin, có hành động của Chúa Thánh Thần.

Đức Mẹ của Đấng Chịu Dóng Đinh và Sống Lại, hình ảnh của Hội Thánh, Đức Trinh Nữ lắng nghe, cầu nguyện, cống hiến và ban sự sống, là ký ức thường xuyên về Chúa Giêsu, đặc biệt là Sự Khổ Nạn của Người. Tôi ký thác anh chị em cho Mẹ, và trong lúc khẩn xin sự cầu bầu của Vị Sáng Lập của anh chị em, Thánh Phaolô Thánh Giá, và các thánh và các chân phước của Dòng Khổ Nạn, tôi hết lòng ban Phép Lành Tòa Thánh cho toàn thể gia đình Khổ Nạn và những ai sẽ tham dự những lễ nghi của Năm Thánh trọng thể của anh chị em.

Rôma, Thánh Gioan Latran, ngày 15 tháng 10 năm 2020

PHANXICÔ

Traduction de Zenit, Anne Kurian-Montabone

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

https://fr.zenit.org/2020/11/19/iiie-centenaire-des-passionistes-prophetes-dans-un-monde-qui-perd-le-sens-de-lamour/

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Tam bách chu niên của các tu sĩ Dòng Thương Khó Chúa Giêsu – các ngôn sứ « trong một thế giới mất đi ý nghĩa của tình yêu »

« Đức Maria cầu nguyện và khẩn xin Con của Mẹ giải quyết vấn đề này »

« Đức Trinh Nữ Maria, người phụ nữ của cầu nguyện » (bản dịch đầy đủ)

NOVEMBRE 18, 2020 13:07 ANITA BOURDINAUDIENCE GÉNÉRALEMARIEPAPE FRANÇOIS

Triều kiến ngày 18/11/2020

Sự cầu nguyện của Đức Maria là thầm lặng (…) Sự hiện diện của Đức Maria tự bản thể đã là một lời cầu nguyện », Đức Giáo Hoàng Phanxicô giải thích trong Bài Giáo Lý mới này về cầu nguyện, hôm thứ tư 18/11/2020, từ thư viện riêng của Vatican. Nhưng ngài nói thêm : « Phúc Âm chỉ kể lại cho chúng ta mỗi một lần cầu nguyện của Đức Maria : đó là tại tiệc cưới ở Cana ».

Quả là Đức Giáo Hoàng đã đặc biệt dừng lại trên đoạn kể về Tiệc Cưới Cana (Gioan 2) để minh họa lời cầu bầu của Đức Trinh Nữ Maria : « Phúc Âm chỉ kể cho chúng ta một lần cầu nguyện của Đức Maria : tại Cana, khi Mẹ xin với Con mình, cho những người đáng tội nghiệp sắp gây ấn tượng xấu trong buổi tiệc cưới này. Chúng ta hãy mường tượng : tổ chức một bữa tiệc cưới và chấm dứt bằng sữa tươi bởi vì hết rượu ! Ấn tượng xấu biết chừng nào ! Và Mẹ cầu xin với Con mình giải quyết vấn đề đó. Sự hiện diện của Đức Maria tự bản thể đã là một lời cầu nguyện rồi ».

Theo Đức Giáo Hoàng, sự hiện diện thầm lặng của Đức Maria là sự hiện diện của « người mẹ » vốn cũng là « môn đệ », nghĩa là Mẹ để Đức Kitô hành động : « Một sự hiện diện thầm lặng của người mẹ và của người môn đệ. Đức Maria hiện diện bởi vì Mẹ là Mẹ, nhưng Mẹ cũng hiện diện bởi vì Mẹ là người môn đệ đầu tiên, người môn đệ đã học được những điều của Chúa Giêsu một cách tốt nhất. Đức Maria không bao giờ nói : « Anh em lại đây, tôi sẽ giải quyết mọi chuyện ». Nhưng Mẹ nói : « Anh em hãy làm những gì Người phán bảo anh em », Mẹ luôn chỉ Chúa Giêsu. Thái độ đó là đặc trưng của người môn đệ, và Mẹ là người môn đệ đầu tiên, Mẹ cầu nguyện như là người Mẹ và Mẹ cầu nguyện như là người môn đệ ».

Sau đây là bản dịch chính thức Bài Giáo Lý được Đức Giáo Hoàng Phanxicô được ban ra bằng tiếng Ý.

AB

Bài Giáo Lý – 15. Đức Trinh Nữ Maria, người phụ nữ của cầu nguyện

Thân chào Quý Anh Chị Em !

Trong hành trình các Bài Giáo Lý về cầu nguyện, ngày hôm nay chúng ta gặp gỡ với  Đức Trinh Nữ Maria, như người phụ nữ của cầu nguyện. Đức Trinh Nữ đã cầu nguyện. Khi thế gian còn chưa biết, khi Mẹ còn là một cô gái đơn sơ hứa hôn với một người thuộc dòng dõi Vua Đavid. Đức Maria cầu nguyện. Chúng ta có thể mường tượng người con gái thành Nazareth cầm trí trong thinh lặng, đối thoại thường xuyên với Thiên Chúa, Đấng sẽ sớm giao cho Mẹ sứ vụ của Mẹ. Khi đó Mẹ đã được đầy ơn phúc và được tinh tuyền vô nhiễm từ lúc được thụ thai, nhưng Mẹ vẫn chưa biết được ơn gọi bất ngờ và phi thường của mình và biển cả phong ba mà Mẹ sẽ phải vượt qua. Một điều chắc chắn : Đức Maria thuộc nhóm lớn những người khiêm nhường trong lòng mà các sử gia chính thức không điền vào sách vở của mình, nhưng với những điều đó Thiên Chúa đã chuẩn bi cho Con của Người ngự đến.

Đức Maria không tự ý hướng dẫn cuộc đời của mình : Mẹ đợi Thiên Chúa cầm cương trên con đường của Mẹ và dẫn dắt Mẹ đi tới nơi mà Người muốn. Mẹ ngoan hiền, và với sự sẵn sàng này, Mẹ dọn đường cho những biến cố lớn mà Thiên Chúa can dự vào thế gian. Sách Giáo Lý Của Hội Thánh Công Giáo nhắc nhở chúng ta sự hiện diện liên tục và đầy quan tâm của Mẹ trong chương trình nhân lành của Chúa Cha và trong suốt cuộc đời của Chúa Giêsu (x. SGL s. 2017-2018).

Khi Đức Maria đang cầu nguyện, thì tổng lãnh thiên thần Gabriel đến truyền tin ở Nazareth. Lời thưa ‘‘Tôi đây’’, nhỏ bé nhưng mênh mông, khi đó đã làm tất cả công trình tạo dựng nhẩy nhót vui mừng, đã được đi trước trong lịch sử cứu độ bởi nhiều lời thưa ‘‘tôi đây’’ khác, bởi nhiều những sự tuân phục đầy tin cậy, bởi nhiều sự sẵn sàng tuân theo thánh ý Thiên Chúa. Không có cách nào tốt hơn để cầu nguyện, như Đức Maria, là tự đặt mình trong một thái độ cởi mở, mở rộng lòng ra với Thiên Chúa : ‘‘Lậy Chúa, bất cứ điều gì Chúa muốn, bất cứ khi nào Chúa muốn và bất cứ Chúa muốn như thế nào’’. Nghĩa là mở rộng tấm lòng ra với thánh ý của Thiên Chúa.

Và Thiên Chúa luôn đoái nhận. Có biết bao các tín hữu đã sống như thế trong sự cầu nguyện của họ ! Những người có lòng khiêm nhượng trong lòng nhất cầu nguyện như thế, với lòng khiêm nhượng thiết yếu, chúng ta có thể nói như vậy ; với một lòng khiêm nhượng đơn sơ : « Lậy Chúa, bất cứ điều gì Chúa muốn, bất cứ khi nào Chúa muốn và bất cứ Chúa muốn như thế nào’’. Và những người đó cầu nguyện như thế, bằng cách không hề giận dữ bởi vì ngày tháng đầy những vấn đề, nhưng bằng cách đi tới thực tế và bằng cách biết rằng trong tình yêu khiêm nhượng, trong tình yêu hiến tặng trong mỗi tình trạng, chúng ta trở thành các khí cụ ân sủng của Thiên Chúa. Lậy Chúa, bất cứ điều gì Chúa muốn, bất cứ khi nào Chúa muốn và bất cứ Chúa muốn như thế nào. Một kinh cầu đơn giản, nhưng chính là đặt cuộc đời chúng ta trong tay của Chúa : mong rằng chính Người sẽ hướng dẫn chúng ta. Tất cả chúng ta có thể cầu nguyện như thế, gần như không thành tiếng.

Cầu nguyện biết làm dịu lo âu : nhưng, chúng ta đều lo âu, chúng ta luôn mong muốn những chuyện trước khi cầu xin chúng và chúng ta muốn chúng ngay lập tức. Mối lo đó làm khổ chúng ta, và cầu nguyện biết xoa dịu lo âu, nó biết biến lo âu thành sự sẵn sàng. Khi tôi lo lắng, tôi cầu nguyện và sự cầu nguyện mở lòng tôi ra và làm cho tôi sẵn sàng tuân phục thánh ý Thiên Chúa. Đức Trinh Nữ Maria, trong những giây phút Truyền Tin, đã biết xua đi sợ hãi, trong lúc Mẹ tiên liệu những gì sẽ xẩy ra mà câu ‘‘xin vâng’’ của Mẹ sẽ đưa đến cho Mẹ những thử thách rất khắc nghiệt. Nếu, trong cầu nguyện, chúng ta hiểu rằng mỗi ngày hiến dâng cho Thiên Chúa là một ơn gọi, như thế chúng ta mở rộng tấm lòng chúng ta và chúng ta tiếp nhận mọi sự.

Người ta học thưa rằng ; ‘‘Lậy Chúa, Bất cứ điều gì Chúa muốn. Xin Chúa hứa với con rằng Chúa sẽ hiện diện trên mỗi bước đường con đi’’. Điều đó là quan trọng : cầu xin với Chúa sự hiện diện của Người trên mỗi bước đường chúng ta đi : Cầu xin Người không bỏ chúng ta một mình, cầu xin Người đừng bỏ chúng ta trong cơn cám dỗ, cầu xin Người đừng bỏ chúng ta trong những lúc tồi tệ. Mục đích của Kinh Lậy Cha là như thế này : ơn phúc của chính Chúa Giêsu đã dạy chúng ta cầu xin với Chúa.

Đức Maria đồng hành trong suốt cuộc đời của Chúa Giêsu, đến tận khi Người chết và sống lại ; và sau cùng Mẹ tiếp tục, Mẹ đồng hành những bước đầu tiên của Hội Thánh còn non trẻ (x. Cv 1,14). Đức Maria cầu nguyện cùng với các môn đệ đã trải qua cơn nhục nhằn thập giá. Mẹ cầu nguyện với thánh Phêrô, người đã sa ngã vì sợ hãi và đã ăn năn hối cải. Đức Maria ở đó, với các môn đệ ở giữa các người nam và nữ mà Con Mẹ đã kêu gọi để hình thành cộng đoàn của Người. Đức Maria không thủ vai trò của một linh mục giữa họ, không ! Mẹ là Mẹ Chúa Giêsu, Mẹ cầu nguyện với họ và cầu nguyện cho họ. Và, lại nữa, lời cầu nguyện của Mẹ đi trước tương lai sẽ thể hiện : nhờ công trình của Thần Khí, Mẹ đã trở thành Mẹ của Thiên Chúa, và nhờ công trình của Thần Khí, Mẹ trở thành Mẹ của Hội Thánh.

Bằng cách cầu nguyện với Hội Thánh non trẻ, Mẹ trở thành Mẹ của Hội Thánh, Mẹ đồng hành với các môn đệ trong những bước đầu tiên của Hội Thánh trong cầu nguyện, trong khi chờ đợi Thần Khí. Trong thầm lặng, luôn trong thầm lặng. Lời cầu nguyện của Đức Maria là thầm lặng. Phúc Âm chỉ kể cho chúng ta có một lời kinh của Đức Maria : tại Cana, khi Mẹ khẩn xin Con Mẹ, cho những người đáng tội nghiệp sắp gây ấn tượng xấu trong buổi tiệc cưới này. Chúng ta hãy mường tượng : tổ chức một bữa tiệc cưới và chấm dứt bằng sữa tươi bởi vì hết rượu ! Ấn tượng xấu biết chừng nào ! Và Mẹ cầu xin với Con mình giải quyết vấn đề đó. Sự hiện diện của Đức Maria tự bản thể đã là một lời cầu nguyện rồi, và sự hiện diện của Mẹ ở giữa các môn đệ trong Nhà Tiệc Ly, trong khi chờ đợi Thần Khí, là đang cầu nguyện. Như thế, Đức Maria làm cho Hội Thánh sinh ra, Mẹ là Mẹ của Hội Thánh. Sách Giáo Lý giải thích : « Hồng ân của Thiên Chúa – nghĩa là Thần Khí – được đón nhận nơi lòng tin của người nữ tỳ khiêm tốn của Ngài, sự đón nhận mà Ngài đã đợi chờ từ lúc khởi sự thời gian » (SGL, s.2617)

Nơi Đức Trinh Nữ Maria, sự trực giác tự nhiên của nữ giới được gia tăng bởi sự hiệp nhất rất đặc biệt của Mẹ với Thiên Chúa trong cầu nguyện. Bởi thế, khi đọc Phúc Âm chúng ta ghi nhận đôi khi dường như Mẹ biến mất, để rồi sau đó mẹ tái xuất hiện loáng thoáng trong những giờ phút then chốt : Đức Maria đã mở ra cho tiếng nói của Thiên Chúa dẫn dắt lòng Mẹ, dẫn dắt bước đi của Mẹ tới nơi cần có sự hiện diện của Mẹ. Một sự hiện diện thầm lặng của người Mẹ và của người môn đệ. Đức Maria hiện diện vì Mẹ là Mẹ, nhưng Mẹ cũng hiện diện vì Mẹ là người môn đệ đầu tiên, người đã học những điều của Chúa Giêsu một cách tốt nhất. Đức Maria không bao giờ nói : « Anh em lại đây, tôi sẽ giải quyết mọi chuyện ». Nhưng Mẹ nói : « Anh em hãy làm những gì Người phán bảo anh em », Mẹ luôn chỉ Chúa Giêsu. Thái độ đó là đặc trưng của người môn đệ, và Mẹ là người môn đệ đầu tiên, Mẹ cầu nguyện như là người Mẹ và Mẹ cầu nguyện như là người môn đệ.

« Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng » (Lc 2,19). Chính như thế mà thánh sử gia Luca đã mô tả Mẹ của Chúa trong Phúc Âm của tuổi thơ. Tất cả những gì xẩy ra chung quanh Mẹ, kết cuộc cũng có một phản ánh trong sâu thẳm tâm hồn mẹ : những ngày tràn niềm vui, cũng như những lúc đen tối nhất, khi Mẹ cũng khó mà hiểu được con đường mà sự Cứu Chuộc phải đi qua. Tất cả đã kết thúc trong lòng Mẹ, để rồi được đãi lọc trong cầu nguyện và được hiển linh bởi cầu nguyện.

Dù là những cống phẩm của Ba Vua, hay là cuộc trốn chạy sang Ai Cập, đến cái ngày thứ sáu thương khó khủng khiếp : Mẹ giữ gìn tất cả và mang tất cả vào trong cuộc đối thoại với Thiên Chúa. Có người đã so sánh trái tim của Đức Maria với một viên trân châu rực rỡ vô song, được hình thành và mài rũa bởi sự kiên trì đón nhận thánh ý Thiên Chúa thông qua những mầu nhiệm của Chúa Giêsu được suy ngẫm trong cầu nguyện. Sẽ thật tốt đẹp nếu chúng ta cũng có thể giống Mẹ chúng ta đôi chút ! Với trái tim mở ra với lời của Thiên Chúa, với trái tim thầm lặng, với trái tim vâng phục, với trái tim biết nhận lấy Lời của Thiên Chúa và để cho lời đó lớn lên với sự gieo mầm điều thiện của Hội Thánh.

© Librairie éditrice du Vatican

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

https://fr.zenit.org/2020/11/18/marie-prie-et-demande-a-son-fils-de-resoudre-ce-probleme-traduction-complete/

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở « Đức Maria cầu nguyện và khẩn xin Con của Mẹ giải quyết vấn đề này »

Bài Giáo Lý bằng tiếp Pháp « Đức Maria, trong đối thoại thường xuyên với Thiên Chúa »

« Cầu nguyện làm dịu đi nỗi lo âu, biến nó thành sự sẵn sàng »

NOVEMBRE 18, 2020 10:22 ANITA BOURDINAUDIENCE GÉNÉRALEMARIEPAPE FRANÇOIS

Triều kiến ngày 18 tháng 11 năm 2020

« Đức Maria, người phụ nữ của cầu nguyện » : đó là chủ đề của Bài Giáo Lý hàng tuần mới này của Đức Giáo Hoàng Phanxicô về cầu nguyện, hôm thứ tư 18/11/2020, từ thư viện riêng của dinh giáo hoàng tại Vatican, vì lý do những hạn chế về y tế.

Đức Giáo Hoàng đã nhấn mạnh « sự đối thoại » của Đức Trinh Nữ Maria với Thiên Chúa : « Đức Maria, cô thiếu nữ thành Nazareth, cô thường xuyên đối thoại với Thiên Chúa, cô đầy ơn phúc và tinh tuyền vô nhiễm ngay từ lúc thụ thai ».

Đức Giáo Hoàng đã nhấn mạnh « sự ngoan hiền » thiêng liêng và sự « sẵn sàng » đặc trưng của Mẹ như những điều kiện cần thiết để hoàn tất ơn gọi của Mẹ, ơn gọi vốn có tầm kích, có thể nói là hoàn vũ : « Với lòng ngoan hiền và sẵn sàng, Mẹ đã chuẩn bị những biến cố có sự can dự của Thiên Chúa trên thế gian này. Tiếng ‘‘Xin Vâng’’ nhỏ bé nhưng mênh mông, làm cho toàn vũ trụ nhẩy mừng ».

Đức Giáo Hoàng dặn dò những người đã chịu phép Rửa cần phải có sự « mở lòng ra » giống như thế trong cầu nguyện : « Không có cách nào cầu nguyện tốt hơn cách giống như Đức Maria trong một thái độ mở rộng lòng mình ra ».

Theo Đức Giáo Hoàng, thái độ đó biến đổi người cầu nguyện : « Cầu nguyện biết làm dịu nỗi lo âu, biến nó thành sự sẵn sàng ».

Đức Giáo Hoàng cũng đã nhấn mạnh tầm vóc tình mẫu tử của Đức Maria đã nở ra theo chiều kích của nhân loại ». Bằng lời cầu nguyện, Đức Maria đồng hành với suốt cuộc đời của Chúa Giêsu, đến tận khi Người chết và sống lại ; và sau cùng, Mẹ đồng hành lúc ban đầu với Hội Thánh còn non trẻ. Sự cầu nguyện của Mẹ đi trước tương lai : nhờ công trình của Chúa Thánh Thần, Mẹ trở thành Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ Hội Thánh ».

« Nơi Đức Trinh Nữ Maria, trực giác tự nhiên của nữ giới được gia tăng bởi sự hiệp nhất rất đặc biệt với Thiên Chúa trong cầu nguyện. Chính là tiếng nói của Thiên Chúa đã dẫn dắt những bước đi của Mẹ tới chỗ mà người ta cần đến sự hiện diện của Mẹ. Đức Maria gìn giữ tất cả trong lòng và cưu mang tất cả trong cuộc đối thoại với Thiên Chúa », Đức Giáo Hoàng đã kết luận.

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit. 

https://fr.zenit.org/2020/11/18/catechese-en-francais-marie-en-dialogue-permanent-avec-dieu/

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài Giáo Lý bằng tiếp Pháp « Đức Maria, trong đối thoại thường xuyên với Thiên Chúa »

JMJ 2023 – Lễ trao Thánh Giá và Ảnh Tượng Đức Mẹ Maria ngày 22 tháng 11

Trong một Thánh Lễ với Đức Giáo Hoàng Phanxicô

NOVEMBRE 17, 2020 15:03 ANNE KURIAN-MONTABONEPAPE FRANÇOISROME

Thánh Giá JMJ

Giới trẻ Bồ Đào Nha sẽ nhận lãnh những biểu tượng của Ngày Giới Trẻ Thế Giới, JMJ, gồm Thánh Giá và ảnh tượng Đức Mẹ Maria vào ngày 22/11/2020, trong một Thánh Lễ được cử hành bởi Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhân ngày lễ kính Đức Kitô Vua Vũ Trụ.

Cuối Thánh Lễ trong Đền Thánh Phêrô, những người trẻ của Panama, nơi đã tổ chức ngày JMJ năm 2019, sẽ long trọng trao lại những biểu tượng này cho những người trẻ của Lisboa, nơi dự trù sẽ tổ chức JMJ cho năm 2023.

Vì lý do những biện pháp y tế hiện giờ, bản thông cáo của Thánh Bộ về Giáo Dân, Gia Đình và Sự Sống, chỉ có một phái đoàn nhỏ của hai quốc gia này sẽ hiện diện. Theo truyền thống, cử chỉ này vẫn thường được thực hiện trong ngày Lễ Lá, nhưng năm nay, nó đã được hoãn lại vì lý do đại dịch.

Truyền thống của các biểu tượng của JMJ có từ năm 1984, trong lễ bế mạc Năm Thánh Ơn Cứu Chuộc (năm 1983, để mừng năm thứ 1950 Ơn Cứu Chuộc), ĐGH Gioan Phaolô II đã gửi gấm cho giới trẻ cây thánh giá của Năm Thánh. Rồi đến năm 2003, ngài đã hiến tặng một bản sao của ảnh tượng Đức Maria Cứu Độ Dân La Mã (« salus populi romani ») rất được dân Rôma kính chuộng. Ảnh tượng, được đặc biệt  thờ kính trong Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Cả từ thế kỷ thứ 13. Tương truyền rằng ảnh tượng này đã được chính thánh sử giá Luca vẽ.

Thánh Lễ sẽ được trực tiếp truyền hình trên kênh Youtube của Vatican News. Từ ngày 18 đến ngày 21/11 này, những người trách nhiệm mục vụ giới trẻ của các Hội Đồng Giám Mục và các phong trào quốc tế sẽ gặp nhau trên mạng cho cuộc gặp gỡ mệnh danh là « Từ Panama đến Bồ Đào Nha – được ơn gọi cho công đồng truyền giáo »

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

https://fr.zenit.org/2020/11/17/jmj-2023-remise-de-la-croix-et-de-licone-de-marie-le-22-novembre/

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở JMJ 2023 – Lễ trao Thánh Giá và Ảnh Tượng Đức Mẹ Maria ngày 22 tháng 11

« Chính Chúa Giêsu đã dạy phải nói chuyện với người nghèo »

Ngày thế giới người nghèo (bản dịch đầy đủ)

NOVEMBRE 15, 2020 17:49 ANITA BOURDINANGÉLUSPAPE FRANÇOIS

Kinh Truyền Tin ngày 15/11/2020

« Thưa Quý Anh Chị Em, mong rằng mỗi người nói trong thâm tâm mình điều mà Chúa Giêsu phán với chúng ta ngày hôm nay, mong rằng mỗi người nhắc lại trong tâm hồn của mình : « Con hãy đưa tay ra cho người nghèo ». Và Chúa Giêsu còn phán với chúng ta điều khác nữa : « Con biết không, người nghèo, chính là Thầy đây ». Chúa Giêsu phán với chúng ta điều này ; « Người nghèo, chính là Thầy », Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã giải thích khi bình giảng bài Phúc Âm các yến bạc, ngày chúa nhật 15/11/2020, Ngày thế giới người nghèo.

« Anh chị em hãy coi đây, người nghèo ở trung tâm của Phúc Âm ; chính Chúa Giêsu đã dạy cho chúng ta nói chuyện với người nghèo, chính Chúa Giêsu đã đến vì người nghèo. Con hãy đưa tay ra cho người nghèo. Con đã nhận được nhiều thứ và con để cho anh chị em con chết đói sao ? » Đức Giáo Hoàng đã nhấn mạnh.

Sau đây là bản dịch nhanh những lời của Đức Giáo Hoàng.

AB

Lời Đức Giáo Hoàng Phanxicô trước Kinh Truyền Tin.

Thân chào Quý Anh Chị Em !

Trong ngày chúa nhật trước chúa nhật sau cùng của năm phụng vụ, bài Phúc Âm trình bầy dụ ngôn nổi tiếng về các yến bạc (x. Mt 25, 14-30). Nó là thành phần bài giảng của Chúa Giêsu về thời kỳ viên mãn, vốn xẩy ra trước cuộc thương khó, trước cái chết và trước sự phục sinh của Người. Dụ ngôn kể chuyện một chủ tử giầu sang phải đi xa và dự trù sẽ vắng mặt một thời gian dài, ông bèn gửi gấm của cải cho ba tên đầy tớ của ông ; người thứ nhất ông gửi 5 yến bạc, người thứ nhì 2 yến, người thứ ba 1 yến. Chúa Giêsu xác định răng sự phân chia được tiến hành « tùy theo khả năng riêng mỗi người » (c.15). Đó cũng là điều mà Chúa đã làm đối với tất cả chúng ta : Người biết rõ chúng ta, Người biết rằng chúng ta không giống nhau và Người không muốn ưu đãi người này gây thiệt hại cho người kia, nhưng Người gửi gấm cho mỗi người một vốn liếng tùy theo khả năng của người đó.

Trong lúc ông chủ vắng mặt, hai người đầy tớ đầu đã vất vả, đến độ sinh lợi gấp đôi ngân khoản đã được giao cho hai người. Thế nhưng với người đầy tớ thứ ba thì sự kiện không giống như vậy, anh ta đã chôn dấu yến bạc của mình dưới một hố sâu : để tránh rủi ro, anh ta để ở đó, tránh tai mắt bọn ăn trộm, nhưng không làm cho nó sinh lợi. Vào lúc ông chủ trở về, ông ta cho gọi các đầy tớ đến trình việc. Hai người đầu trình lên kết quả tốt của sự dấn thân của họ, họ đã làm việc và ông chủ đã khen ngợi họ, thưởng công cho họ và mời họ dự tiệc chia vui với ông ta. Trong lúc đó, người đầy tớ thứ ba tự nhận thấy mình có lỗi,  bắt đầu ngay việc biện hộ cho mình và nói : « Thưa ông chủ, tôi biết ông là người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi. Vì thế, tôi đâm sợ, mới đem chôn giấu yến bạc của ông dưới đất : Của ông đây, ông cầm lấy » (c.24-25). Hắn tự biện hộ cho sự lười biếng bằng cách tố cáo chủ tử của mình là người « hà khắc ». Đó là một thói quen mà chúng ta cũng có : chúng ta tự biện hộ, quá nhiều khi, bằng cách tố cáo người khác. Nhưng họ không hề có lỗi : chính chúng ta là trẻ con, lỗi lầm đến từ chúng ta. Và tên đầy tớ này đổ tội cho người khác, đổ tội cho chủ tử của mình để tự biện hộ. Chúng ta cũng vậy, nhiều khi chúng ta cũng làm như thế. Vì thế, ông chủ trừng phạt hắn : ông ta gọi hắn là một tên đầy tớ « tồi tệ và biếng nhác » (c.26) ; ông cho lấy lại yến bạc của hắn và cho đuổi hắn ra khỏi nhà ông.

Dụ ngôn này có giá trị cho hết thẩy mọi người, nhưng như mọi khi, nhất là cho các Kitô hữu. Ngày hôm nay cũng thế, đó là thời sự : ngày hôm nay, vốn là Ngày người nghèo, trong đó Hội Thánh nói với chúng ta, là những Kitô hữu : « Hãy đưa tay ra cho người nghèo. Hãy đưa tay ra cho người nghèo.  Bạn không phải một mình trên đời : có những người đang cần đến bạn. Bạn đừng ích kỷ, bạn hãy đưa tay ra cho người nghèo ». Tất cả chúng ta đã lãnh nhận từ Thiên Chúa một « gia sản » với tư cách là những con người, một sự giầu có của con người, bất kể nó là gì. Và với tư cách là những môn đệ của Đức Kitô, chúng ta cũng lãnh nhận đức tin, Phúc Âm, Thần Khí, các bí tích và nhiều thứ khác nữa. Những ơn đó phải được sử dụng để làm điều thiện, để làm điều thiện trên cõi đời này, như một sự phụng sự Thiên Chúa và phục vụ anh em. Và ngày hôm nay, Hội Thánh nói với bạn, nói với chúng ta : « Hãy sử dụng những gì Thiên Chúa ban cho và hãy nhìn đến những người nghèo khó. Hãy nhìn kìa : có bao nhiêu người nghèo ; kể cả trong các thanh phố của chúng ta, ở ngay trung tâm thành phố của chúng ta, họ rất đông. Hãy làm việc thiện ! ».

Đôi khi chúng ta nghĩ rằng là người Kitô hữu chính là không được làm điều ác. Và không làm điều ác là tốt. Nhưng không làm điều thiện thì không tốt. Chúng ta phải làm điều thiện, phải bước ra khỏi chúng ta và quan sát, nhìn đến những người đang có nhu cầu nhiều nhất. Có nhiều sự đói khát, kể cả ở ngay giữa thành phố của chúng ta, và nhiều khi chúng ta đi vào trong cái lôgíc của sự vô cảm : những người nghèo đang ở đó, và chúng ta lại ngoảnh mặt nhìn đi chỗ khác. Hãy đưa tay ra cho người nghèo : đó là Đức Kitô. Có nhiều người nói rằng : « Nhưng các linh mục, các giám mục đó chỉ nói về những người nghèo, những người nghèo… Chúng tôi muốn các ngài nói với chúng tôi về đời sống vĩnh cửu ! ». Thưa Quý Anh Chị Em, những người nghèo ở trong trung tâm của Hội Thánh : đó là Chúa Giêsu đã dạy chúng ta hãy nói chuyện với người nghèo, chính Chúa Giêsu đã xuống thế cho người nghèo. Hãy đưa tay ra cho người nghèo. Bạn đã nhận được biết bao chuyện và bạn bỏ người anh chị em của bạn chết đói sao ?

Quý Anh Chị Em thân mến, mong rằng mỗi người có thể nói trong thâm tâm mình điều mà Chúa Giêsu phán với chúng ta ngày hôm nay, mong rằng chúng ta hãy nhắc lại trong thâm tâm mình  rằng : « Hãy đưa tay ra cho người nghèo ». Và Chúa Giêsu còn nói với chúng ta một chuyện khác nữa : « Con biết không, người nghèo, chính là Thầy đó » Chúa Giêsu phán với chúng ta điều này : « Người nghèo, chính là Thầy đó ».

Đức Trinh Nữ Maria đã nhận được phúc lớn : đó là đích thân Chúa Giêsu, nhưng Mẹ đã không giữ Người riêng cho Mẹ, Mẹ đã đưa ra cho thế gian, cho dân tộc của Mẹ. Chúng ta hãy học hỏi Mẹ đưa tay ra cho người nghèo.

(c) Traduction de Zenit, Anita Bourdin

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

https://fr.zenit.org/2020/11/15/cest-jesus-qui-nous-a-appris-a-parler-aux-pauvres-traduction-complete/

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở « Chính Chúa Giêsu đã dạy phải nói chuyện với người nghèo »

Ngày thế giới người nghèo – « Không có người nghèo người ta không hiểu Phúc Âm »

« Sự phục vụ làm các yến bạc sinh hoa trái và cho đời sống có ý nghĩa »

NOVEMBRE 15, 2020 14:34 ANITA BOURDINPAPE FRANÇOIS

Ngày thế giới người nghèo 2020

« Sự phục vụ làm sinh lợi những yến bạc và cho đời sống có ý nghĩa », Đức Giáo Hoàng Phanxicô giải thích khi bình giảng dụ ngôn các yến bạc được đọc trong Thánh Lễ chúa nhật 15/11/2020, nhân Ngày thế giới người nghèo lần thứ IV. Nó có chủ đề « Đưa tay ra cho người nghèo »

Đức Giáo Hoàng đã cử hành Thánh Lễ này trong Đền Thánh Phêrô, trên bàn thờ của Ngai Tòa Thánh Phêrô, với sự hiện diện của chỉ khoảng 100 người đại diện cho người nghèo trên toàn thế giới. Bên cạnh ngài, có vị Chủ Tịch Hội đồng giáo hoàng về tái truyền giảng Phúc Âm, Đức Cha Rino Fisichella. Hội đồng đã công bố một cuốn sách nhỏ hướng dẫn việc theo dõi ngày hôm nay.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô quả đã lưu ý rằng « không có người nghèo, người ta không hiểu được Phúc Âm ».

Trái với người đầy tớ của dụ ngôn, kẻ đã sợ và đã đem chôn yến bạc của mình, Đức Giáo Hoàng Phanxicô mời gọi phải biết chấp nhận rủi ro để « trung thành » và ngài nhấn mạnh : « Chúa mời gọi chúng ta hãy rộng rãi đặt cược, hãy thắng sự sợ hãi bằng lòng can đảm của tình yêu, hãy vượt lên tính thụ động vốn trở thành đồng lõa. Ngày hôm nay trong những thời gian bất trắc, trong những thời kỳ mỏng giòn, chúng ta đừng lãng phí cuộc đời khi chỉ nghĩ đến chính chúng ta, với thái độ thờ ơ này ».

Đức Giáo Hoàng đã đề xuất « ơn cần cầu xin » : « Chúng ta hãy cầu xin ơn đừng chỉ là những Kitô hữu bằng lời nói, mà còn phải là trong hành động. Để mang lại hoa trái, như Chúa Giêsu mong muốn ».

Sau đây là bản dịch chính thức, từ tiếng Ý, bài giảng của Đức Giáo Hoàng Phanxicô.

AB

Bài giảng của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Dụ ngôn mà chúng ta vừa nghe có một mở đầu, một đoạn giữa và một kết cục, soi sáng lúc khởi đầu, lúc giữa và lúc cuối cuộc đời của chúng ta.

Lúc đầu. Tất cả khởi sự bởi một điều tốt lành vĩ đại : ông chủ không giữ của cải cho riêng mình, nhưng ông đã chia cho các đầy tớ : người năm yến, kẻ ba yến, kẻ một yến bạc, « tùy khả năng riêng mỗi người » (Mt 25,15). Đã tính ra chỉ một yến bạc cũng tương đương với lương tháng của khoảng hai chục năm làm việc : đó quả đã là một tài sản dư dật, vào thời đó có thể sinh sống cả đời. Đó là đoạn đầu : đối với chúng ta cũng thế, tất cả đã khởi sự với ơn của Thiên Chúa – tất cả, luôn luôn, bắt đầu bằng ơn phúc, chứ không phải bằng sức mạnh – bằng ơn của Thiên Chúa là Cha và Người đã trao vào tay chúng ta nhiều của cải, gửi gấm cho chúng ta mỗi người nhiều yến bạc. Chúng ta là những người mang một sự giầu sang lớn lao, vốn không tùy thuộc vào tất cả những gì có trong chúng ta, nhưng tùy thuộc vào chúng ta là ai ; từ sự sống nhận được, từ của cải đã có nơi chúng ta, từ vẻ đẹp không thể loại bỏ mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta, bởi vì chúng ta là hình ảnh của Người, mỗi người trong chúng ta là quý giá dưới mắt Người, mỗi người trong chúng ta là duy nhất và không thay thế được trong lịch sử. Chính như thế mà Thiên Chúa nhìn nơi chúng ta, mà Thiên Chúa coi trọng chúng ta.

Cũng thật là quan trọng để nhắc nhở điều này : quá nhiều khi, lúc nhìn vào cuộc đời chúng ta, chúng ta chỉ thấy cái gì chúng ta thiếu và chúng ta than phiền vì những cái thiếu đó. Lúc đó, chúng ta sa vào cám dỗ của cái « phải chi !… » : Phải chi tôi có việc làm này, phải chi tôi có căn nhà kia, phải chi tôi có tiền và được thành công, phải chi tôi không bị vấn đề đó, phải chi tôi có được những người khá hơn chung quanh tôi !… Nhưng ảo ảnh của cái « phải chi » ngăn cản chúng ta nhìn thấy cái tốt và làm cho chúng ta quên đi những yến bạc mà chúng ta có. Phải, bạn không có cái này, nhưng bạn có cái kia, và cái « phải chi » làm cho chúng ta quên mất nó. Nhưng Thiên Chúa đã gửi gấm chúng cho chúng ta bởi vì Người biết từng người trong chúng ta và Người biết chúng ta có khả năng gì ; Người tin tưởng chúng ta, bất chấp những yếu mềm của chúng ta. Người cũng đặt tin tưởng vào cái kẻ đầy tớ sẽ chôn dấu yến bạc : Thiên Chúa mong muốn rằng, mặc dù những sợ hãi của hắn, hắn cũng sẽ sử dụng tốt những gì hắn đã nhận được. Tóm lại, Chúa yêu cầu chúng ta sử dụng thời gian hiện tại mà không luyến tiếc quá khứ, nhưng trong sự chờ đợi chủ động sự trở lại của Người. Hoài cổ là xấu biết bao, nó giống như một lối cười gượng, cười ra nước mắt, đầu độc tâm hồn và khiến tâm hồn luôn nhìn về phía sau, luôn nhìn những người khác, nhưng không bao giờ nhìn vào chính đôi bàn tay của mình, những khả năng hành động mà Chúa đã ban cho chúng ta, tình trạng của chúng ta,… và cả sự nghèo khó của chúng ta.

Như thế, chúng ta đã đến phần giữa của dụ ngôn : đó là công trình của các đầy tớ, nghĩa là sự phục vụ. Sự phục vụ cũng là công trình của chúng ta, điều làm các yến bạc sinh hoa trái và cho đời dống một ý nghĩa : Quả vậy, thật không có ích gì để sống đối với kẻ chỉ sống riêng cho mình, không sống để phục vụ. Chúng ta phải nhắc lại và thường phải nhắc lại : thật không có ích gì để sống đối với kẻ không sống để phục vụ. Chúng ta phải suy niệm điều này : thật không có ích gì để sống đối với kẻ không sống để phục vụ. Nhưng kiểu cách phục vụ là thế nào ? Trong Phúc Âm, những đầy tớ tốt là những kẻ chấp nhận rủi ro. Họ không thận trọng và nghi ngờ, họ không giữ lại những gì họ đã nhận được, mà sử dụng chúng.  Bởi vì của cải, nếu nó không được đầu tư, sẽ bị mất đi ; bởi vì sự cao cả của cuộc đời chúng ta không tùy thuộc vào những gì chúng ta để dành, mà tùy thuộc hoa trái mà chúng ta cưu mang. Biết bao người cả cuộc đời chỉ lo tích lũy, chỉ nghĩ tới sự sung túc hơn là tới sự làm việc thiện. Nhưng vì nó trống rỗng một cuộc đời chỉ chạy theo những nhu cầu, không nhìn tới người có nhu cầu ! Nếu chúng ta có những quà tặng, chính là để chúng ta là những quà tặng cho những người khác. Và ở đấy, thưa Quý Anh Chị Em, chúng ta tự đặt câu hỏi : tôi có chỉ chạy theo những nhu cầu không, hay là tôi có khả năng nhìn thấy người có nhu cầu ? Nhìn thấy người đang ở trong tình trạng khốn cùng ? Bàn tay tôi có như thế này [ngài đưa bàn tay xòe ra] hay như thế này [ngài đưa bàn tay nắm lại] ?

Phải nhấn mạnh rằng các đầy tớ đã đầu tư, đã mạo hiểm, đã được bốn lần gọi là « trung thành » (c. 21.23). Theo Phúc Âm, không có sự trung thành mà không có rủi ro, ‘‘Nhưng, thưa Cha, là Kitô hữu có nghĩa là mạo hiểm sao ?’’ – ‘‘Đúng, phải mạo hiểm. Nếu bạn không mạo hiểm, bạn sẽ kết cục như tên đầy tớ thứ ba : bằng cách chôn dấu các khả năng của bạn, các của cải tinh thần, vật chất của bạn, tất cả’’. Mạo hiểm : không có sự trung thành nếu không có mạo hiểm. Trung thành với Thiên Chúa chính là hao tổn cuộc đời, chính là để các chương trình của mình bị đảo lộn bởi phục vụ. ‘‘Tôi có dự án này, nhưng nếu tôi phục vụ’’… Hãy để cho dự án bị xáo trộn, và bạn, thì hãy phục vụ đi. Thật là buồn khi một người Kitô hữu lại giữ thế thủ, chỉ gắn liền với sự tuân giữ các lề luật và tôn trọng các điều răn. Những Kitô hữu ‘‘chừng mực’’ đó không hề bước chân ra khỏi lề luật, không bao giờ, bởi vì họ sợ sự rủi ro. Và những người này, tôi mạn phép tưởng tượng, những người này tự lo cho bản thân kiểu này đến độ không bao giờ dám mạo hiểm, những người này bắt đầu trong cuộc đời họ một tiến trình ướp xác tâm hồn mình, và kết cục trở thành những xác ướp. Điều này không đủ, tuân giữ các lề luật là không đủ ; sự trung thành với Chúa Giêsu không phải chỉ là không phạm lầm lỗi, điều đó là tiêu cực. Chính như thế mà người đầy tớ lười biếng trong dụ ngôn đã suy nghĩ : mất đi óc sáng kiến và óc sáng tạo, anh ta trốn sau một sự sợ hãi vô ích và đem chôn yến bạc đã nhận được. Ông chủ định nghĩa người đó là « xấu » (c.2).Tuy rằng anh ta chẳng làm điều gì xấu ! Phải, nhưng anh ta cũng đã chẳng làm điều gì tốt. Anh ta đã chọn cách phạm tội bởi thiếu sót còn hơn là mạo hiểm mà lầm lẫn. Anh ta đã không trung thành với Thiên Chúa, Đấng ưa ra sức ; và anh ta đã xúc phạm Người một cách nặng nề nhất ; trả lại Người món quà đã nhận. ‘‘Ngài cho tôi cái này, tôi cho ngài cái kia, không có gì hơn’’. Trái lại Chúa mời gọi chúng ta hãy rộng lượng đánh cược, hãy thắng nỗi sợ hãi bằng lòng can đãm của tình yêu, hãy vượt qua tính thụ động đang trở thành sự phức tạp. Ngày hôm nay, trong cái thời buổi bấp bênh này, trong cái thời buổi yếu mềm này, chúng ta đừng phí phạm cuộc đời bằng cách chỉ có nghĩ đến chính chúng ta, với cái thái độ thờ ơ. Chúng ta đừng ảo tưởng mà nói rằng : « Bình an biết bao ; Yên ổn biết bao ! » (1Tx 5,3). Thánh Phaolô mời gọi chúng ta hãy nhìn trực diện vào thực tế, đừng để chúng ta bị tiêm nhiễm bởi tính vô cảm.

Như thế, làm thế nào phục vụ theo đúng ý định của Thiên Chúa ? Ông chủ dạy người đầy tớ : « Đáng lý anh phải gửi số bạc của tôi vào ngân hàng, để khi tôi đến tôi thu được cả vốn lẫn lời chứ » (c.27). Ai là những « chủ ngân hàng » đối với chúng ta, có quyền cấp cho một số tiền lãi dài hạn ? Đó là những người nghèo. Quý Anh Chị Em đừng quên ; những người nghèo ở trong trung tâm của Phúc Âm ; Phúc Âm không thể hiểu được nếu không có người nghèo. Những người nghèo có cùng nhân cách như Chúa Giêsu, Đấng giầu có, đã tự làm tan biến, để trở thành nghèo nàn, để trở thành tội lỗi, sự nghèo nàn xấu xa nhất. Người nghèo bảo đảm với chúng ta một lợi nhuận vĩnh cửu và cho phép chúng ta ngay từ bây giờ có thể làm giầu trong tình yêu. Bởi vì sự nghèo nàn lớn nhất phải tấn công là sự nghèo nàn tình yêu của chúng ta. Sự nghèo nàn lớn lao nhất phải chiến đấu là sự nghèo nàn tình yêu của chúng ta. Sách Châm Ngôn ca ngợi người phụ nữ siêng năng làm việc trong tình yêu, mà giá trị cao quý hơn trân châu : phải bắt chước người phụ nữ đó là người đã nói trong sách, « nàng đưa tay cứu kẻ khốn cùng » (Cn 31,20) ; sự giầu sang to lớn của người phụ nữ này là thế đó. Bạn hãy đưa tay ra cho kẻ đang ở trong tình trạng khốn cùng, thay vì đòi hỏi những gì mình đang thiếu : như thế bạn gia tăng những yến bạc mà bạn đã nhận được.

Mùa Giáng Sinh đến gần, thời gian lễ hội. Biết bao lần, câu hỏi mà nhiều người đặt ra là ; ‘‘tôi có thể mua cái gì đây ? Tôi có thể có thêm cái gì đây ? Tôi phải ra tiệm để mua’’. Chúng ta hãy nói lời khác : ‘‘tôi có thể hiến tặng cái gì cho người khác đây ?’’ để như Chúa Giêsu, Đấng đã ban cả thân mình và đã xuống trần trong một máng cỏ.

Như thế, chúng ta đi đến phần cuối của dụ ngôn : sẽ có kẻ có dư thừa và có kẻ đã phung phí cuộc đời mình và vẫn nghèo (x. c.29). Tóm lại, vào cuối cuộc đời, thực tế sẽ mở ra : sự giả tưởng của thế giới theo đó, sự thành công, quyền lực và tiền bạc mang đến ý nghĩa cho cuộc đời, sẽ suy tàn, trong lúc tình yêu, cái mà chúng ta đã cho đi, sẽ nổi lên như sự giầu có thực sự. Tất cả sẽ rơi xuống, trong lúc tình yêu sẽ vươn lên. Một vị Thượng Phụ uy tín của Hội Thánh đã viết : « Đã xẩy ra như thế trong cuộc sống : Sau khi cái chết xẩy đến và màn kịch đã hạ, tất cả mọi người bỏ đi chiếc mặt nạ của sự giầu sang và của sự nghèo nàn và ra đi khỏi thế gian này. Và không bị phán xét chỉ vì công trình của họ, một số người thực sự giầu sang, những người khác nghèo khó » (Thánh Gioan Kim Khẩu. Diễn từ về người nghèo Lazarô, II,3). Nếu chúng ta không muốn sống nghèo nàn, chúng ta hãy cầu xin ơn được thấy Chúa Giêsu trong những người nghèo, được phục vụ Chúa Giêsu trong những người nghèo.

Tôi muốn cảm tạ đông đảo các đầy tớ trung thành của Thiên Chúa, những người không cho nói về mình, nhưng họ sống như thế, trong phục vụ. Tôi nghĩ, chẳng hạn, tới cha Roberto Malgesini. Vị linh mục này không làm những lý thuyết ; một cách đơn giản, ngài đã nhìn thấy Chúa Giêsu trong người nghèo và thấy được ý nghĩa cuộc đời trong phục vụ. Ngài lau khô nước mắt với sự dịu dàng, nhân danh Thiên Chúa là Đấng ủi an. Khởi đầu một ngày của ngài là cầu nguyện, để đón nhận ơn Thiên Chúa ; ở giữa là đức ái để làm cho tình yêu được nhận lãnh sinh hoa kết quả ; kết thúc là một sự làm chứng tinh tuyền cho Phúc Âm. Con người này đã hiểu rằng mình phải đưa tay ra cho nhiều người nghèo mà ngài đã gặp hàng ngày, bởi vì ngài nhìn thấy Chúa Giêsu trong mỗi người họ. Quý Anh Chị Em thân mên, chúng ta hãy cầu xin ơn đừng là những Kitô hữu chỉ trong lời nói, mà còn phải trong hành động. Để mang nhiều hoa trái như thánh ý Chúa Giêsu. Amen.

© Librairie éditrice vaticane

https://fr.zenit.org/2020/11/15/journee-mondiale-des-pauvres-sans-les-pauvres-on-ne-comprend-pas-levangile/

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Ngày thế giới người nghèo – « Không có người nghèo người ta không hiểu Phúc Âm »

Ngày thế giới người nghèo 2020 – thông điệp của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

« Hãy rộng tay cứu giúp người nghèo khó » (bản văn đầy đủ)

NOVEMBRE 12, 2020 13:22 RÉDACTIONDOCUMENTSPAPE FRANÇOIS

Bữa tiệc cho người nghèo ngày 29/6/2018

« Hãy rộng tay cứu giúp người nghèo khó » : sau đây là bản văn đầy đủ thông điệp của Đức Giáo Hoàng Phanxicô cho Ngày Thế Giới Người Nghèo lần thứ IV, rơi vào ngày chúa nhật sắp tới, 15/11/2020.

Và tweet do Đức Giáo Hoàng công bố trên trương mục @Pontifex_fr của ngài hôm thứ năm 12/11/2020, ngày giới thiệu về Ngày Thế Giới này bởi Đức Cha Fisichella :

« Lòng quảng đại nâng đỡ kẻ yếu, an ủi kẻ đau buồn, xoa dịu những nỗi đau, trả lại nhân phẩm cho những người bị mất, thực chất là điều kiện của một cuộc đời đầy tính nhân bản ».

THÔNG ĐIỆP CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG PHANXICÔ
NGÀY THẾ GIỚI NGƯỜI NGHÈO LẦN THỨ 4
15 THÁNG 11 NĂM 2020, Chúa nhật thứ 33 Mùa Thường Niên

« Hãy rộng tay cứu giúp ngưới nghèo khó » (Hc 7,32)

« Hãy rộng tay cứu giúp người nghèo khó » (Hc 7,32).  Sự khôn ngoan ngày xưa đã làm cho những câu này thành như một quy luật thiêng liêng phải tuân thủ trong cuộc đời. Nó vang lên cho đến tận ngày nay, với toàn bộ sức nặng về ý nghĩa của nó, để giúp cho chúng ta, cả chúng ta nữa, tập trung cái nhìn của chúng ta vào điều cốt yếu và vượt qua những rào cản của sự thờ ơ. Sự nghèo khó luôn có những khuôn mặt khác nhau, đòi hỏi một sự chú ý trong mỗi tình huống đặc biệt : trong mỗi tình huống đó, chúng ta có thể gặp được Chúa Giêsu, Đấng mặc khải sự hiện diện của Người trong các người anh em yếu đuối nhất của Người (x. Mt 25,40)

  1. Chúng ta hãy cầm lên tay bản văn của sách Huấn Ca, một cuốn sách trong Cựu Ước. Chúng ta tìm được những lời lẽ của một vị thầy khôn ngoan đã sống khoảng hai trăm năm trước Đức Kitô. Ngài đi tìm sự khôn ngoan, sự khôn ngoan làm cho con người tốt lành hơn và có khả năng tìm hiểu cặn kẽ những biến cố của cuộc đời. Ngài làm điều này trong một lúc bị thử thách dữ dội đối với dân Israel, một thời gian đau khổ, tang tóc và khốn cùng, vì sự thống trị của những lực lượng ngoại bang. Là một người có đức tin lớn mạnh, bám rễ vào những truyền thống của cha ông, tư tưởng đầu tiên của ngài là thưa với Thiên Chúa để cầu xin Người ơn khôn ngoan. Và sự trợ giúp của Chúa đã không thiếu cho ngài.

Ngay từ những trang đầu, Sách Huấn Ca đưa ra những lời khuyên cho nhiều tình huống cụ thể của cuộc đời, và sự nghèo khó lại là một. Nó nhấn mạnh đến sự kiện, trong nhu cầu, phải có lòng tin cậy vào Thiên Chúa : « Hãy giữ lòng cho ngay thẳng và cứ kiên trì, đừng bấn loạn khi con gặp khốn khổ. Hãy bám lấy Người chứ đừng lìa bỏ, để cuộc đời, con được cất nhắc lên. Mọi chuyện xẩy đến cho con, con hãy chấp nhận, và trải qua bao thăng trầm, con hãy cứ kiên nhẫn. Vì vàng phải được tôi luyện trong lửa, còn những người sáng giá, thì phải được thử trong lò ô nhục. Hãy tin vào Người, thì Người sẽ nâng đỡ con. Đường con đi, hãy giữ cho ngay thẳng và trông cậy vào Người. Hỡi ai kính sợ Đức Chúa, hãy trông đợi lòng lân tuất của Người, đừng lìa xa Người kẻo ngã » (Hc 2,2-7).

  1. Hết trang này đến trang kia, chúng ta khám phá ra một cuốn sách quý giá gồm những gợi ý về cách hành động dưới ánh sắng của một quan hệ mật thiết với Thiên Chúa, Người là Đấng Tạo Hóa và người yêu của công trình tạo dựng của Người, công chính và quan phòng đối với tất cả con cái của Người. Tuy nhiên, sự kiên trì dựa vào Thiên Chúa không ngăn cấm nhìn vào con người cụ thể, trái lại, cả hai chuyện gắn kết chặt chẽ với nhau.

Điều này được chứng minh bởi trích đoạn Thánh Kinh mà nhan đề của Thông Điệp này được rút ra (x. Hc 7,29-36). Lời cầu nguyện với Thiên Chúa và sự liên đới với người nghèo và những người đau khổ là không tách rời nhau được. Để cử hành một cuộc tế lễ đẹp lòng Chúa, cần thiết là phải nhận diện được hết mọi người, dù là nghèo khó nhất, người bị khinh khi nhất, đều mang hình ảnh của Thiên Chúa in ấn nơi họ. Từ sự chú tâm toát ra ơn phúc của sự chúc lành từ Thiên Chúa, được thu hút bởi sự đại lượng thể hiện đối với người nghèo. Bởi thế nên thời gian dành để cầu nguyện không được bao giờ trở thành một lý cớ để lơ là tha nhân đang gặp khó khăn. Sự ngược lại là thật : phép lành của Chúa xuống trên chúng ta và cầu nguyện đạt tới mục đích khi được kèm theo bởi công tác phục vụ người nghèo.

  1. Giáo huấn cổ xưa này thật là mang tính thời sự biết bao đối với mỗi người chúng ta ! Quả vậy, lời của Thiên Chúa vượt lên khỏi không gian, thời gian, các tôn giáo và các văn hóa. Lòng đại lượng nâng đỡ kẻ yếu đuối, an ủi kẻ đau buồn, làm giảm những đau khổ, trả lại nhân phẩm cho những ai bị mất, thực chất là điều kiện của một cuộc sống với đầy đủ tính nhân bản. Sự lựa chọn cống hiến một sự quan tâm đến người nghèo, đến những nhu cầu đa dạng và số nhiều của họ, không thể chỉ bị điều kiện hóa bởi thời gian rảnh rỗi hay bởi những lợi ích riêng tư, cũng không bởi những dự án mục vụ hay xã hội coi thường thể xác con người. Người ta có thể bóp nghẹt sức mạnh ơn phúc của Thiên Chúa bởi xu hướng tự mê muốn luôn đặt mình lên hàng đầu.

Có cái nhìn hướng tới người nghèo là khó, nhưng hơn bao giờ hết, nó cần thiết để cho cuộc đời cá nhân và xã hội của chúng ta một hướng đi mới. Không phải là nói ra nhiều lời, nhưng tốt hơn hết là cống hiến cụ thể cuộc đời, được làm sống động bởi lòng thương của Thiên Chúa. Mỗi năm, với Ngày Thế Giới Người Nghèo, tôi trở lại trên thực tế này, cốt yếu cho sự sống của Hội Thánh, bởi vì người nghèo đã có và sẽ luôn ở với chúng ta (x. Ga 12,8) để giúp chúng ta đón nhận sự hiện diện của Đức Kitô trong không gian hàng ngày.

  1. Mỗi cuộc gặp gỡ với một người ở trong tình trạng nghèo khó khiêu khích và chất vấn chúng ta. Chúng ta làm thế nào để góp phần vào việc loại trừ hay ít ra là xoa dịu sự bị gạt ra ngoài vòng xã hội hay sự đau khổ của người đó ? Làm thế nào chúng ta có thể giúp đỡ người đó trong sự nghèo nàn thiêng liêng của người đó ? Cộng đoàn Kitô giáo được kêu gọi phải can dự vào việc trải nghiệm chia sẻ này, biết rằng cộng đoàn không được phép ủy nhiệm cho bất cứ ai cả. Và để là một sự nâng đỡ người nghèo, căn bản là cá nhân mình phải sống sự nghèo khó theo tinh thần Phúc Âm. Chúng ta không thể cảm thấy « tốt lành » khi có một thành viên của gia đình nhân loại bị gạt ra ngoài sân khấu và trở thành một bóng mờ. Tiếng kêu thầm lặng của nhiều người nghèo phải tìm được dân của Thiên Chúa ở tuyến đầu, luôn luôn và ở khắp mọi nơi, để cho họ một tiếng nói, để bảo vệ họ và để liên đới với họ trước bao sự đạo đức giả và trước bao lời hứa hẹn không được tôn trọng, để mời gọi họ tham gia vào đời sống của cộng đoàn.

Quả thật là Hội Thánh không có những giải pháp toàn cầu để đề nghị, nhưng Hội Thánh cống hiến, với ân sủng của Đức Kitô, sự làm chứng và sự chia sẻ của mình. Ngoài ra, Hội Thánh cảm thấy có bổn phận trình bầy hoàn cảnh của những người không có cái tối thiểu để sống. Nhắc nhở tất cả mọi người giá trị to lớn của công ích đối với dân Kitô giáo, là một sự cam kết sống được thực hiện trong sự nỗ lực không quên bất cứ ai trong những người mà tính nhân loại của họ bị vi phạm trong những nhu cầu căn bản của họ.

  1. Đưa tay ra, trước hết làm cho chính người làm cử chỉ này, khám phá ra rằng có nơi chúng ta khả năng làm được những cử chỉ có thể mang ý nghĩa cho cuộc đời. Có biết bao bàn tay đưa ra mà chúng ta có thể thấy mỗi ngày ! Rất tiếc, thường hay xẩy ra là sự vội vã dẫn đến một cơn lốc của sự thờ ơ, đến độ người ta không có thể nhận biết toàn bộ điều thiện đã được làm ra hàng ngày, trong thầm lặng và với một sự rộng lượng to lớn. Thường thì khi xẩy ra những biến cố làm đảo lộn cuộc sống của chúng ta mà mắt chúng ta mới trở nên có khả năng thấy được lòng tốt của các vị thánh « ở nhà bên cạnh », « của những người sống gần bên chúng ta và phản ánh sự hiện diện của Thiên Chúa » (Tông huấn Gaudete et exsultate, s.7), nhưng mà không ai thèm nói đến. Các tin xấu đăng đầy trên các báo chí, trên các trang internet và trên các màn truyền hình, đến độ người ta có thể tin rằng sự ác đang làm bá chủ. Tuy nhiên không phải thế. Đúng là, sự hung dữ và bạo lực, sự lạm dụng và hối lộ không thiếu, nhưng cuộc đời được đan kết bằng những hành động tôn trọng và rộng lượng, không chỉ bù lấp cái xấu, mà còn thúc đẩy đi xa hơn và tràn đầy hy vọng.
  2. Đưa tay ra là một dấu hiệu: một dấu hiệu nhắc ngay đến sự gần gũi, sự liên đới, tình yêu thương. Trong những tháng này, khi toàn thế giới đã bị tràn ngập bởi con virút mang đến đau khổ và chết chóc, khốn quẫn và hoang mang, chúng ta đã có thể thấy được biết bao bàn tay đưa ra ! Bàn tay đưa ra của vị bác sĩ đang lo cho mỗi bệnh nhân và tìm mọi cách để có được liều thuốc công hiệu. Bàn tay đưa ra của người y tá nam hay nữ, đã ở lại ngoài giờ làm việc để săn sóc người bệnh. Bàn tay đưa ra của những người làm việc trong chính quyền và cung cấp các phương tiện để cứu sống càng nhiều người càng tốt. Bàn tay đưa ra của người dược sĩ chịu bao nhiêu yêu cầu trong sự cận kề nguy hiểm với người ta. Bàn tay đưa ra của vị linh mục ban phép lành là lòng mình tan nát. Bàn tay đưa ra của thiện nguyện viên đi cứu những người sống ngoài đường phố và, hơn nữa, không nhà không cửa, không cả cái ăn. Bàn tay đưa ra của những con người nam nữ làm việc để cống hiến những dịch vụ cốt yếu và an ninh. Và còn bao nhiêu bàn tay khác đã đưa ra, mà chúng ta có thể kể ra đến độ dài như một bản kinh cầu các công trình thiện ích. Tất cả các bàn tay này đã thách đố với sự lây lan và nỗi sợ để mang đến sự nâng đỡ và an ủi.
  3. Trận đại dịch này đã xẩy tới cách bất chợt và chúng ta đều bị bất ngờ, để lại một cảm tưởng lúng túng và bất lực. Tuy nhiên, bàn tay đưa ra cho người nghèo không bất chợt mà đến. Nó làm chứng cách mà người ta chuẩn bị nhằm nhận biết người nghèo để nâng đỡ họ trong những thời gian cần thiết. Người ta không thế ứng tác các dụng cụ của lòng thương xót. Một sự tập luyện hàng ngày là cần thiết, xuất phát từ việc ý thức rằng, chúng ta, chính là những người đầu tiên, cần đến một bàn tay đưa ra cho chúng ta.

Khoảnh khắc mà chúng ta đang sống này đã đặt nhiều điều xác tín vào trong tình trạng khủng hoảng. Chúng ta cảm thấy mình nghèo nàn hơn, yếu đuối hơn bởi vì chúng ta đã trải nghiệm giới hạn và sự hạn chế tự do. Sự mất việc, những quan hệ tình cảm thân thương nhất, như sự vắng bóng của những quan hệ thông thường giữa con người với nhau, bỗng chốc mở ra những chân trời mà chúng ta không quen nhìn thấy. Những của cải tinh thần và vật chất đã bị đặt thành nghi vấn và chúng ta đã khám phá ra rằng chúng ta sợ hãi. Bị cô lập trong sự im lặng của căn nhà của chúng ta, chúng ta đã tìm lại được tầm quan trọng của sự đơn sơ và có cái nhìn thẳng vào những gì là cốt yếu. Chúng ta đã trưởng thành trong sự đòi hỏi của một tình huynh đệ mới, có khả năng tương trợ và tôn trọng lẫn nhau. Đây là thời gian thuận lợi để « có lại nhận thức rằng chúng ta cần đến nhau, rằng chúng ta có một trách nhiệm đối với những người khác và đối với thế giới […]. Từ quá lâu rồi, chúng ta đã ở trong tình trạng suy thoái tinh thần, chúng ta khinh thường đạo đức, lòng nhân hậu, tính lương thiện […]. Sự phá hủy mọi nền tảng của đời sống xã hội kết cuộc khiến cho chúng ta kẻ này đối nghịch người kia, ai nấy tìm cách thủ lấy lợi nhuận của riêng mình ; nó gây ra sự xuất hiện của những hình thức bạo lực và độc ác mới, và ngăn chặn sự phát triển của một nền văn hóa bảo vệ môi trường » (Tông thư Laudato si’, s. 229). Tóm lại, các cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chánh và chính trị trầm trọng sẽ không dừng lại bao lâu chúng ta còn để ở thế chờ đợi tinh thần trách nhiệm mà mỗi người chúng ta phải cảm nhận đối với tha nhân và với mỗi người.

  1. « Đưa bàn tay ra cho người nghèo», như thế là một lời mời gọi đến với tinh thần trách nhiệm như là sự dấn thân trực tiếp của bất cứ ai cảm thấy mình chia sẻ cùng một số phận. Đó cũng là sự khuyến khích hãy mang lấy gánh nặng của những kẻ yếu đuối hơn mình, như thánh Phaolô đã nhắc nhở : « Anh em hãy lấy đức mến mà phục vụ nhau. Vì tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình, (…) Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau » (Gl 5,13-14 ; 6,2). Thánh tông đồ dạy rằng sự tự do đã được ban xuống cho chúng ta bởi cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu Kitô là cho mỗi người trong chúng ta một trách nhiệm để phục vụ người khác, nhất là những người yếu đuối nhất. Đây không phải là một lời khuyên tùy ý chọn lựa, mà là một điều kiện của tính đích thực của đức tin mà chúng ta tuyên xưng.

Một lần nữa, Sách Huấn Ca đến trợ giúp chúng ta : nó gợi ý những hành động cụ thể để nâng đỡ những người yếu đuối nhất và nó cũng sử dụng một số hình ảnh minh họa. Trước hết, nó vạch rõ sự yếu đuối của những người sầu khổ : « Đừng ngoảnh mặt không nhìn những ai đang than khóc » (Hc 7,34). Giai đoạn đại dịch bắt buộc chúng ta phải cô lập bản thân, không cho chúng ta cả việc được an ủi và gần gũi bạn bè và thân nhân bị buồn khổ vì mất đi những người thân của họ. Và tác giả Sách Thánh còn khẳng định : « Đừng ngại thăm nom người đau ốm » (7,35). Chúng ta đã trải nghiệm việc không có thể ở gần những người đau khổ, và đồng thời, chúng ta cũng đã ý thức được sự mỏng giòn của mạng sống chúng ta. Tóm lại, Lời của Thiên Chúa không bao giờ để yên cho chúng ta, mà liên tục khích lệ chúng ta làm điều thiện.

  1. Ngược lại, « Đưa tay ra cho người nghèo» làm nổi bật thái độ của những kẻ thọc tay vào túi và không hề xúc động bởi sự nghèo khó, mà nhiều khi họ lại là đồng lõa. Tính thờ ơ và vô liêm sỉ là món ăn hàng ngày của họ. Thật là khác biệt biết bao đối với những bàn tay rộng lượng mà chúng ta đã mô tả ! Quả thật, có những bàn tay đưa ra đã nhanh chóng đụng vào bàn phím máy vi tính để chuyển những ngân khoản từ nơi này qua nơi khác trên thế giới, nói lên sự giầu sang của thiểu số đầu sỏ và sự khốn cùng của số đông hay sự vỡ nợ của nhiều quốc gia. Có những bàn tay đưa ra để tích lũy tiền bạc bằng việc bán vũ khí mà các bàn tay khác kể cả những bàn tay trẻ em, sẽ sử dụng để gieo rắc chết chóc và sự nghèo khổ. Có những bàn tay đưa ra, trong bóng tối, trao đổi những gói thuốc tử thần để làm giầu và sống trong xa hoa và sự rối loạn phù du. Có những bàn tay đưa ra, ở hậu trường, trao đổi những đặc ân bất hợp pháp đổi lấy một lợi nhuận dễ dàng và tham nhũng. Và cũng có những bàn tay đưa ra của những người, trong sự giả hình nhân hậu, mang theo luật pháp mà chính họ lại không tuân thủ.

Trong bức tranh toàn cảnh này, « những người bị gạt ra ngoài tiếp tục phải chờ đợi. Để có thể dung dưỡng một lối sống loại trừ người khác, hay để có thể hào hứng với cái lý tưởng ích kỷ, người ta phải triển khai một sự toàn cầu hóa vô cảm. Gần như nếu không nhận ra, chúng ta trở nên không có khả năng thương cảm trước tiếng kêu đau đớn của những người khác, chúng ta không còn có thể khóc trước thảm kịch của những người khác, quan tâm đến họ không còn là điều liên quan đến chúng ta, như thể đối với chúng ta, tất cả thuộc về trách nhiệm ngoại lai, không phải chuyện của chúng ta » (Tông huấn Evangelii Gaudium, s. 54). Chúng ta sẽ không thể nào hạnh phúc bao lâu những bàn tay gieo rắc chết chóc đó không biến thành những khí cụ của công lý và hòa bình cho toàn thế giới.

  1. « Trong lời ăn tiếng nói, hãy nghĩ đến đời con chung cuộc thế nào » (Hc 7,36). Đó là cách biểu lộ qua đó Sách Huấn Ca kết luận sự suy nghĩ của mình. Bài này có hai cách diễn giải. Cách thứ nhất cho thấy chúng ta phải luôn có trong đầu sự kết thúc của cuộc đời chúng ta. Nhớ đến số phận chung có thể giúp chúng ta sống dưới dấu hiệu của sự quan tâm đến những người nghèo khó hơn và không có những cơ hội như chúng ta. Cũng có một cách diễn giải thứ hai nữa, nó nhấn mạnh đến mục đích mà mọi người hướng tới. Chính là sự kết thúc của cuộc đời chúng ta đòi hỏi một dự án phải thực hiện và một con đường phải đi không mệt mỏi. Tuy nhiên, mục đích của mỗi hành động của chúng ta không thể nào khác hơn là tình yêu. Đó là mục đích mà tất cả chúng ta đều đi tới, và không có gì có thể làm cho chúng ta làm khác được. Tình yêu đó là sự chia sẻ, sự tận tâm và sự phục vụ, nhưng nó bắt đầu bằng sự khám phá ra rằng chúng ta là những người đầu tiên được yêu thương và được đánh thức vì tình yêu. Mục đích này xuất hiện vào lúc mà đứa con bắt gặp nụ cười của mẹ nó và cảm thấy mình được yêu thương chỉ vì sự kiện là hiện hữu. Dù chỉ là một nụ cười mà chúng ta chia sẻ với người nghèo cũng là nguồn gốc của tình yêu và cho phép sống trong niềm vui. Mong rằng bàn tay đưa ra, luôn có thể được làm phong phú hơn bằng nụ cười của một người không hề làm cho nặng nề sự hiện diện của mình và sự giúp đỡ mà người đó cống hiến mà chỉ vui mừng được sống như những môn đệ của Đức Kitô.

Mong rằng trên con đường gặp gỡ hàng ngày này với người nghèo chúng ta được đồng hành với Đức Mẹ của Thiên Chúa, đấng hơn hết là Mẹ của những người nghèo. Đức Trinh Nữ Maria biết rõ những khó khăn và những đau khổ của những người bị gạt ra ngoài lề xã hội, bởi vì chính bản thân Mẹ cũng đã từng phải hạ sinh Con của Thiên Chúa trong một chuồng gia súc. Dưới sự đe dọa của Hêrôđê, cùng với thánh Giuse là bạn trăm năm của Mẹ và Chúa Giêsu Hài Đồng, các ngài đã phải trốn chạy sang nước khác, và tình trạng tỵ nạn trong nhiều năm, đã hằn dấu trên Thánh Gia. Mong rằng lời cầu nguyện Mẹ của người nghèo tập họp các con cái yêu quý của Mẹ và tất cả những người đã phục vụ họ nhân danh Đức Kitô. Mong rằng  cầu nguyện biến đổi bàn tay đưa ra thành vòng tay chia sẻ và tình huynh đệ tìm lại được.

Ban ra từ Rôma, Thánh Gioan Latran, ngày 13/6/2020, lễ kính thánh Antôn thành Pađôva, năm thứ 8 triều đại giáo hoàng của tôi.

PHANXICÔ

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

https://fr.zenit.org/2020/11/12/journee-mondiale-des-pauvres-2020-message-du-pape-francois-texte-complet/

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Ngày thế giới người nghèo 2020 – thông điệp của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Cầu nguyện sao ? « Phải, đó là điều cần thiết » Đức Giáo Hoàng khẳng định

« Dù rằng khi mọi chuyện có vẻ vô hiệu » (Bài Giáo Lý toàn văn)

NOVEMBRE 11, 2020 13:19 ANNE KURIAN-MONTABONEAUDIENCE GÉNÉRALEPAPE FRANÇOIS

Triều kiến chung ngày 11/11/2020

Cầu nguyện, nói đến cầu nguyện, có ích gì không ? « Có, điều đó cần thiết », Đức Giáo Hoàng Phanxicô khẳng định trong buổi triều kiến chung ngày 11/11/2020 : « Bởi vì nếu chúng ta không cầu nguyện, chúng ta sẽ không có sức để bước đi trong cuộc đời. Cầu nguyện giống như dưỡng khí của đời người ».

Tiếp tục các Bài Giáo Lý về cầu nguyện, từ thư vìện của dinh giáo hoàng, Đức Giáo Hoàng đã giải thích rằng đức tin không phải « sự hăng hái nhất thời, nhưng là một sự chuẩn bị can đảm để cầu khẩn Thiên Chúa, đồng thời cũng là ‘‘tranh luận’’ với Người, không cam chịu trước cái ác và bất công ». Ngài đã khuyến khích một sự cầu nguyện « nài nỉ ».

« Người  Kitô hữu cầu nguyện không sợ gì cả », ngài cam đoan : « Người nào gõ cửa trái tim của Người với đức tin và với lòng kiên nhẫn, sẽ không bị thất vọng. Thiên Chúa luôn đáp lại. Luôn luôn ».

Đức Giáo Hoàng đã khuyến khích cầu nguyện « kể cả khi tất cả có vẻ vô hiệu, khi đối với chúng ta, Thiên Chúa dường như vừa điếc vừa câm và khi có vẻ như chúng ta mất thì giờ ». « Có những lúc đen tối trong cuộc đời chúng ta và trong những lúc đó, đức tin có vẻ như là ảo tưởng, ngài nhận xét. Nhưng tiến hành cầu nguyện cũng có nghĩa chấp nhận sự mệt mỏi đó ».

Bài Giáo Lý – 14. Cầu nguyện kiên trì

Thân chào Quý Anh Chị Em !

Chúng ta tiếp tục các Bài Giáo Lý về cầu nguyện. Có ai đó đã nói với tôi : « Ngài nói quá nhiều về cầu nguyện. Không cần thiết ». Có, cần thiết. Bởi vì nếu chúng ta không cầu nguyện, chúng ta sẽ không có sức mạnh để tiến tới trong cuộc đời. Cầu nguyện là như dưỡng khí của đời sống. Cầu nguyện, chính là thu hút trên chúng ta Thánh Thần luôn làm cho chúng ta đi tới. Chính vì lý do này mà tôi nói nhiều về cầu nguyện.

Chúa Giêsu đã ban gương sáng của một sự cầu nguyện liên tục, được thực hiện với sự kiên trì. Cuộc đối thoại liên tục với Chúa Cha, trong sự thinh lặng và sự cầm trí, là trung tâm của toàn bộ sứ vụ của Người. Các sách Phúc Âm cũng kể lại cho chúng ta những giáo huấn cho các môn đệ của Người, để các ông kiên trì cầu nguyện, không mệt mỏi. Sách Giáo Lý Của Hội Thánh Công Giáo nhắc lại ba dụ ngôn chứa đựng trong Phúc Âm theo thánh Luca, nhấn mạnh đặc tính này của sự cầu nguyện (x. SGL, s. 2613) của Chúa Giêsu.

Trước hết, cầu nguyện phải dai dẳng, như nhân vật trong dụ ngôn, người phải đón tiếp một vị khách tới bất chợt, đã gõ cửa giữa đêm khuya nơi nhà một người bạn và xin bánh mì.  Người bạn trả lời ‘‘không !’’, bởi vì hắn ta đã đi ngủ, nhưng người đó đã nài nỉ, nài nỉ đến lúc hắn phải thức dậy và đưa bánh mì cho người đó (x. Lc 11,5-8). Một sự cầu xin dai dẳng. Nhưng Thiên Chúa kiên nhẫn hơn chúng ta, và kẻ nào gõ cửa trái tim của Người với đức tin và lòng kiên trì sẽ không thất vọng. Thiên Chúa luôn đáp trả. Luôn luôn. Cha chúng ta biết rõ chúng ta cần những thứ gì ; sự nài nỉ không phải để trình báo với Người hay thuyết phục Người về điều đó, nhưng nó dùng để nuôi dưỡng nơi chúng ta sự ước muốn và sự mong đợi.

Dụ ngôn thứ nhì là chuyện bà góa xin với ông quan tòa để ông ta giúp bà đòi công lý. Ông quan tòa bất chính này, là một người vô lương tâm, nhưng cuối cùng, ông ta bực tức vì sự nài nỉ của bà góa, nên ông phải quyết định giải quyết cho bà ta (x. Lc 18,1-8). Và ông ta nghĩ rằng : « Tốt hơn hết là ta giải quyết vấn đề của mụ góa này để mụ đi cho rồi, để mụ đừng đến kiện cáo với ta nữa » ? Dụ ngôn này cho chúng ta hiểu rằng đức tin không phải chỉ là sự hăng hái chốc lát, mà là một sự chuẩn bị can đảm cầu khẩn Thiên Chúa, đồng thời cũng là ‘‘ tranh luận’’ với Người, không cam chịu trước sự ác và sự bất công.

Dụ ngôn thứ ba trình bầy một người pharisêu và một người thu thuế đến Đền Thờ cầu nguyện. Người thứ nhất thưa với Thiên Chúa bằng cách khoe khoang công đức ; người kia cảm thấy bất xứng dù chỉ là đi vào đền thánh. Tuy nhiên, Thiên Chúa không nghe lời cầu nguyện của người thứ nhất, nghĩa là của kẻ kiêu ngạo, trong lúc Người đoái nhận lời cầu xin của những người khiêm nhường (x. Lc 18, 9-14). Không có cầu nguyện đích thực nếu không có tinh thần khiêm nhượng. Chính là lòng khiêm nhường dẫn đưa chúng ta cầu xin trong cầu nguyện.

Giáo huấn của Phúc Âm là rõ ràng : người ta luôn phải cầu nguyện, kể cả khi mọi chuyện coi như vô hiệu, khi Thiên Chúa dường như vừa điếc, vừa câm đối với chúng ta và có vẻ như chúng ta chỉ mất thì giờ. Dù rằng trời có tối sầm xuống, người Kitô hữu cũng không ngừng cầu nguyện. Cầu nguyện phải đi đôi với đức tin. Và đức tin, trong nhiều ngày của cuộc đời chúng ta và trong những lúc này, có thể dường như một ảo ảnh. Đọc kinh cầu nguyện cũng có nghĩa là chấp nhận sự mệt mỏi này. « Thưa cha, con cầu nguyện mà con chẳng cảm thấy gì hết… con thấy như thường, tâm hồn khô khan, trái tim cằn cỗi ». Nhưng chúng ta phải đi tới, với cái mệt mỏi của những lúc khó khăn này, những lúc mà chúng ta chẳng cảm thấy gì cả. Nhiều vị thánh nam, nữ đã trải nghiệm đêm tối của đức tin và của sự im lặng của Thiên Chúa – khi chúng ta gõ và Thiên Chúa không trả lời – và các vị thánh này đã kiên trì.

Trong đêm tối của đức tin, người cầu nguyện không bao giờ cô đơn. Quả thế, Chúa Giêsu không chỉ là chứng nhân và là Thầy dạy cầu nguyện, Người còn hơn thế nữa. Người đón nhận chúng ta trong sự cầu nguyện của Người, để chúng ta có thể cầu nguyện trong Người và qua Người. Và điều này là công trình của Thánh Thần. Thánh Gioan đã ghi lại những lời sau đây của Chúa : « Và bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh trong người Con » (Ga 14,13). Và Sách Giáo Lý Của Hội Thánh Công Giáo giải thích rằng « niềm xác tín rằng những lời cầu xin của chúng ta được đoái nhận, niềm xác tín đó dựa trên nền tảng là lời cầu nguyện của Chúa Giêsu » (SGL s.2614).  Sự xác tín đó thêm cánh cho những lời cầu nguyện mà con người đã luôn mong ước có được.

Làm sao không nhắc đến ở đây những lời của Thánh Vịnh 91, giầu lòng tin cậy, tuôn ra từ trong tâm hồng hy vọng mọi sự nơi Thiên Chúa : « Chúa phù trì che chở, dưới cánh Người, bạn có chỗ ẩn thân : lòng Chúa tín trung là khiên che thuẫn đỡ. Bạn không sợ cảnh hãi hùng đêm vắng hay mũi tên bay giữa ban ngày, cả địch khí hoành hành trong đêm tối, cả ôn thần sát hại lúc ban trưa » (Tv91 c.4-6). Chính trong Đức Kitô  mà kinh cầu tuyệt vời này đã hoàn tất, chính trong Người mà nó tìm được sự đích thực đầy đủ. Không có Chúa Giêsu, lời cầu nguyện của chúng ta có rủi ro thu hẹp lại thành những cố gắng của con người, thường dẫn tới thất bại. Nhưng Người đã mang trên bản thân Người mỗi tiếng kêu than, mỗi tiếng rên siết, mỗi niềm vui mừng, mỗi lời nài van… mỗi lời cầu nguyện của con người. Và chúng ta đừng quên Chúa Thánh Thần cầu nguyện trong chúng ta ; Người là Đấng dẫn đưa chúng ta tới cầu nguyện, dẫn ta tới Chúa Giêsu. Người là ân sủng mà Chúa Cha và Chúa Con đã ban cho chúng ta để đi gặp Thiên Chúa. Chính Chúa Thánh Thần, khi chúng ta cầu nguyện, chính Chúa Thánh Thần là Đấng cầu nguyện trong tâm hồn chúng ta.

Đức Kitô là tất cả cho chúng ta, kể cả trong đời sống cầu nguyện của chúng ta. Đó là những gì thánh Augustinô nói với một thuật ngữ soi sáng mà chúng ta tìm thấy trong Sách Giáo Lý : Chúa Giêsu « cầu nguyện cho chúng ta, vì Người là vị Tư Tế của chúng ta, Người cầu nguyện trong chúng ta vì Người là Đầu của chúng ta, Người được chúng ta cầu nguyện, vì Người là Thiên Chúa của chúng ta. Vậy chúng ta phải nhận biết tiếng nói của chúng ta trong Người, lẫn tiếng nói của Người trong chúng ta » (SGL s.2616). Và chính vì thế mà người Kitô hữu cầu nguyện không sợ gì cả, phó thác cho Chúa Thánh Thần, Đấng đã được ban cho chúng ta như ân sủng và cầu nguyện trong chúng ta, Đấng thúc đẩy cầu nguyện. Cầu xin Chúa Thánh Thần, vị Thầy của cầu nguyện, dạy cho chúng ta con đường cầu nguyện.

© Librairie éditrice du Vatican

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

https://fr.zenit.org/2020/11/11/la-priere-si-cest-necessaire-affirme-le-pape-catechese-integrale/

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Cầu nguyện sao ? « Phải, đó là điều cần thiết » Đức Giáo Hoàng khẳng định