Canada – cuộc tông du của Đức Giáo Hoàng từ ngày 24 đến ngày 30 tháng 7 sắp tới

Một « chuyến tông du lịch sử », các giám mục Canada nói

MAI 13, 2022 18:07 MARINA DROUJININAPAPE FRANÇOISVOYAGES

Những quốc gia đầu tiên của Canada, 28/3/2022

ĐGH Phanxicô sẽ tới Canada từ ngày 24 đến ngày 30 tháng 7 năm 2022, ông giám đốc Phòng Báo Chí Tòa Thánh, Matteo Bruni thông báo hôm 13/5/2022 : « Nhận lời mời của nhà cầm quyền dân sự và giáo hội cũng như các cộng đồng dân tộc bản địa, người ta đọc được trong bản thông cáo chính thức, Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ thực hiện một chuyến tông du tới Canada từ ngày 24 đến ngày 30/7 sắp tới, ngài sẽ thăm các thành phố Edmonton, Québec và Iqaluit. Chương trình và các chi tiết chuyến tông du sẽ được công bố trong những tuần tới ».

Đức Cha Raymond Poisson, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục công giáo của Canada (CECC), đã chào mừng sự xác nhận chính thức về chuyến thăm viếng nhân danh các giám mục công giáo của Canada : « Chúng tôi rất cảm ơn đối với Đức Thánh Cha vì ngài đã nhận lời mời của chúng tôi để tiếp tục con đường hàn gắn và hòa giải với các dân tộc bản địa của đất nước này, người ta đọc được trên trang nhà của CECC. Vào cuối tháng 7, ĐGH Phanxicô sẽ có cơ hội đến thăm các dân tộc bản địa ở đây, trên quê hương của họ, như ngài đã hứa khi ngài gặp họ mới đây tại Rôma. Chúng tôi cầu nguyện cho sức khỏe của Đức Thánh Cha trong lúc mà chúng tôi thực hiện tích cực chương trình của chuyến viếng thăm lịch sử này ».

Edmonton, Québec và Iqaluit

Tòa Thánh Vatican thông báo ĐGH Phanxicô sẽ có ba điểm dừng chân trong chuyến tông du Canada, đó là : tại Edmonton, tại Québec và tại Iqaluit. Những địa điểm này, bản thông cáo của CECC giải thích, « cho phép hạn chế những di chuyển của Đức Thánh Cha trong khi có thể dành cho ngài cơ hội để thực hiện những cuộc gặp gỡ cá nhân và công cộng, như thế có thể tính tới sự tham dự của tất cả các vùng của cả nước ».

Edmonton – thủ phủ của bang Alberta –  « có con số lớn thứ nhì những người dân bản địa sống trong những trung tâm thành phố tại Canada. Hơn nữa, 25 khu nội trú người bản địa cũng đặt tại Alberta, tức là con số lớn nhất trong những tỉnh và những địa phương của Canađa ».

Iqaluit – thủ phủ và là thành phố lớn nhất của vùng Nunavut, phía Bắc của Canada – với một dân số là 8 000 người, tập trung con số người Inuit lớn nhất tại Canada (khoảng 3 900 người). « ĐGH Phanxicô đã được mời cách riêng bởi các người đại diện Inuit để đến thăm miền Bắc trong cuộc gặp gỡ của họ vào tháng Ba », bản thông cáo cho biết.

Theo một thông cáo của các đức giám mục, « thành phố Québec tỏ ra là một điểm đến có thể thực hiện đối với những người muốn tụ tập về để gặp được Đức Giáo Hoàng Phanxicô, đặc biệt là những dân tộc bản địa miền Đông của nước này ». Trong vùng này còn « có vương cung thánh đường Thánh Anna-de-Beaupré, một trong những nơi hành hương cổ xưa nhất và bình dân nhất tại Bắc Mỹ ».    

Đức Cha Smith, người điều hợp tổng quát chuyến tông du.

Hội đồng giám mục CECC đã bổ nhiệm Đức Cha Richard Smith, tổng giám mục của Edmonton,  như là người phối hợp tổng quát cuộc viếng thăm của Đức Giáo Hoàng « nhằm hướng dẫn sáng kiến rộng lớn này nhân danh các giám mục của Canada ». Đức Cha Smith cũng đã tháp tùng các đại biểu dân bản địa tới Vatican và « ngài đã có những quan hệ lâu ngày với các nhà lãnh đạo dân bản địa ».  

Đức Cha Smith đã đưa ra lời bình luận về sự bổ nhiệm của ngài : « Tôi hân hạnh được phục vụ với tư cách là người phối hợp tổng quát cho chuyến viếng thăm lịch sử của ĐGH Phanxicô. Tôi nóng lòng muốn làm việc với các dân tộc bản địa trên toàn quốc, cũng như với các hợp tác viên địa phương, thuộc tỉnh hay liên bang, trong lúc chúng tôi chuẩn bị để đón tiếp Đức Thánh Cha và tiếp tục cùng nhau bước đi trên con đường quan trọng của sự hàn gắn và sự hòa giải ».

Các giám mục của Canada ghi nhận rằng « các vị trí địa dư chính xác và chương trình chính thức » chuyến tông du của ĐGH Phanxicô « sẽ được thỏa thuận trong sự cộng tác chặt chẽ với các đối tác dân bản địa ở cấp địa phương và quốc gia ». « Vì tầm quan trọng dành cho sự hàn gắn và hòa giải nơi các dân bản địa, Đức Thánh Cha sẽ phải có thể viếng thăm địa điểm của một khu nội trú xưa và những chỗ có một tầm quan trọng đặc biệt », các ngài nói thêm.

Các phái đoàn người dân bản địa tại Vatican

Các phái đoàn những dân tộc bản địa của Canada đã tới Rôma từ ngày 27/3 đến ngày 02/4/2022, được tháp tùng bởi Giáo Hội Canada, để yết kiến ĐGH Phanxicô. Bản thông cáo của các giám mục Canada ngày 13/5 nhắc lại rằng, ngày 01/4/2022, ĐGH Phanxicô « đã xin  lỗi vì vai trò của Giáo Hội công giáo trong hệ thống nội trú người dân bản địa của Canada ». Đức Giáo Hoàng đã bầy tỏ « nỗi buồn và hổ thẹn của ngài » vì những lạm dụng « đối với những căn tính » và « những giá trị tinh thần của dân bản địa trong hệ thống các khu nội trú của người dân bản địa »   

« Những lời xin lỗi của Đức Thánh Cha dựa trên những điều rút ra trong các cuộc hội họp riêng diễn ra từ ngày 28/3 và ngày 01/4/2022 với 32 trưởng lão người bản địa, những người canh giữ kiến thức, những người nam, nữ sống sót của những khu nội trú dân bản địa và những người trẻ của Hội Nghị các Quốc Gia Đệ Nhất (APN), Hội đồng Quốc Gia người lai (CNM) và tổ chức Inuit Tapirit Kanatami (ITK), bản thông cáo cho biết.

Những ai muốn biết nhiều hơn về chuyến tông du Canada của Đức Giáo Hoàng có thể tìm được những tin mới nhất trên trang www.visitepapale.ca/ www.papalvisit.ca

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Canada : le voyage apostolique du pape François, du 24 au 30 juillet prochain – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Canada – cuộc tông du của Đức Giáo Hoàng từ ngày 24 đến ngày 30 tháng 7 sắp tới

Những người già trong « đời sống của các cộng đoàn chúng ta »

Suy ngẫm về nhân vật Giuđitha (Toàn văn bài giáo lý)

MAI 11, 2022 19:07 RÉDACTIONAUDIENCE GÉNÉRALEPAPE FRANÇOIS

Giáo xứ San Giulio của Rôma

« Đời sống của các cộng đoàn chúng ta phải biết tận dụng các tài năng và uy tín của nhiều người già, đã về hưu, nhưng là một của quý giá phải được tôn trọng », Đức Giáo Hoàng tuyên bố trong buổi triều kiến chung hôm thứ tư 11 tháng 5. « Điều này đòi hỏi, từ phía chính những người già, một sự chú ý sáng tạo và một sự chú ý mới, một sự sẵn sàng rộng lượng ».

Ngày hôm thứ tư 11/5/2022, trên Quảng Trường Thánh Phêrô, ĐGH Phanxicô đã tiếp tục bài giáo lý của ngài về tuổi già, lấy cảm hứng từ nhân vật Giuđitha, bà vốn « đã sống một mùa viên mãn và thanh thản, biết rằng mình đã sống trọn vẹn sứ mệnh mà Chúa đã giao cho bà ». Đối với bà, ngài nói tiếp, « đó là thời gian để lưu lại một di sản tốt đẹp về khôn ngoan, về lòng dịu hiền, về những ơn phúc cho gia đình và cho cộng đoàn : một di sản của điều tốt chứ không phải của của cải ».

Bằng cách gợi lại « sự e sợ » lúc gần về hưu, Đức Giáo Hoàng đã mời gọi những người về hưu có « một nỗ lực canh tân » : chúng ta có phải chỉ đơn giản là chịu đựng trì lực của những điều kiện vật chất và kinh tế không ? », ngài hỏi. « Sự kiện cùng nhau hiện diện của các thế hệ quả đã kéo dài. Liệu tất cả chúng ta có cùng nhau làm cho sự hiện diện đó trở thành nhân bản hơn, thân ái hơn, công bằng hơn, trong những điều kiện mới của các xã hội hiện đại không ? »

Đức Giáo Hoàng đã kết luận bài giáo lý của ngài bằng cách mời gọi cử tọa hãy đọc sách Giuđitha và lấy cảm hứng : « Tôi khuyên anh chị em : trong những ngày này, hãy lấy Thánh Kinh và lật sách Giuđitha : nó ngắn thôi, để đọc… có khoảng 10 trang thôi, không hơn đâu. Anh chị em hãy đọc câu chuyện này của một người phụ nữ can đảm đã kết thúc như thế, với lòng dịu dàng, với lòng quảng đại, một người phụ nữ có tầm vóc ».

HG

Sau đây là bản dịch tiếng Pháp bài giáo lý được Tòa Thánh công bố

Thân chào quý anh chị em !

Ngày hôm nay, chúng ta sẽ nói về bà Giuđitha, một nữ anh hùng trong Kinh Thánh. Kết luận của cuốn sách mang tên bà – chúng ta đã nghe một trích đoạn – tóm lược phần cuối cuộc đời của người phụ nữ này, người bảo vệ Israel chống lại các kẻ thù. Bà Giuđitha là một góa phụ Do Thái trẻ trung và nhân đức, nhờ vào đức tin của bà, sắc đẹp của bà và sự khôn khéo của bà, bà đã cứu thành phố Bêthulia và dân chúng vùng Giuđê bị bao vây bởi Hôlôpherne, tướng lãnh của Nabuchodonosor, vua xứ Assyria, một kẻ thù hùng mạnh và coi thường Thiên Chúa. Như vậy, nhờ vào cách hành động mưu mô, bà đã có thể cắt cổ một tên bạo chúa đang tấn công đất nước. Bà can đảm, người phụ nữ này, nhưng bà có đức tin…

Sau cuộc phiêu lưu to lớn mà bà là người chủ chốt, bà Giuđitha trở về sinh sống trong thành phố của bà, thành phố Bêthulia, nơi bà đã hưởng một tuổi già tốt đẹp đến tận 105 tuổi. Cũng như là trường hợp của nhiều người : đôi khi sau một cuộc đời làm việc căng thẳng, đôi khi sau một cuộc sống phiêu lưu mạo hiểm, hay một cuộc sống hết lòng tận tụy. Anh hùng không chỉ là những việc vĩ đại được rọi đèn chiếu sáng, thí dụ việc giết tên độc tài bởi bà Giuđitha : nhưng thường thì người ta tìm thấy lòng can đảm trong sự kiên trì của tình yêu được sống trong một gia đình khó khăn và giúp cho một cộng đồng bị đe dọa.

Bà Giuđitha đã sống trên trăm tuổi, một phúc lành đặc biệt. Nhưng ngày nay không hiếm còn có nhiều năm để sống sau khi về hưu. Làm sao lý giải, làm thế nào để tân dụng tốt nhất thời gian mà chúng ta còn có được ? Ngày hôm nay tôi về hưu, và tôi sẽ còn nhiều năm sống nữa, và tôi có thể làm gì trong những năm này ? Làm thế nào để phát triển – về tuổi tác thì không cần phải nói rồi, nhưng làm thế nào tôi có thể phát triển về uy thế, về sự thánh thiện, về sự khôn ngoan ?

Đối với nhiều người, viễn cảnh nghỉ hưu trùng hợp với sự nghỉ ngơi thích đáng và được chờ đợi sau những năm hoạt động nhiều đòi hỏi và mệt mỏi. Nhưng cũng xẩy ra là sự chấm dứt làm việc lại là căn nguyên của sự lo lắng và nó được chờ đợi với một nỗi e ngại nào đó. « Bây giờ tôi sẽ phải làm gì khi mà cuộc đời của tôi mất đi tất cả những gì đã lấp đầy trong bao lâu nay ? » : đó là câu hỏi. Công việc hàng ngày, đó cũng là một tổng hợp các quan hệ, là sự hài lòng khi kiếm sống, là kinh nghiệm có được một vai trò, một sự kính trọng xứng đáng, một công việc toàn thời gian vốn vượt lên thời khóa biểu làm việc đơn giản.

Tất nhiên, còn có sự cam kết, vừa vui mừng vừa mệt nhọc, chăm sóc các cháu, và ngày hôm nay, các bậc ông bà có một vai trò rất quan trọng trong gia đình để giúp nuôi dạy các cháu ; nhưng ngày nay, chúng ta cũng biết là ngày càng ít trẻ em được sinh ra, và những cha mẹ thường ở xa, hay di chuyển với những tình trạng công ăn việc làm và nơi cư trú không thuận lợi. Đôi khi, họ cũng ngần ngại nhờ các bậc ông bà trong những không gian giáo dục, chỉ để cho các cụ những không gian có liên quan mật thiết đến nhu cầu trợ giúp. Có ai đó đã nói với tôi trong nụ cười mỉa mai : « Ngày nay, các bậc ông bà, trong tình hình xã hội-kinh tế này, đã trở thành quan trọng hơn, bởi vì các cụ có lương hưu ». Thật đó, họ nghĩ vậy đó. Có những đòi hỏi mới, kể cả ở cấp các quan hệ giáo dục và quan hệ cha mẹ, bắt buộc chúng ta phải định hình lại liên minh truyền thống giữa các thế hệ.

Nhưng, chúng ta hãy tự hỏi : chúng ta có nỗ lực để « chấn chỉnh » không ? ». Hay là chúng ta chỉ chịu đựng trì lực của những điều kiện vật chất và kinh tế ? Sự hiện diện chung của các thế hệ quả đã kéo dài. Liệu tất cả chúng ta có cùng nhau, tìm cách làm cho nó mang tính cách nhân bản nhiều hơn, thân ái hơn, công bằng hơn, trong những điều kiện mới của các xã hội hiện đại này không ? Đối với các bậc ông bà, một phần quan trọng trong ơn gọi của họ là nâng đỡ con cái của các cụ trong việc giáo dục các cháu các cụ. Các đứa cháu học hỏi sức mạnh của sự dịu dàng và sự tôn trọng sự mong manh : những bài học không thể thay thế, được truyền đạt và được tiếp nhận một cách dễ dàng hơn với các bậc ông bà. Về phần các vị ông bà, các cụ biết rằng sự dịu dàng và sự mỏng giòn không chỉ là những dấu hiệu của sự suy thoái : đối với những người trẻ, đó là những chặng đường làm cho tương lai trở nên nhân bản.

Bà Giuđitha goá chồng rất sớm và không có con, nhưng với tư cách người phụ nữ lớn tuổi, bà đã có thể sống một mùa viên mãn và thanh thản, nên biết rằng bà đã sống đầy đủ sứ mệnh mà Chúa đã giao cho bà ấy. Đối với bà, đó là một thời gian nhằm để lại di sản tốt của trí khôn ngoan, của sự dịu dàng, của những ơn phúc cho gia đình và cho cộng đoàn : một di sản của sự thiện chứ không chỉ là của cải. Khi chúng ta nghĩ tới di sản, đôi khi chúng ta nghĩ tới của cải chứ không nghĩ đến điều thiện vốn đã được làm trong tuổi già và đã được gieo trồng, điều thiện đó vốn là di sản tốt nhất mà chúng tôi có thể để lại.

Chính xác là trong tuổi già, bà Giuditha « giải phóng nữ tỳ yêu thích của bà ». Đó là một cái nhìn quan tâm và nhân bản đối với những người đã ở gần bà. Tỳ nữ này đã tháp tùng bà trong cuộc mạo hiểm để thắng tên độc tài và cắt cổ hắn. Khi già đi, mắt chúng ta kém đi đôi chút, nhưng cái nhìn nội tâm lại trở thành xuyên thấu : chúng ta nhìn với trái tim. Chúng ta có thể nhìn thấy những sự việc vốn trước kia chúng ta đã không thấy. Những người già biết nhìn và biết thấy… Chính như thế : Chúa không chỉ giao phó tài năng của Người cho những người trẻ và những người mạnh : Người có tài năng cho tất cả mọi người, được làm riêng theo chiều kích của từng người, kể cả cho những người già. Sự sống của các cộng đoàn chúng ta phải biết tận dụng các tài năng và những đặc sủng của nhiều người già, đã về hưu rồi, nhưng vốn là một sự phong phú cần được tôn trọng. Điều đó đòi hỏi, từ phía chính những người già, một sự quan tâm sáng tạo và một sự chú ý mới mẻ, một sự sẵn lòng quảng đại. Những kỹ năng xưa trong cuộc đời hoạt động mất đi cái phần ép buộc và trở thành những tài nguyên của quà tặng : dạy dỗ, tư vấn, xây dựng, săn sóc, lắng nghe… Ưu tiên mưu ích cho những người nghèo khó nhất, vốn không có những phương tiện học hành hay vốn bị bỏ rơi trong nỗi cô đơn của họ.

Bà Giuđitha đã giải phóng nữ tỳ của bà và đã đối xử tử tế với mọi người. Lúc còn là thiếu nữ, bà đã chiếm được sự quý mến của cộng đồng bởi lòng can đảm của bà. Trong tuổi già, bà đã xứng đáng nhận được sự quý mến đó vì lòng nhân hiền mà bà đã đối với sự tự do và sự yêu mến của họ. Bà Giuđitha không phải một phụ nữ về hưu sống trong sự trống vắng một cách u buồn : đây là một người phụ nử lớn tuổi đầy nhiệt huyết biết đổ đầy quà tặng trong thời gian mà Thiên Chúa ban cho bà. Tôi khuyến nghị anh chị em : trong những ngày này, hãy lấy Thánh Kinh ra và đọc sách Giuditha : sách nhỏ thôi, và hãy đọc… có 10 trang thôi, không hơn đâu. Anh chị em hãy đọc câu chuyện của một phụ nữ can đảm đã kết thúc như thế, với lòng dịu dàng, với lòng quảng đại, một người phụ nữ có tầm vóc. Và tôi muốn rằng tất cả các bà nội, ngoại cũng như thế, can đảm như thế, khôn ngoan và để lại cho chúng ta thừa hưởng di sản đó chứ không phải tiền bac, di sản của sự khôn ngoan, được gieo trồng trong các đứa cháu. Cảm ơn.

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Les personnes âgées dans « la vie de nos communautés » – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Những người già trong « đời sống của các cộng đoàn chúng ta »

Tuổi già « một mùa mà người ta còn có thể mang hoa trái »

Thông điệp cho Ngày Thế Giới các Ông Bà và Người Già

MAI 10, 2022 17:25 HÉLÈNE GINABATPAPE FRANÇOIS

Người già và giáo dục, Ý chỉ cầu nguyện của tháng 12 năm 2017

« Lão hóa không phải là một sự kết án, mà là một sự chúc lành », ĐGH Phanxicô khẳng định, và những người già là « những chỉ dấu sống động của lòng nhân từ của Thiên Chúa, Đấng ban sự sống tràn đầy ». Bởi thế, tuổi già « không phải là một quãng thời gian vô ích », « mà là một mùa mà người ta vẫn còn có thể sinh hoa kết quả : một sứ mệnh mới đợi chờ chúng ta và mời gọi chúng ta hãy hướng tầm nhìn của chúng ta đến tương lai ».

Trong thông điệp của ngài cho Ngày thế giới các ông bà và người già lần thứ hai, sẽ được cử hành vào ngày 24/7/2022, được công bố hôm 10/5/2022, ĐGH Phanxicô đã hay dùng đến từ ngữ « chúng ta », nói lên tất cả sự gần gũi của ngài. Được mang tên theo Thánh Vịnh 92,15, « già cỗi rồi, vẫn sinh hoa kết quả », thông điệp mời gọi « đừng sợ tuổi già » mà hãy « chuẩn bị cho tuổi già ».  

Cho điều này, Đức Giáo Hoàng chỉ ra hai hướng : « quan hệ với Thiên Chúa » và « quan hệ với người khác ». Ngài nói phải trau dồi « đời sống nội tâm qua việc chăm đọc Lời Thiên Chúa, cầu nguyện hàng ngày, chịu các bí tích và tham dự Phụng Vụ » và cống hiến « lòng trìu mến đầy quan tâm » với « gia đình của mình », « con cháu của mình » và gần gũi với những « người nghèo khó và đau khổ ».

Khi tố cáo « các xã hội phát triển » vốn chỉ đề nghị « những kế hoạch trợ giúp, chứ không có những dự án của sự sống », ĐGH Phanxicô đảo ngược cách tiếp cận và kêu gọi những người già hãy « lựa chọn tình yêu » đối với những thế hệ mới : ngài giải thích, chính là « sự góp phần của chúng ta vào cuộc cách mạng của sự dịu dàng, một cuộc cách mạng thiêng liêng và không có vũ khí mà tôi mời gọi các vị, hỡi các bậc ông bà và các người cao niên, hãy trở thành những người chủ chốt ».

Sau đây là bản Thông Điệp bằng tiếng Pháp được Phòng báo chí Tòa Thánh truyền đạt.

« Già cỗi rồi, vẫn sinh hoa kết quả » (Tv 92, 15)

Quý vị thân mến !

Câu trong Thánh Vịnh 92, « già cỗi rồi, vẫn sinh hoa kết quả » (c.15), là một tin mừng, một « phúc âm » đích thực mà chúng ta có thể loan báo cho thế giới nhân dịp Ngày Thế Giới Các Ông Bà và Người Già lần thứ hai. Nó đi ngược dòng với những gì thế giới suy nghĩ về cái tuổi này của cuộc đời ; và cũng về thái độ cam chịu của một số người trong chúng ta, những người lớn tuổi, đang đi tới với ít hy vọng và không còn đợi chờ gì về tương lai.

Có nhiều người sợ tuổi già. Họ coi nó nhưng là một loại bệnh mà tốt hơn hết là phải tránh mọi sự tiếp xúc : những người già không liên quan gì đến chúng ta – thiên hạ nghĩ thế – và thích hợp nhất là họ ở xa nhất có thể, có lẽ ở giữa họ với nhau, trong những cơ quan chăm sóc họ và giúp cho chúng ta khỏi phải gánh vác những phiền muộn của họ. Đó là « văn hóa loại bỏ » : tâm tư đó vốn, trong khi làm cho chúng ta cảm thấy khác với những người yếu đuối nhất và xa lạ đối với sự mỏng giòn của họ, cho phép chúng ta hình dung những con đường riêng biệt giữa « chúng ta » và « họ ». Nhưng thực chất, một đời sống thọ – như Sách Thánh dạy – là một sự chúc lành, và những người già không là những kẻ bị loại bỏ mà chúng ta phải tránh xa, nhưng là những dấu chỉ sống động của lòng nhân từ của Thiên Chúa, Đấng ban sự sống dư thừa. Phúc cho nhà nào giữ một người già ! Phúc thay gia đinh nào hiếu kính các bậc ông bà !

Quả thật, tuổi già là một mùa khó hiểu, kể cả đối với chúng tôi đang sống trong mùa này. Mặc dù nó đến sau một con đường dài, không ai là người đã chuẩn bị cho chúng ta để đối mặt với nó, nó dường như làm chúng ta bất ngờ. Những xã hội phát triển nhất thì chi tiêu nhiều cho tuổi này của cuộc đời, nhưng họ không giúp để diễn giải nó : họ cống hiến những kế hoạch trợ giúp, nhưng không có những dự án về sự sống[1]. Bởi thế cho nên thật là khó khăn để nhìn đến tương lai và nắm bắt được một chân trời phải hướng tới. Một mặt, chúng ta bị cám dỗ xua đuổi tuổi già bằng cách che dấu những vết nhăn và làm bộ như luôn còn trẻ, mặt khác, dường như người ta không thể làm gì ngoài việc sống một cách vỡ mộng, cam chịu không còn có thể « đơm hoa kết quả ».

Sự chấm dứt hoạt động nghề nghiệp và sự kiện chúng ta có những người con tự lập làm cho chúng ta mất đi những lý do để chúng ta tốn nhiều công sức. Ý thức rằng sức lực sa sút hay sự xuất hiện một căn bệnh có thể khiến những sự chắc chắn của chúng ta đi vào khủng hoảng. Thế giới – với những thời gian qua nhanh, mà chúng ta khó có thể theo kịp nhịp độ – dường như không để cho chúng ta sự lựa chọn nào khác và khiến chúng ta phải nội tâm hóa ý kiến về sự loại bỏ. Như thế, lời cầu nguyện của Thánh Vịnh bay lên trời : « Xin đừng sa thải con lúc tuổi đà xế bóng, chớ bỏ rơi khi sức lực suy tàn » (Tv 71,9).

Nhưng cũng Thánh Vịnh đó – nó vạch ra lại sự hiện diện của Chúa trong những mùa khác nhau của đời sống – mời gọi chúng ta hãy tiếp tục hy vọng : khi tuổi già sẽ đến và tóc sẽ bạc, Người sẽ còn ban cho chúng ta sự sống và sẽ không cho phép chúng ta bị tràn ngập bởi điều ác. Bằng cách tin cậy nơi Người, chúng ta sẽ tìm được sức mạnh để nhân lên gấp bội sự ca tụng (x. c. 14-20) và chúng ta sẽ khám phá ra rằng trở nên già nua không chỉ là sự hư hại tự nhiên của thân xác hay là sự qua đi không sao tránh được của thời gian, nhưng đó là ơn trường thọ. Lão hóa không phải là một sự lên án, mà là một sự chúc lành !

Để như thế, chúng ta phải theo dõi chính chúng ta và học cách để sống một tuổi già tích cực, kể cả quan điểm thiêng liêng, bằng cách vun trồng đời sống nội tại qua việc chuyên chú đọc Lời của Thiên Chúa, qua cầu nguyện hàng ngày, qua việc chịu những bí tích và sự tham dự Phụng Vụ. Và, với mối quan hệ với Thiên Chúa, các quan hệ với những người khác : trước hết là gia đình, các con cháu, mà chúng ta phải cống hiến lòng yêu mến của đầy sự chú tâm của chúng ta ; cũng như những người nghèo và đau khổ, mà chúng ta phải gần gũi qua sự hỗ trợ cụ thể và bởi cầu nguyện. Tất cả điều này sẽ giúp chúng ta không cảm thấy chúng ta chỉ đơn giản là những kẻ bàng quan trong một rạp hát của thế gian, không chỉ hài lòng đứng « nhìn từ bao lơn », đứng ở cửa sổ. Trái lại, bằng cách tinh luyện các giác quan của chúng ta để nhận biết sự hiện diện của Chúa[2], chúng ta sẽ giống như « những cây ôliu đẹp trong nhà Thiên Chúa » (x. Tv 52,10), chúng ta sẽ có thể là một sự chúc lành cho những người sống bên cạnh chúng ta.

Tuổi già không phải là một thời gian vô ích mà chúng ta phải sống ẩn và ngưng không tiến bộ nữa ; nhưng là một mùa mà chúng ta còn có thể đơm hoa kết quả : một sứ mạng mới chờ đợi chúng ta và mời gọi chúng ta hãy hướng mắt tới tương lai. « Sự nhạy cảm đặc biệt của chúng ta là những người già, đối với những dấu chỉ của sự quan tâm, những tư tưởng và những dấu ấn của lòng thương mến khiến cho chúng ta là những con người, phải trở thành  một ơn gọi cho nhiều người. Và đó sẽ là một sự lựa chọn của tình yêu của những người già đối với những thế hệ mới »[3]. Đó là sự đóng góp của chúng ta vào cuộc cách mạng của sự dịu dàng[4], cuộc cách mạng thiêng liêng và không có vũ khí mà tôi mời gọi anh chị em, thưa quý vị ông bà và các vị cao niên, hãy trở thành những người chủ chốt.

Thế giới đang sống một thời đại của thử thách nặng nề, được đánh dấu bời trận bão đại dịch bất ngờ và dữ tợn ; tiếp đến là một cuộc chiến tranh đang gây thương tích cho hòa bình và phát triển trên quy mô quốc tế. Đây không phải là một sự ngẫu nhiên nếu chiến tranh đã trở lại trên Châu Âu vào cái lúc mà thế hệ đã từng phải sống với nó trong thế kỷ trước đang dần dần biến mất. Và những cuộc khủng hoảng lớn có rủi ro khiến cho chúng ta trở nên vô cảm vì lẽ có nhiều những « nạn dịch » khác và những hình thức tỏa lan khác của bạo lực đang đe dọa gia đình nhân loại và ngôi nhà chung của chúng ta.

Đối mặt với tất cả những chuyện này, chúng ta cần có một sự thay đổi sâu rộng, một sự hối cải mang tính phi quân sự hóa lòng người và cho phép mỗi người nhìn nhận nơi người khác một người anh em của mình. Và chúng ta, những bậc ông bà và những người lớn tuổi, có một trách nhiệm lớn lao : dạy dỗ những phụ nữ và nam giới của thời đại chúng ta để coi những người khác với cùng một ánh mắt thông cảm và dịu hiền mà chúng ta thường nhìn vào các cháu của chúng ta. Chúng ta đã tinh luyện tính nhân bản của chúng ta bằng cách săn sóc người khác, và ngày hôm nay, chúng ta có thể làm chủ một cách hòa bình và quan tâm đối với những người yếu đuối nhất. Điều này, có lẽ, sẽ có thể được coi như một sự yếu đuối hay một sự phục tùng, nhưng chính là những người hiền lành, không hung hăng và lạm quyền, sẽ nhận được đất hứa làm gia nghiệp (x. Mt 5,4).

Một trong những hoa quả chúng ta được kêu gọi phải mang là sự chăm sóc thế giới. « Tất cả chúng ta đều đã trải qua cái thời ngồi trong lòng các ông bà của mình, các vị đã bồng ẵm chúng ta trên tay »[5] ; nhưng ngày hôm nay, đã đến lúc chúng ta phải đặt trên lòng chúng ta – bằng sự giúp đỡ cụ thể hay chỉ bằng cầu nguyện -, ngoài những con cháu của chúng ta, còn cả bao những con cháu khác đang sợ hãi mà chúng ta còn chưa biết đến và chúng, có lẽ, đang chạy loạn chiến tranh hay đang đau khổ vì chiến tranh. Chúng ta hãy giữ trong lòng – như thánh Giuse, người cha nhân lành và chu đáo – các trẻ em của Ukraina, của Afghanistan, của Nam Suđan…

Nhiều người trong chúng ta đã nuôi dưỡng một lương tâm khôn ngoan và khiêm tốn, mà thế giới rất cần : người ta không thể tự cứu lấy mình được, hạnh phúc là một tấm bánh cùng nhau ăn. Chúng ta hãy làm chứng cho điều đó cho những người có ảo tưởng tìm được sự triển nở cá nhân và sự thành công trong sự chống đối. Tất cả mọi người, kể cả những người yếu đuối nhất, có thể làm điều này : cách của riêng chúng ta để được trợ giúp – nhiều khi bởi những người đến từ những nước khác –  là một cách nói rằng cùng nhau chung sống không những là có thể được, mà còn là cần thiết nữa.

Thưa quý vị ông bà, thưa quý vị cao nhiên, chúng ta được kêu gọi trở thành những người thợ xây dựng một cuộc cách mạng dịu dàng cho thế giới của chúng ta ! Chúng ta hãy làm điều này bằng cách học hỏi luôn sử dụng nhiều hơn và tốt hơn dụng cụ quý giá nhất mà chúng ta có, và rất thích hợp với tuổi tác của chúng ta : đó là cầu nguyện. « Chúng ta cũng thế, chúng ta hãy trở thành những thi sĩ của cầu nguyện : chúng ta hãy tìm cái thú đi tìm những từ ngữ của chúng ta, chúng ta hãy  lấy những điều mà Lời Thiên Chúa dạy chúng ta »[6]. Lời khẩn nguyện đầy tin cậy của chúng ta có thể làm nhiều chuyện : nó có thể đi theo tiếng kêu đau đớn của người đang đau khổ và nó có thể góp phần để thay đổi lòng người. Chúng ta có thể là « ca đoàn lớn thương xuyên của một thánh địa thiêng liêng, nơi cầu nguyện khẩn xin và bài ca chúc tụng nâng đỡ cộng đoàn đang làm việc và đấu tranh trên hiện trường của đời sống[7] ».

Như thế, Ngày Thế Giới các bậc Ông Bà và những Người Lớn Tuổi là một cơ hội để một lần nữa nói lên với niềm vui mừng rằng Hội Thánh muốn mừng lễ với những người mà Chúa – như Thánh Kinh đã nói – đã « ban thỏa thuê ngày tháng ». Chúng ta hãy cùng nhau mừng lễ này ! Tôi mời gọi anh chị em hãy loan truyền Ngày này trong các giáo xứ và cộng đoàn của anh chị em ; hãy đi tìm gặp những người lớn tuổi cô đơn nhất, ở nhà hay trong những cư xá nơi các cụ sống. Chúng ta hãy làm thế nào để không một ai phải sống trong sự cô đơn trong ngày này. Có ai đó để đợi chờ có thể làm thay đổi hướng đi những ngày của những người không còn mong đợi gì tốt đẹp nữa từ tương lai ; và, từ một buổi gặp gỡ đầu tiên, có thể nẩy sinh một tình bạn mới. Sự viếng thăm những người lớn tuổi, cô đơn là một công trình từ thiện của thời đại chúng ta !

Chúng ta hãy cầu xin Đức Trinh Nữ, Đức Mẹ Nhân Hiền, làm cho mỗi người chúng ta thành một người thợ của cuộc cách mạng nhân ái, để cùng nhau giải thoát thế giới ra khỏi bóng tối của sự cô đơn và của con quỷ chiến tranh.

Mong rằng Phép Lành của tôi đến tận tất cả mọi người trong anh chị em và những người thân yêu của anh chị em, với sự cam kết của sự gần gũi thân mến của tôi. Và xin vui lòng, đừng quên cầu nguyện cho tôi !

Rôma, Thánh Gioan Latran, ngày 03 tháng 5 năm 2022, lễ kính các thánh Tông Đồ Philiphê và Giacôbê.

PHANXICÔ

__________________

[1] Bài giáo lý về Tuổi Già – 1. Ân sủng của thời gian và giao ước của các độ tuổi của cuộc đời (23/02/2022)

[2] Bài giáo lý về Tuổi Già – 5. Lòng « trung thành với sự thăm viếng của Thiên Chúa đối với thế hệ tương lai » (30/3/2022)

[3] Bài giáo lý về Tuổi Già – 3. Tuổi già, một tài nguyên cho một tuổi trẻ vô tư  (16/3/2022)

[4] Bài giáo lý về Thánh Giuse – Thánh Giuse trong sự dịu hiền (19/01/2022)

[5] Bài giảng trong Thánh Lễ cho Ngày Thế Giới các bậc Ông Bà cà các Người Lớn Tuổi lần thứ nhất (25/7/2021)

[6] Bài giáo lý về gia đinh 7. Các Bậc Ông Bà (11/3/2015)

[7] Ibid..

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit

La vieillesse, «une saison où l’on peut porter encore des fruits» – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Tuổi già « một mùa mà người ta còn có thể mang hoa trái »

« Con đường để khám phá tình yêu của Chúa là
lắng nghe Người »

Lời Đức Giáo Hoàng trước Kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng

MAI 09, 2022 17 :09 HÉLÈNE GINABATANGÉLUSPAPE FRANÇOIS

Kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng ngày 23 tháng 5 năm 2021

« Con đường để khám phá tình yêu của Chúa là lắng nghe Người », ĐGH Phanxicô khẳng định. Ai lắng nghe Người, « trải nghiệm điều rất đẹp, nghĩa là được chính Chúa lắng nghe : Người lắng nghe chúng ta khi chúng ta cầu xin Người, khi chúng ta tin cậy nơi Người, khi chúng ta khẩn cầu Người ».

Trước khi đọc Kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng ngày chúa nhật 08/5/2022, ĐGH Phanxicô đã bình giảng ba động từ của bài Phúc Âm theo thánh Gioan trong đó Chúa Giêsu khẳng định rằng « Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi ». Theo những lượng định của sở Cảnh sát Vatican, khoảng 20 000 người đã tề tựu trên Quảng Trường Thánh Phêrô trong buổi hẹn chúa nhật này.

Nhưng « thật là khó cho chúng ta để lắng nghe », Đức Giáo Hoàng lấy làm tiếc. Ngày hôm nay, ngài đã lưu ý, « chúng ta sợ im lặng ». Ngài đã buồn lòng về « sự hấp tấp » muốn « luôn phải làm hay nói chuyện gì », ngăn cản sự lắng nghe người khác cho đến cùng, « kể cả trong Hội Thánh ». Tuy nhiên, « người lắng nghe người khác thì cũng biết lắng nghe lời Chúa, và ngược lại ».

« Nếu chúng ta lắng nghe Người », ĐGH Phanxicô nói tiếp, « chúng ta sẽ khám phá là Chúa biết chúng ta », trong ý nghĩa Kinh Thánh của từ ngữ, nghĩa là Người « thương yêu chúng ta ». Như thế, « trong những tình thế khó khăn, chúng ta có thể khám phá ra rằng chúng ta được Chúa biết đến và thương yêu », « Người không bao giờ bỏ chúng ta một mình ». Và Đức Giáo Hoàng đã kết luận bằng cách cầu khẩn Đức Mẹ Maria để Mẹ « phù giúp chúng ta để lắng nghe Chúa Kitô, để luôn nhận biết Người nhiều hơn và để đi theo Người trên con đường phục vụ ».

Sau đây là bản dịch những lời của Đức Giáo Hoàng trước Kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng.

Lời ĐGH Phanxicô trước Kinh Lậy Nữ Vương Thiên Đàng

Thân chào quý anh chị em

Bài Phúc Âm trong phụng vụ ngày hôm nay nói về quan hệ giữa Chúa và mỗi người chúng ta (x. Ga 10, 27-30). Để làm rõ chuyện này, Chúa Giêsu sử dụng một hình ảnh dịu dàng, một hình ảnh đẹp, hình ảnh người mục tử với đàn chiên. Và ngài đã giải thích dụ ngôn bằng ba động từ : « Chiên của tôi », Chúa Giêsu phán, « thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi » (c.27). Ba động từ ; nghe, biết, theo. Chúng ta hãy xem xét về ba động từ này.

Trước hết, chiên nghe tiếng người mục tử. Sáng kiến luôn đến từ Chúa ; tất cả đi từ ân điển của Người : chính Người là Đấng kêu gọi chúng ta vào sự hiệp thông với Người. Nhưng sự hiệp thông này nẩy sinh ra nếu chúng ta mở tai ra để lắng nghe ; nếu chúng ta bịt tai không nghe, thì Người không thể ban cho chúng ta sự hiệp thông đó. Mở lòng ra để nghe bởi vì nghe là sự sẵn sàng, nghĩa là sự ngoan hiền, nghĩa là dành thời gian cho đối thoại. Ngày hôm nay, chúng ta bị lôi cuốn bởi những những câu nói và sự vội vã luôn muốn nói hay muốn làm một cái gì đó, quả thật là có bao nhiêu lần hai người nói chuyện với nhau mà một người không đợi người kia nói hết câu, đã cắt ngang, và trả lời… Nếu chúng ta không để người ta nói, tức là không có lắng nghe. Đây là cái xấu của thời đại chúng ta. Ngày nay, chúng ta bị cuốn hút bởi những tiếng nói, bởi sự hấp tấp có chuyện phải nói, chúng ta sợ im lặng. Biết bao cố gắng cần phải có để lắng nghe lẫn nhau ! Anh chị em hãy lắng nghe nhau đến cuối câu, hãy để cho người khác bầy tỏ hết ý mình, hãy lắng nghe lẫn nhau trong gia đình, ở trường học, nơi sở làm và thậm chí cả trong Hội Thánh ! Nhưng đối với Chúa, trước hết phải lắng nghe. Người là Lời của Chúa Cha và người Kitô hữu là người con của sự lắng nghe, được kêu gọi sống với Lời của Thiên Chúa nằm trong tầm tay. Ngày hôm nay, chúng ta hãy tự hỏi, chúng ta có là con cái của sự lắng nghe không, chúng ta có tìm thời gian cho Lời của Thiên Chúa không, chúng ta có dành không gian và sự chú ý cho các người anh chị em của chúng ta không ? Chúng ta có biết nghe đến lúc người khác nói hết câu, mà không cắt ngang lời nói của họ không ? Những người lắng nghe người khác thì cũng biết lắng nghe lời Chúa, và ngược lại. Và người đó trải nghiệm điều rất đẹp, nghĩa là được chính Chúa lắng nghe : Người lắng nghe chúng ta khi chúng ta cầu xin Người, khi chúng ta tin cậy nơi Người, khi chúng ta khẩn cầu Người.

Như thế, lắng nghe Chúa Giêsu trở thành phương tiện để khám phá rằng Người biết chúng ta. Đây là động từ thứ nhì liên quan đến người mục tử : Mục tử biết các chiên của mình. Nhưng điều này không chỉ có nghĩa Người biết hết mọi chuyện về chúng ta : nên biết rằng theo ý nghĩa Kinh Thánh biết cũng có nghĩa là thương yêu. Điều này có nghĩa là Chúa, tuy « thấy rõ trong lòng chúng ta », thương yêu chúng ta, không phán xét chúng ta. Nếu chúng ta lắng nghe Người, chúng ta sẽ khám phá ra điều đó, là Chúa thương yêu chúng ta. Cách  khám phá Tình Yêu của Chúa là lắng nghe Người. Như thế quan hệ với Người sẽ không phải là phi nhân cách, lạnh lùng hay phiếm diện. Chúa Giêsu tìm kiếm một tình bạn ấm áp, một sự thân mật, một sự trìu mến. Người muốn ban cho chúng ta một sự hiểu biết mới và tuyệt vời : sự  hiểu biết rằng chúng ta luôn được thương yêu bởi Người và như thế, không bao giờ chúng ta bị bỏ lại một mình. Bằng cách ở với Đấng Mục Tử Nhân Lành, chúng ta trải nghiệm điều được nói trong Thánh Vịnh : « Dầu qua lũng âm u, con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng » (Ps 22,4). Nhất là trong những đau khổ, trong những đấu tranh, trong những khủng hoảng vốn là những đêm tối : Người nâng đỡ chúng ta bằng cách vượt qua cùng với chúng ta. Và như thế, chính xác là trong những tình huống khó khăn, chúng ta có thể khám phá ra rằng chúng ta được Chúa biết đến và thương yêu. Vậy thì, chúng ta hãy tự hỏi : liệu tôi có để Chúa biết tôi không ? Tôi có dọn chỗ cho Người trong cuộc đời của tôi không ? Tôi có mang đến cho Người những gì tôi sống không ? Và, sau nhiều lần tôi đã trải nghiệm sự gần gũi của Người, lòng từ bi của Người, sự dịu dàng của Người, tôi nghĩ về Chúa như thế nào ? Chúa gần gũi, Chúa là Mục Tử Nhân Lành.

Sau cùng, động từ thứ ba : đàn chiên vốn nghe quen và được biết đến nên đi theo : chúng nghe Chúa, chúng cảm thấy được Chúa biết và đi theo Chúa, Người là Mục Tử của chúng. Và người đi theo Chúa Kitô, người đó làm gì ? Người đó đi tới nơi Chúa đi, trên cùng một con đường, cùng một hướng đi. Người ấy đi tìm những kẻ bị lạc (x. Lc 15,4), người ấy chú ý tới những kẻ ở xa, người ấy ôm trong lòng mình tình cảnh của những người đang đau khổ, người ấy biết khóc với những kẻ đang khóc, người ấy đưa tay ra nâng đỡ tha nhân, người ấy gánh vác người lân cận trên lưng mình. Và tôi thì sao ? Tôi có để mình chỉ được thương yêu bởi Chúa Giêsu, có để chúng ta được yêu thương, tôi có chuyển sang yêu mến Người, noi gương Người không ? Cầu xin Đức Trinh Nữ phù giúp chúng ta để biết lắng nghe Chúa Kitô, để biết Người ngày càng nhiều hơn và để đi theo Người trên con đường phục vụ. Quý anh chị em hãy nghe Người, hãy nhận biết Người và hãy đi theo Người.

© Traduction de Zenit, Hélène Ginabat

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

« Le chemin pour découvrir l’amour du Seigneur consiste à l’écouter » – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở « Con đường để khám phá tình yêu của Chúa là
lắng nghe Người »

Sự thống nhất Kitô hữu – cuộc chiến tranh chất vấn « lương tâm của mỗi Kitô hữu » ĐGH nói

« Hoặc chúng ta cùng nhau đi tới, hoặc là chúng ta không thể bước đi »  

MAI 06, 2022 18:01 MARINA DROUJININAPAPE FRANÇOIS

Hội đồng tông tòa về sự thống nhất các Kitô hữu, ngày 06/5/2022

ĐGH Phanxicô khẳng định rằng « ngày hôm nay, trước tính dã man của chiến tranh », sự « khát vọng hiệp nhất » của các Kitô hữu « phải được phục hồi ». Cuộc chiến tranh tại Ukraina, « độc ác và điên cuồng như mọi cuộc chiến tranh, nhưng nó có một tầm vóc lớn hơn và đe dọa toàn thế giới, và nó không thể thiếu chất vấn lương tâm của mỗi người Kitô hữu và mỗi Giáo Hội », ngài nhấn mạnh.

Khi tiếp kiến các tham dự viên khóa khoáng đại của Hội Đồng tông tòa cho sự hiệp nhất các Kitô hữu, hôm thứ sáu 06/5/2022 vừa qua, Đức Giáo Hoàng đã tuyên bố rằng « việc loan truyền Phúc Âm của hòa bình, của Tin Mừng này vốn không giải giới các tâm hồn trước cả những quân đội, thì sẽ không thể đáng tin cậy bằng nếu nó được loan truyền bởi các Kitô hữu cuối cùng đã hòa giải với Chúa Giêsu, Vua Hòa Bình ».

Trong bài diễn văn của ngài, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh rằng « một kết quả đại kết có ý nghĩa đầu tiên của đại dịch đã là một ý thức được nhắc lại của sự thống thuộc vào gia đình Kitô giáo duy nhất », « một ý thức bám rễ vào trong kinh nghiệm chia sẻ cùng sự mỏng giòn và chỉ trông cậy vào sự phù trợ của Thiên Chúa ».

Ngày hôm nay, đối với một người Kitô hữu ngài nói tiếp : « không thể một mình bước đi với chỉ tín ngưỡng của mình. Hoặc là chúng ta phải cùng nhau bước đi, tất cả các tín ngưỡng anh em, hoặc là chúng ta không bước đi bước nào cả »

Đức Giáo Hoàng cảnh báo chống lại sự « tự mãn » và « tự quy chiếu, vốn là những cản trở cho đại kết » : « Trong một số quốc gia, ngài nói, đã có sự thức dậy của tính cho mình là trung tâm – có thể nói như thế – của một số những cộng đoàn Kitô hữu đang thụt lùi và không thể tiến lên. Ngày hôm nay, hoặc là tất cả chúng ta cùng nhau bước đi, hoặc là chúng ta không thể bước đi bước nào cả, ngài nhắc lại. Ý thức này là một chân lý và là một ân điển của Thiên Chúa ».  »

Cuộc chiến tranh tại Ukraina : « một thách đố bi thảm »

Ngay trước cả sự chấm dứt tình trạng khẩn trương về y tế, ĐGH Phanxicô ghi nhận, « toàn thế giới đã phải đối mặt với một thách đố bi thảm mới, cuộc chiến tranh đang diễn ra tại Ukraina ». Các cuộc chiến tranh vùng « không bao giờ thiếu từ khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt », ngài nhận xét, « nhưng vi các cuộc chiến đó diễn ra ở xa, chúng ta không thấy chúng », trong lúc mà cuộc chiến tranh này « gần và khiến chúng ta phải phản ứng ».

Cuộc chiến tranh tại Ukraina mời gọi chúng ta tự hỏi điều gì các Giáo Hội có thể làm « để góp phần vào việc ‘‘phát triển một cộng đồng thế giới, có khả năng thực hiện tình huynh đệ từ các dân tộc và các quốc gia để sống trong tình bằng hữu xã hội’’ » (Fratelli tutti, 154). « Đó là một vấn đề mà chúng ta phải cùng nhau suy nghĩ », Đức Giáo Hoàng nói.  

Ngài nhấn mạnh rằng « bỏ qua những chia rẻ giữa các Kitô hữu, vì thói quen hay vì cam chịu, có nghĩa là dung thứ cho sự ô nhiễm trái tim vốn biến đất đai thành mầu mỡ cho những cuộc tranh chấp ».

« Sự loan truyền Phúc Âm hòa bình » chỉ « khả tín » khi nó được tiến hành bởi « những người Kitô hữu cuối cùng đã hòa giải với Chúa Giêsu », các « Kitô hữu được thúc đẩy bởi thông điệp của Người về tình yêu phổ quát và huynh đệ, vốn vượt qua các biên giới của cộng đồng riêng và quốc gia của họ ».

Công Đồng Nixê : kỷ niệm 1700 năm.

Đức Giáo Hoàng hoan nghênh sự nghiên cứu của Hội Đồng tông tòa cổ vũ hợp nhất Kitô hữu về « cách cử hành nghi thức đại kết năm thứ 1700 kỷ niệm Công Đồng Nixê thứ nhất, sẽ diễn ra vào năm 2025 ». « Kiểu mẫu và những quyết định của Công Đồng Nixê, ngài nói, phải soi sáng con đường đại kết hiện tại và dấy lên những bước cụ thể mới hướng về mục tiêu của sự tái lập hoàn toàn sự hợp nhất các Kitô hữu ».

Vì rằng ngày kỷ niệm 1700 năm Công Đồng « trùng hợp với năm thánh », Đức Giáo Hoàng « hy vọng rằng việc cử hành năm thánh sắp tới sẽ có tầm vóc đại kết thích hợp ».

Đức Giáo Hoàng nhắc lại rằng Công Đồng đại kết đầu tiên « đã là một hành động công nghị và nó cũng đã thể hiện tính công nghị ở cấp Giáo Hội hoàn vũ như là hình thức sống và tổ chức của cộng đồng Kitô giáo », do đó lời mời gọi gửi tới Các Hội Đồng Giám Mục nên «  tìm các phương tiện để lắng nghe, trong tiến trình công nghị hiện thời của Giáo Hội công giáo, những tiếng nói của anh chị em thuộc các tín ngưỡng khác về vấn đề liên quan đến đức tin và chức năng phục vụ trên thế giới ngày hôm nay ».

« Bước đi như những người anh em »

Kết thúc bài diễn văn của ngài, Đức Giáo Hoàng mời gọi các Kitô hữu hãy « cùng nhau bước đi ». « Đích thực là công việc thần học là rất quan trọng và chúng ta phải suy nghĩ, ngài nói, nhưng chúng ta không thể chờ đợi đến khi các nhà thần học đồng ý với nhau mới đi con đường hợp nhất ».

Một lần kia, ĐGH Phanxicô kể, « có một nhà thần học chính thống giáo đã nói với tôi rằng ông ta biết khi nào thì các nhà thần học sẽ đồng ý. Bao giờ ? Ngày hôm sau ngày phán xét chung, ông ta nói với tôi. Nhưng trong khi chờ đợi ? Bước đi như những người anh em, trong lời cầu nguyện chung, trong những công trình bác ái, trong việc tìm kiếm sự thật. Như các người anh em. Và tình huynh đệ này là cho tất cả chúng ta ».

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Unité des chrétiens : la guerre interpelle « la conscience de chaque chrétien », dit le pape – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Sự thống nhất Kitô hữu – cuộc chiến tranh chất vấn « lương tâm của mỗi Kitô hữu » ĐGH nói

Tuổi già « nơi quyết định và không thể thay thế » của sự làm chứng cho đức tin

Bài Giáo Lý (toàn văn)

MAI 04, 2022 17:33 HÉLÈNE GINABATAUDIENCE GÉNÉRALEPAPE FRANÇOIS

Triều kiến chung ngày 04/5/2022

Tuổi già là « nơi quyết định » và « không thể thay thế » của sự làm chứng cho đức tin : người già « có sứ mạng rất quan trọng » là « vinh danh đức tin, và làm cho đức tin gắn bó chặt chẽ », « đến cùng », ĐGH Phanxicô đã khẳng định hôm thứ tư 04/5/2022.

ĐGH Phanxicô đã tiếp tục các bài giáo lý của ngài về chủ đề tuổi già. Trong buổi triều kiến chung trên Quảng Trường Thánh Phêrô, hôm 04/5/2022, trước khoảng 12 000 tín hữu, ngài đã bình giảng hình ảnh ông già Elêazar, trong Sách các vị tử đạo của Israel (sách Macabê), cuốn thứ hai, cụ đã từ chối một mưu kế để cụ thoát chết, nhằm không để các người trẻ bị lầm lạc bởi tấm gương của cụ.

Đức Giáo Hoàng tố cáo « cám dỗ ngộ đạo », « rất thời thượng vào lúc đó », theo cám dỗ này, « đức tin là một tâm linh, không phải là một sự thực tiễn ; một sức mạnh tinh thần, không phải là một cách sống ». Nếu đức tin Kitô giáo thực sự « không bao giờ bị thu hẹp lại thành một tổng hợp những lề luật về ăn uống hay hành xử ngoài xã hội », tuy nhiên nó là « thực tế » và « không chỉ là đọc kinh Tin Kính » mà là « tư duy nó », « hiểu biết nó » và « thực hành nó bằng hành động tay chân ».  

Bằng sự làm chứng của cụ, cụ Elêazar cho thấy rằng việc thực hành đức tin không phải là « một lớp vỏ bọc bên ngoài mà người ta có thể bỏ đi, khi nghĩ rằng có thể giữ nó trong lòng » : « một cách hành xử như thế không tôn vinh đức tin, kể cả trước mặt Thiên Chúa », Đức Giáo Hoàng giải thích. « Sự tầm thường hóa bề ngoài » sẽ có một « tác dụng tàn phá đối với đời sống nội tâm của giới trẻ ».  

Bài Giáo Lý về tuổi già – 8. Cụ Êlada, sự gắn bó chặt chẽ của đức tin, gia sản của danh dự

Thân chào quý anh chị em !

Trong hành trình của bài giáo lý này về tuổi già, ngày hôm nay chúng ta gặp một nhân vật của Thánh Kinh – một người già – có tên là Êlada, cụ đã sống ở thời kỳ bách hại của Antiochus Epiphane. Đây là một hình ảnh đẹp. Hình ảnh của cụ truyền lại cho chúng ta một sự làm chứng cho một quan hệ đặc biệt hiện hữu giữa lòng chung thủy của tuổi già và danh dự của đức tin. Ông cụ phải hãnh diện lắm phải không ? Tôi đích thực muốn nói đến danh dự của đức tin, chứ không chỉ đến sự gắn bó chặt chẽ, đến sự rao truyền, đến sự đề kháng của đức tin. Danh dự của đức tin thường hay chịu sức ép, thậm chí bạo lực, từ nền văn hóa thống trị, vốn tìm cách làm cho nó xuống cấp bằng cách cư xử với nó như là một di vật khảo cổ, hay một sự mê tín xưa cũ, một sự kiên trì lạc hậu vv…

Chuyện Kinh Thánh – chúng ta đã nghe một đoạn, nhưng tốt nhất là nên đọc toàn bộ câu chuyện – kể lại thời kỳ người Do Thái bị buộc, bởi một chiếu chỉ nhà vua, phải ăn thịt đã cúng tế ngẫu tượng. Khi đến lượt ông già Êlada, một vị trưởng thượng rất được người đời tôn kính, đã ở tuổi cửu tuần ; rất được mọi người tôn trọng – ông nói có nhiều người nghe -, các quan chức của nhà vua khuyên ông cụ giả vờ, nghĩa là làm bộ như đã ăn thịt, nhưng thật ra là không ăn. Giả bộ. Sự giả hình tôn giáo. Có nhiều phải không ? Có rất nhiều trường hợp giả hình trong tôn giáo, giả hình của tu sĩ, có nhiều. Họ nói với ông già rằng « Ông hãy giả bộ một chút, không ai biết đâu ». Như thế, ông Elada sẽ được thoát chết, và theo họ nói – nhân danh tình bạn, ông cụ sẽ có thể chấp nhận cử chỉ từ bi và tình cảm của họ. Lối thoát bằng giả hình. Rốt cuộc – họ nhấn mạnh – đây là một chuyện nhỏ, giả bộ ăn nhưng kỳ thật không ăn, một cử chỉ nhỏ thôi.

Đó là chuyện nhỏ, nhưng sự đáp trả bình tĩnh và cương quyết của ông già Êlada đặt trên một lý lẽ đánh động chúng ta. Điểm trung tâm là như sau : xỉ nhục đức tin trong tuổi già, để kiếm thêm lấy mấy ngày sống, không thể so sánh được với gia sản mà nó để lại cho những người trẻ, cho toàn thể những thế hệ tương lai. Nhưng đáng khen cho ông cụ Êlada. Một vị trưởng thượng đã sống trong sự kiên định đức tin trong cả cuộc đời của cụ, mà bây giờ lại phải thích nghi để giả vờ như chối bỏ nó, kết án thế hệ mới phải suy nghĩ rằng mọi đức tin chỉ là một trò bịp bợm, một vỏ bọc bề ngoài mà người ta có thể vứt bỏ, khi nghĩ có thể giữ gìn thầm kín trong lòng là đủ. Và không phải thế, cụ Êlada nói. Một cách hành xử như thế không tôn vinh đức tin, kể cả trước mặt Thiên Chúa. Và ảnh hưởng của sự tầm thường hóa bề ngoài sẽ mang tính phá hoại đối với nội tâm của những người trẻ. Nhưng sự kiên trì của con người này đã nghĩ tới những người trẻ ! Ông cụ nghĩ đến sự thừa hưởng tương lai, ông cụ nghĩ đến dân của cụ.

Chính xác, tuổi già – và điều đó tốt cho các cụ phải không – ở đây xuất hiện như là nơi chốn mang tính quyết định, và là nơi không thể thay thế, của sự làm chứng này. Một người già, vì lý do sự mỏng giòn của mình, có thể sẽ chấp nhận coi việc thực hành đức tin như là không đáng kể, sẽ có thể làm cho những người trẻ tin rằng đức tin không có một quan hệ thực sự nào với cuộc sống. Nó xuất hiện ra với họ, ngay từ lúc xuất phát, như một sự tổng hợp những thái độ, vốn trong trường hợp này, có thể bị giả bộ hay che dấu, vì không có gì cũng quan trọng như sự sống.

Dị giáo ngộ đạo cổ xưa, một cạm bẫy rất mạnh mẽ và rất quyến rũ đối với Kitô giáo trong những thế kỷ đầu, thần học hóa về vấn đề này, đó là một chuyện xưa cũ : đức tin là một tâm linh, không phải một sự thực hành ; một sức mạnh thiêng liêng, không phải là một lối sống. Lòng chung thủy và sự tôn vinh đức tin, theo dị giáo này, chẳng có gì liên quan đến các cách hành xử của cuộc đời, các cơ chế của cộng đồng, và các biểu tượng của thể xác. Không liên quan gì cả. Sự quyến rũ của quan điểm đó rất mạnh, vì nó diễn giải theo cách của nó, một sự thật không thể chối cãi : đức tin không bao giờ có thể bị thu hẹp vào một tổng hợp những lề luật về ăn uống hay thực hành xã hội. Đức tin là một chuyện khác. Điều phiền phức là sự cực đoan hóa ngộ đạo của sự thật này hủy bỏ tính hiện thực của đức tin Kitô giáo, bởi vì đức tin Kitô giáo là thực tiễn, đức tin Kitô giáo không chỉ là đọc kinh Tin Kính : nó là tư duy kinh Tin Kính, là hiểu rõ điều đó và thực hành điều đó. Bằng cách hành động bằng tay chân. Thay vì điều đó, đề nghị ngộ đạo này là giả bộ, nhưng điều quan trọng là bạn có tâm linh nội tại và lúc đó bạn có thể làm điều bạn muốn. Và điều này không mang tính Kitô giáo. Đây là lạc giáo đầu tiên của những kẻ ngộ đạo, vốn là rất thời thượng ở đây vào lúc đó, trong nhiều trung tâm tâm linh, vv… Và nó cũng trống rỗng sự làm chứng của những người này đã tỏ ra những dấu chỉ cụ thể của Thiên Chúa trong cuộc sống của cộng đồng và đối kháng với những đồi bại của tinh thần thông qua các cử chỉ của thân xác.

Cám dỗ ngộ đạo vốn là – chúng ta phải nói trắng ra – những lạc giáo, một trong những lệch lạc tôn giáo của thời đó, cám dỗ ngộ đạo vẫn luôn mang tính thời sự. Trong nhiều xu hướng của xã hội chúng ta và của văn hóa chúng ta, việc thực hành đức tin chịu một sự biểu thị tiêu cực, đôi khi dưới hình thức trớ trêu mang tính văn hóa, đôi khi với một sự âm thầm loại ra ngoài biên. Sự thực hành đức tin đối với những kẻ ngộ đạo này vốn đã tồn tại từ thời Chúa Giêsu, được coi như một khía cạnh vô dụng và thậm chí còn gây hại, như một thứ cặn bã lỗi thời, như một sự mê tín trá hình. Tóm lại, có cái gì đó cho người già. Sức ép mà sự chỉ trích vô căn cứ này đè lên các thế hệ trẻ là rất lớn. Đương nhiên, chúng ta biết rằng việc thực hành đức tin có thể trở thành một chuyện bề ngoài một cách vô hồn, đó là nguy hiểm khác, điều ngược lại phải không ? Và thật vậy, phải không ? Nhưng tự bản thân, nó không phải vậy. Có lẽ tùy thuộc vào chúng ta, những người lớn tuổi – và còn có những người đó ở đây – để hoàn thành một sứ mệnh quan trọng : trả lại danh dự cho đức tin, làm cho nó trở thành mạch lạc, đó là điều làm chứng của ông cụ Êlada : sự mạch lạc đến cùng. Việc thực hành đức tin không phải là biểu tượng của sự yếu đuối của chúng ta – không -, nhưng thay vào đó là dấu chỉ của sức mạnh của nó. Chúng ta không còn là lũ trẻ con. Chúng ta không đùa cợt khi chúng ta dấn thân đi theo Chúa ! Không.

Đức tin đáng được tôn trọng và tôn vinh đến cùng : nó đã thay đổi cuộc sống của chúng ta, đã thanh tẩy tâm hồn chúng ta, đã dạy chúng ta thờ lạy Thiên Chúa và yêu thương người lân cận. Đó là một sự chúc lành cho mọi người ! Nhưng toàn bộ đức tin, không phải chỉ là một phần. Như ông Êlada đã làm, chúng ta sẽ không đánh đổi đức tin lấy một nhúm ngày tháng yên ổn. Không. Kiên trì cho đến cùng. Và như thế cụ đi đến tử đạo, đúng không. Với lòng khiêm nhượng và sự kiên trì, chúng ta sẽ chứng minh cho đến lúc tuổi già, rằng tin không phải là cái gì dành « cho người già ». Không. Đây là một chuyện của cuộc sống. Anh chị em hãy tin vào Chúa Thánh Thần, Đấng canh tân mọi sự, và sẽ phù giúp chúng ta một cách tự nhiên.

Thưa quý anh chị em lớn tuổi, để không nói là già, chúng ta cùng ở trong một nhóm, xin vui lòng, chúng ta hãy chú tâm đến những người trẻ : họ nhìn chúng ta. Họ quan sát chúng ta. Anh chị em đừng quên điều đó. Điều đó làm tôi nhớ đến cuốn phim của thời hậu chiến : “Các trẻ em đang nhìn chúng ta”. Chúng ta có thể cũng nói như thế với các người trẻ : giới trẻ đang nhìn chúng ta và sự kiên trì của chúng ta có thể mở ra cho họ một con đường sống tươi đẹp. Trái lại, một sự đạo đức giả có thể có sẽ gây nhiều điều xấu. Chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau. Cầu xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả những người già chúng ta. Cảm ơn.

Copyright © Libreria Editrice Vaticana

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

La vieillesse, « lieu décisif et irremplaçable » du témoignage de la foi – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Tuổi già « nơi quyết định và không thể thay thế » của sự làm chứng cho đức tin

Chiến tranh tại Ukraina « Chúng ta đã sống giống như vậy với Rwanda » Đức Giáo Hoàng tuyên bố

Để chấm dứt chiến tranh, Đức Giáo Hoàng « sẵn sàng đi Moskva »

MAI 03, 2022 17:17 MARINA DROUJININAPAPE FRANÇOIS

Chiến tranh tại Ukraina

ĐGH Phanxicô đưa ra lời kêu gọi của ngài để chấm dứt chiến tranh tại Ukraina, để « chấm dứt sự hung bạo này » và gợi lại cuộc chiến tranh tại Rwanda : « Cách đây hai mươi lăm năm, chúng ta đã sống cùng một sự kiện với nước Rwanda », ngài khẳng định trong một cuộc phỏng vấn dành cho tờ nhật báo của Ý Corriere della Sera, số ra ngày thứ ba 03/5/2022.

Đức Giáo Hoàng nói « sẵn sàng đi tới Moskva » để gặp tổng thống Putin : « Tôi đã yêu cầu Đức Hồng Y Parolin, sau 20 ngày chiến tranh, gửi một thông điệp cho ông Vladimir Putin nói rằng tôi sẵn sàng đi tới Moskva » Đức Giáo Hoàng kể lại. « Chúng tôi chưa nhận được sự trả lời và chúng tôi tiếp tục kiên trì yêu cầu, dù cho ông Vladimir Putin không thể và không muốn cuộc họp mặt này vào giờ này. Nhưng làm sao mà không thể chấm dứt sự tàn bạo này ? ».

Liên quan đến chuyến viếng thăm Ukraina, ĐGH Phanxicô « trong lúc này » chưa chuẩn bị cho chuyến đi này : « Tôi không đi Kiev trong lúc này, ngài giải thích. Tôi đã phái Đức Hồng Y Michael Czerny, (tổng trưởng Bộ phục vụ phát triển con người toàn diện) và ĐHY Konrad Krajewski, (tuyên uý của Đức Giáo Hoàng) ngài đã đến đó lần thứ tư. Nhưng tôi cảm thấy rằng tôi không nên đến đó. Tôi phải đi Moskva trước đã, trước hết tôi phải gặp Putin. Nhưng tôi cũng là linh mục, tôi có thể làm gì ? Tôi làm điều tôi có thể làm. Nếu Putin mở cửa… »

Trong cuộc phỏng vấn, ĐGH Phanxicô « nhắc lại nhiều lần rằng ngài sẵn sàng đi đến Moskva », theo những lời của ông giám đốc của tờ Corriere della Sera, Luciano Fontana. Đức Giáo Hoàng cũng kể nhiều những nỗ lực trung gian hòa giải, ngay từ ngày đầu của cuộc chiến tranh Ukraina : « Ngày đầu của cuộc chiến tranh, tôi đã gọi điện thoại cho tổng thống Ukraina Zelensky, ĐGH Phanxicô nói. Trái lại, tôi đã không gọi Putin. Tôi đã nghe ông ta vào tháng 12 nhân ngày sinh nhật của tôi, nhưng lần này thì không, tôi đã không gọi. Tôi muốn làm một cử chỉ rõ ràng để toàn thế giới nhìn thấy và vì thế tôi đã đi gặp đại sứ Nga. Tôi đã yêu cầu họ giải thích, tôi đã nói : « Hãy dừng lại, xin vui lòng ».

« Chiến tranh thật là khủng khiếp và phải la lên »

ĐGH Phanxicô ghi nhận rằng « không có đủ ý chí cho hòa bình ». « Chiến tranh là khủng khiếp và phải la lên », ngài tuyên bố.

Tuy nhiên, Đức Giáo Hoàng vẫn « bi quan » đối với tình hình ở Ukraina : « Ông Orbán (Thủ tướng Hungari), khi tôi gặp ông, ông đã nói rằng người Nga đã có kế hoạch, rằng tất cả sẽ xong ngày 09 tháng 5. Tôi hy vọng là như vậy, để chúng ta cũng hiểu được tốc độ của sự leo thang trong những ngày này. Bởi vì bây giờ, không chỉ là vùng Donbass, chính là Crimée, chính là Odessa, nó cướp đi hải cảng trên Biển Đen của Ukraina, thế thôi. Tôi bi quan, nhưng phải làm mọi chuyện có thể để chấm dứt chiến tranh ».

« Buôn bán vũ khí là một điều điếm nhục »

Trong cuộc phỏng vấn, Đức Giáo Hoàng khẳng định : « Các cuộc chiến tranh đã được tiến hành vì điều đó : để thí nghiệm vũ khí mà chúng ta đã làm ra… Việc buôn bán vũ khí là một điều điếm nhục, ít có người chống lại điều đó.

ĐGH Phanxicô chống lại một sự leo thang trong việc sản xuất vũ khí mà, sớm muộn gì, có ai đó sẽ quyết định mang ra thử trên hiện trường : « Tôi không thể trả lời, tôi ở quá xa, cho câu hỏi để biết có đúng để tiếp tế vũ khí cho người Ukraina không, ngài nói. Điều rõ ràng là vũ khí đã được thí nghiệm trên đất đó. Người Nga bây giờ biết rõ là chiến xa là vô dụng và nghĩ đến thứ vũ khí khác.

Ghi nhận rằng « ít » người chống buôn bán vũ khí, Đức Giáo Hoàng kể ra một thí dụ của sự chống đối này : « cách đây hai hay ba năm, một chiếc tầu đã đến cảng Gênôva, chứa đầy vũ khí cần phải chuyển sang một tầu chở hàng lớn để mang đến Yêmen. Các công nhân cảng không muốn làm việc này. Họ nói : chúng ta hãy nghĩ đến các trẻ em của Yêmen. Đây là một chuyện nhỏ, nhưng là một cử chỉ đẹp ».

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Guerre en Ukraine : « Nous avons vécu la même chose avec le Rwanda », déclare le pape – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Chiến tranh tại Ukraina « Chúng ta đã sống giống như vậy với Rwanda » Đức Giáo Hoàng tuyên bố

Khi « trên đời, những mẻ lưới của chúng ta trống rỗng » – ba động từ của ĐGH Phanxicô

Những lời của Đức Giáo Hoàng trước Kinh Lậy Nữ Vương Thiên Đàng (Toàn văn)

MAI 02, 2022 18 :26 HÉLÈNE GINABATPAPE FRANÇOIS

Kinh Lậy Nữ Vương Thiên Đàng, 01 tháng 5 năm 2022

« Khi trên đời, những mẻ lưới của chúng ta không có cá », ĐGH Phanxicô đã khẳng định, « đó là lúc tái xuất hành với Chúa Giêsu, đó là lúc tìm được can đảm để bắt đầu trở lại, đó là lúc phải ra khơi lại với Chúa Giêsu », bằng cách lấy hứng từ chuyện mẻ lưới phép lạ trong Tin Mừng theo thánh Gioan, trong đó ông Phêrô đã nhẩy xuống nước sau khi nhận ra Chúa, Đấng đã phán ông thả lưới lại.

Trước Kinh Lậy Nữ Vương Thiên Đàng – sẽ thay thế Kinh Truyền Tin ngày chúa nhật trong mùa Phục Sinh, từ lễ Phục Sinh tới lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống – ĐGH Phanxicô đã bình giảng ngắn gọn bài Phúc Âm ngày chúa nhật 01/5/2022, từ cửa sổ văn phòng của ngài trông xuống Quảng Trường Thánh Phêrô là nơi đã tìm lại được các khách hành hương như trước đại dịch : hơn 30 000 tín hữu và du khách, theo sở cảnh sát của Vatican.

« Ba động từ : ra đi lại, khởi đầu lại, ra khơi lại », Đức Giáo Hoàng đã giải thích. « Trước một sự thất vọng hay khi một cuộc đời đã mất đi đôi chút ý nghĩa – « ngày hôm nay, tôi cảm thấy rằng tôi đã lùi bước… » – bạn hãy ra đi lại với Chúa Giêsu, hãy bắt đầu lại, hãy ra khơi lại. Người đợi bạn. Và Người chỉ nghĩ đến bạn, đến tôi, đến mỗi người chúng ta ».   

Để đi gặp gỡ Chúa Giêsu, như ông Phêrô đã làm bằng cách nhẩy xuống nước ; « phải mất thăng bằng với lòng can đảm, phải lấy lại, lấy lại trong lúc mất thăng bằng, chấp nhận rủi ro », Đức Giáo Hoàng giải thích, và ngài mời gọi tự hỏi : « tôi có khả năng tiếp cận nào với lòng quảng đại, hay tôi có kìm hãm những sự nhiệt tình trong lòng và tự giam mình trong những thói quen hay trong sự sợ hãi ? Lao ra, nhào xuống. Đó là lời của Chúa Giêsu hôm nay ».

Sau đây là những lời của ĐGH Phanxicô trước Kinh Lậy Nữ Vương Thiên Đàng

Thân chào quý anh chị em, ngày chúa nhật tốt đẹp !

Bài Phúc Âm của phụng vụ ngày hôm nay (Ga 21,1-19) kể sự hiện ra lần thứ ba của Chúa Giêsu cho các tông đồ. Đó là một cuộc gặp gỡ xẩy ra gần bên hồ Galilê và có liên quan trước hết đến ông Simôn Pherô. Tất cả bắt đầu với ông sau khi ông nói với các tông đồ khác rằng : « Tôi đi đánh cá đây » (c.3). Không có gì là lạ cả, ông đã là một ngư phủ, nhưng ông đã bỏ nghề này bởi vì trên bờ hồ này, ông đã bỏ lưới để đi theo Chúa Giêsu. Và bây giờ, trong lúc mà Đấng Phục Sinh còn đang được chờ đợi, ông Phêrô, có lẽ hơi nản lòng, đề nghị với những người khác trở lại cuộc sống trước kia. Và những người khác chấp thuận :  « Chúng tôi cùng đi với anh ». Nhưng « đêm ấy họ không bắt được gì cả » (c.3).

Điều đó cũng có thể xẩy ra cho chúng ta, vì mệt mỏi, vì thất vọng, có lẽ vì lười biếng, làm chúng ta quên Chúa và sao lãng những sự lựa chọn to lớn mà chúng ta làm, làm chúng ta bằng lòng với chuyện khác. Thí dụ như không bỏ thời gian để nói chuyện với nhau trong gia đình, chọn lựa những trò tiêu khiển cá nhân ; người ta quên cầu nguyện, người ta để mình bị lôi cuốn vào những nhu cầu cá nhân của mình ; lòng bác ái bị lãng quên, với lý do là vì những việc khẩn cấp hàng ngày. Nhưng, làm như vậy, người ta hay bị thất vọng : đó cũng chính là nỗi thất vọng của ông Phêrô, khi thấy kéo lưới lên mà không có cá, cũng như chính ông vậy. Đó là một con đường dẫn anh chị em trở về phía sau và không làm anh chị em thỏa mãn.

Và Chúa Giêsu đã làm gì với ông Phêrô ? Người trở lại trên bờ hồ, nơi Người đã chọn ông, các ông Anrê, Giacôbê và Gioan, Người đã chọn họ cả bốn người ở nơi đây. Người không hề trách cứ – Chúa Giêsu không trách cứ, Người chạm đến trái tim, luôn luôn vậy – nhưng Người kêu gọi các môn đệ của Người với sự hiền dịu : « Các con » (c.5). Rồi như lúc trước, Người mời gọi các ông thả lưới lại, một cách can đảm. Và một lần nữa, lưới đầy cá, số lương không thể tưởng tượng. Thưa quý anh chị em, khi mà trong cuộc đời, những mẻ lưới của chúng ta trống rỗng, thì đó không phải là lúc chúng ta khóc lóc than trách bản thân, là lúc chúng ta phân tâm, trở về với những trò tiêu khiển cũ của chúng ta. Đó là lúc bắt đầu bước đi lại với Chúa Giêsu, đó là lúc tìm lại sự dũng cảm để bắt đầu lại, đó là lúc chèo lại ra khơi với Chúa Giêsu. Ba động từ : ra đi lại, bắt đầu lại, chèo lại ra khơi. Thường xuyên, khi đối mặt với một nỗi thất vọng hay với một cuộc sống hơi bị mất đi ý nghĩa, – « hôm nay tôi cảm thấy mình đang thụt lùi… » – bạn hãy xuất phát lại với Chúa Giêsu, bắt đầu lại, chèo lại ra khơi ! Người thì Người chờ bạn đấy. Và Người chỉ nghĩ tới bạn, tới tôi, tới mỗi người chúng ta.

Ông Phêrô cần đến sự « chấn động » này. Khi ông nghe ông Gioan la lên rằng « Chúa đó ! » (c.7), ông nhảy ngay xuống nước và bơi về phía Chúa Giêsu. Đây là một cử chỉ của tình yêu, bởi vì tình yêu đi xa hơn những gì là hữu dụng, thực tiễn và phải làm ; tình yêu sinh ra sự ngạc nhiên, nó truyền hứng cho những sự hăng hái sáng tạo, nhưng không. Như thế, trong lúc mà ông Gioan, người trẻ nhất, nhận ra Chúa, thì chính ông Phêrô, người lớn tuổi nhất, nhẩy xuống nước để đi gặp Người. Trong cử chỉ này, đó là tất cả sự hăng hái đã được tìm lại của ông Simôn Phêrô.

Thưa quý anh chị em, ngày hôm nay, Chúa Kitô sống lại mời gọi chúng ta đến với một lòng hăng hái mới, tất cả mọi người, mỗi người trong chúng ta, Người mời chúng ta hãy nhẩy xuống trong điều thiện mà không sợ phải mất đi một cái gì, không quá tính toán, không chờ đợi để người khác bắt đầu trước. Tại sao ? Quý anh chị em đừng chờ người khác, bởi vì, để đi gặp Chúa Giêsu, cần phải mất sự thăng bằng. Phải can đảm để mất thăng bằng, làm lại và làm lại bằng cách mất thăng bằng, chấp nhận rủi ro. Chúng ta hãy tự hỏi : liệu mình có khả năng có được sự tiếp cận nào đó với lòng quảng đại không, hay là tôi đã kìm hãm những động lực của lòng mình và tôi tự giam mình tron những thói quen hay trong sự sợ hãi ? Lao ra, nhảy xuống. Đó là lời của Chúa Giêsu ngày hôm nay.

Và rồi, vào lúc cuối của đoạn văn, Chúa Giêsu phán với ông Phêrô ba lần câu hỏi : « Anh có mến Thầy không ? » (c.15.16). Đấng Phục Sinh ngày hôm nay cũng hỏi chúng ta điều đó : « Con có mến Thầy không ? ». Bởi vì vào dịp Phục Sinh, Chúa Giêsu muốn rằng tấm lòng chúng ta cũng được sống lại ; bởi vì đức tin không phải là một vấn đề của hiểu biết, nhưng là vấn đề của tình yêu. « Con có mến Thầy không ? », Chúa Giêsu hỏi ; Người hỏi bạn, hỏi tôi, hỏi tất cả chúng ta, là những kẻ không có cái dũng cảm nhẩy xuống nước và có lẽ chúng ta đã mất cái đà. « Con có mến Thầy không ? », Chúa Giêsu hỏi. Từ đó, ông Phêrô đã vinh viễn ngưng đi đánh cá và đã tận hiến cho việc phụng sự Chúa Giêsu cà các anh em của ngài, cho đến khi hiến cả mạng sống của mình ở ngay tại đây, ở nơi mà chúng ta đang đứng bây giờ. Và chúng ta, chúng ta có muốn yêu mến Chúa Giêsu không ?

Cầu xin Đức Trinh Nữ Maria, Đấng đã nhặm lẹ thưa « xin vâng » với Chúa, phù giúp chúng ta tìm lại được cái đà tiến tới vì điều thiện.

© Traduction de Zenit, Hélène Ginabat

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Quand « dans la vie, nos filets sont vides » : les 3 verbes du pape François – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Khi « trên đời, những mẻ lưới của chúng ta trống rỗng » – ba động từ của ĐGH Phanxicô

Kitô hữu và Phật tử « kiên cường trong hy vọng »

Thông điệp của Tòa Thánh Vatican cho ngày Lễ Phật Đản Vesakh (toàn văn)

MAI 02, 2022 17:37 MARINA DROUJININADIALOGUE INTERRELIGIEUX

Hội nghị Tăng già Phật Giáo Miến Điện

« Các Phật tử và các Kitô hữu kiên trì trong hy vọng » : đó là nhan đề thông điệp của Hội Đồng Tông Tòa nhân cuộc đối thoại liên tôn, gửi tới các Phật tử nhân ngày Lễ Vesakh/Hanamatsuri 2022, được công bố hôm 01/5/2022. Thông điệp mang chữ ký của vị Chủ Tịch Hội Đồng, Đức Hồng Y Miguel Angel Guixot, và của thư ký của Hội Đồng, Đức Ông Indunil Janakaratne Kodithuwakku Kankanamalage.

Nhân ngày Lễ này – sẽ được cử hành năm nay vào ngày 16 tháng 5 và tưởng nhớ đến những biến cố chính của cuộc đời của Đức Phật – những vị trách nhiệm của thánh bộ khuyến khích các Kitô hữu và các Phật tử hãy « nỗ lực là những ngọn đèn của hy vọng » để « soi sáng con đường dẫn nhân loại đến chiến thắng sự hư vô tinh thần »

Các vị khẳng định rằng « ý nghĩa tôn giáo và đạo lý của tinh thần trách nhiệm » của những người đại diện của hai tôn giáo « phải » « động viên họ nên hỗ trợ nhân loại trong việc tìm kiếm hòa giải và kiên trì »

Các tác giả của Thông Điệp « tin chắc rằng hy vọng sẽ cứu chúng ta thoát khỏi sự nản chí ». Các vị viện dẫn, về vấn đề này, những lời của một vị tăng sĩ Phật Giáo Việt Nam, Thích Nhất Hạnh (1926-2022) về « tầm quan trọng của hy vọng » : « Nó có thể làm cho khoảnh khăc hiện tại ít khó khăn hơn để chịu đựng. Nếu chúng ta tin rằng ngày mai sẽ tốt đẹp hơn, chúng ta có thể chịu đựng một sự thử thách trong ngày hôm nay ».  

« Chúng ta hãy cùng nhau hoạt động cho một ngày mai tốt đẹp hơn ! », những người trách nhiệm của thánh bộ.

Sau đây là bản văn của thông điệp.

Thông điệp của Hội Đồng Tông Tòa về đối thoại liên tôn

Phật tử và Kitô hữu kiên trì trong hy vọng

Các bạn Phật tử thân mến,

  1. Nhân dịp Lễ Vesak, kỷ niệm ngày sinh, ngày viên tịch và ngày đắc đạo của Đức Phật, chúng tôi viết cho các cộng đoàn của quý vị trên khắp thế giới để truyền đạt tới quý vị lời chào nồng nhiệt của Hội Đồng tông tòa về đối thoại liên tôn.
  1. Chúng tôi viết thông điệp này vào một lúc mà nhân loại đang phải đối đầu với nhiều cuộc khủng hoảng. Trong ba năm liên tiếp, các dân cư trên toàn thế giới đã bị bắt làm con tin bởi cuộc khủng hoảng y tế dai dẳng do dịch bệnh Covid-19 gây ra. Những thảm họa thiên nhiên thường xuyên xẩy ra gắn liền với cuộc khủng hoảng sinh thái đã phơi bầy sự mong manh của chúng ta với tư cách là những công dân chia sẻ với nhau cùng một quả địa cầu. Các cuộc tranh chấp tiếp tục gây đổ máu của những người vô tội và gây ra một sự đau khổ tổng quát. Khốn nỗi, còn có những người đã sử dụng tôn giáo để biện minh cho bạo lực. Như ĐGH Phanxicô đã buồn lòng mà nhận xét, « nhân loại, vốn tự hào về tiến bộ khoa học, về tư tưởng, về nhiều điều tốt đẹp, lại tụt hậu trong việc xây dựng hòa bình… Và điều này làm cho tất cả chúng ta hổ thẹn » (Diễn văn trước các tham dự viên Trong Hội Nghị Khoáng Đại cho các Giáo Hội Đông Phương, 18/02/2022).
  1. Mặc dù chúng ta thấy được những dấu hiệu của sự đoàn kết nổi lên để đáp lại những thảm kịch gây ra bởi các cuộc khủng hoảng này, việc tìm kiếm những giải pháp lâu bền vẫn còn khó khăn. Việc theo đuổi sự giầu có vật chất và sự bỏ rơi các giá trị tinh thần đã dẫn tới một sự tuột dốc về đạo đức toàn bộ của xã hội. Với tư cách là các Phật tử và Kitô hữu, tinh thần tôn giáo và đạo đức của chúng ta về trách nhiệm sẽ động viên chúng ta để nâng đỡ nhân loại trong việc tìm kiếm hòa giải và kiên trì. Những con người tôn giáo, được nâng đỡ bởi những nguyên tắc cao quý của họ, phải nỗ lực là những ngọn đèn của hy vọng, dù là chúng nhỏ bé, để soi sáng con đường dẫn dắt nhân loại đến chiến thắng sự hư vô tinh thần đã gây ra nhiều điều tổn thương và đau khổ.
  1. Đức Phật và Đức Giêsu Kitô hướng các tín đồ của mình đến những giá trị siêu việt, mặc dù phương cách thì khác nhau. Những chân lý cao quý của Đức Phật giải thícch nguồn gốc và những nguyên nhân của sự đau khổ và chỉ ra con đường Bát Chánh Đạo dẫn đến sự chấm dứt đau khổ. « Đó là sự chấm dứt hoàn toàn cơn « khát » đó, đó là bỏ rơi nó, là từ chối nó, là rũ bỏ nó đi » (Dhammacakkappavattanasutta, 56.11). Nếu được thực hành, giáo lý này là một phương thuốc chống sự vơ vét không ngừng dẫn đến sự tham lam và những trò chơi quyền lực. Phúc Âm không hề đề nghị bạo động như là sự đáp trả. Các mối Phúc được Đức Giêsu tuyên bố chỉ cho chúng ta làm cách nào để kiên trì bằng cách ban cho ra sự ưu tiên của những giá trị tinh thần ở giữa một thế giới đang đi đến chỗ diệt vong. « Phúc thay ai nghèo khó, phúc thay ai hiền lành, phúc thay ai sầu khổ, phúc thay ai xây dựng hòa bình » (X. Mt 5, 1-12). Họ được chúc phúc, bởi vì mặc dù những khó khăn hiện tại, họ tin tưởng vào lời hứa hạnh phúc và cứu độ của Chúa.
  1. Chúng ta có thể giúp đỡ nhân loại trở thành kiên cường bằng cách khai quật các kho báu của những truyền thống thiêng liêng của chúng ta. Đối với các Phật tử, Bát Chánh Đạo có thể phát triển lòng từ bi và trí tuệ hướng về những cam kết xã hội. Đối với các Kitô hữu, hy vọng là một trong những kho báu này. Như ĐGH Phanxicô đã nói, « niềm hy vọng mời gọi chúng ta hãy nhận biết rằng luôn có một lối ra, mà chúng ta luôn có thể làm điều gì để giải quyết các vấn đề » (Laudato si’, 61).
  1. Chúng tôi tin chắc rằng hy vọng cứu chúng ta thoát khỏi sự chán nản. Về vấn đề này, chúng tôi muốn chia sẻ trí tuệ của cố Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh về tầm quan trọng của hy vọng : « Nó có thể làm cho khoảnh khắc hiện tại ít khó khăn hơn để chịu đựng. Nếu chúng ta tin rằng ngày mai sẽ tốt đẹp hơn, chúng ta sẽ chịu đựng một cuộc thử thách ngày hôm nay » (x. Peace is Every Step, 1991, 41-42). Chúng ta hãy cùng nhau làm việc cho một ngày mai tốt đẹp hơn !
  1. Các bạn thân mến, chúng tôi cầu chúc rằng việc cử hành lễ Vesak giữ vững hy vọng sống động và sản sinh ra những hành động đón nhận và đáp trả với những nghịch cảnh bị gây ra bởi những cuộc khủng hoảng hiện nay.

Hồng Y Miguel Ángel Ayuso Guixot, MCCJ

Chủ Tịch

Đức Ông Kodithuwakku K. Indunil J.

Thư ký

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Chrétiens et bouddhistes : « résilients dans l’espérance » – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Kitô hữu và Phật tử « kiên cường trong hy vọng »

Tháng Năm – Đức Giáo Hoàng khuyến nghị lần chuỗi mỗi ngày để cầu nguyện cho hòa bình

Và ngài yêu cầu mở ra những hành lang nhân đạo tại Ukraina

MAI 02, 2022 16:40 HÉLÈNE GINABATANGÉLUSPAPE FRANÇOIS

Lậy Nữ Vương Thiên Đàng, ngày 01/5/2022

« Tôi muốn mời gọi tất cả các tín hữu và các cộng đoàn mỗi ngày hãy đọc kinh lần chuỗi trong suốt tháng Năm này để cầu nguyện cho hòa bình », ĐGH Phanxicô đã tuyên bố vào lúc cuối buổi đọc kinh Lậy Nữ Vương Thiên Đàng, hôm chúa nhật 01/5/2022, ngày đầu tiên của « tháng dâng cho Đức Mẹ Thiên Chúa ».

ĐGH Phanxicô đã đồng hành từ trên của sổ của ngài với các tín hữu trên toàn thế giới tụ tập trên Quảng Trường Thánh Phêrô, trưa ngày chúa nhật 01/5/2022, trong giờ đọc Kinh Lậy Nữ Vương Thiên Đàng – thay thế Kinh Truyền Tin trong phụng vụ mùa Phục Sinh, từ Lễ Phục Sinh đển Lễ Đức Chúa Thánh Thần Hiện Xuống.

Khi mời gọi các tín hữu lần chuỗi cầu nguyện cho hòa bình, trong tháng Năm này, là tháng dâng tiến Đức Trinh Nữ Maria, Đức Giáo Hoàng đã nhắc đến thành phố Marioupol của Ukraina « Thành Phố của Mẹ Maria », bị bom đạn và bị phá hủy một cách dã man ».  

Tôi đau đớn và tôi đã khóc khi nghĩ tới những đau khổ của dân chúng Ukraina, và đặc biệt là tới những người yếu đuối nhất, những người già và các trẻ em. Chúng ta đã nhận được cả tin tức đáng sợ về các trẻ em bị trục xuất và bị đầy ải », ngài báo động.

« Bây giờ cũng thế và ở đây cũng vậy, ĐGH Phanxicô nhấn mạnh, tôi nhắc lại lời yêu cầu của tôi là phải tổ chức những hành lang cứu trợ nhân đạo an tòan cho những người bị kẹt trong nhà máy luyện thép của thành phố này » .

Đức giáo Hoàng đã kêu gọi lương tâm của những người có tham gia vào cuộc chiến tranh này : « Trong lúc mà chúng ta chứng kiên một sự suy thoái đầy chết chóc của nhân loại, tôi tự hỏi, với nhiều người khác đang lo âu sợ sệt, ngài nói, nếu chúng ta thực sự đi tìm hòa bình, nếu có một ý chí muốn tránh khỏi một cuộc leo thang chiến tranh và leo thang lời nói liên tục và nếu chúng ta làm tất cả những gì có thể của chúng ta để làm im tiếng súng ».

« Tôi xin quý anh chị em, ĐGH Phanxicô van nài, chúng ta đừng nhường bước cho cái lôgíc của bạo lực, cho cái vòng xoáy đồi bại của vũ khí. Chúng ta hãy chọn con đường đối thoại và con đường của hòa bình ! Chúng ta hãy cầu nguyện ».

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Mai : le pape exhorte à prier le chapelet tous les jours pour la paix – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Tháng Năm – Đức Giáo Hoàng khuyến nghị lần chuỗi mỗi ngày để cầu nguyện cho hòa bình