Bài Giáo Lý – sự dịu hiền « một cách bất ngờ để thực thi công lý »

Bài Giáo Lý cuối cùng về thánh Giuse

JANVIER 19, 2022 16:30 HÉLÈNE GINABATAUDIENCE GÉNÉRALEPAPE FRANÇOIS

Ban phép lành cho một bệnh nhân, Triều Kiến Chung ngày 19/01/2022

« Sự dịu hiền là cái gì trọng đại hơn cả cái lôgíc của thế giới. Đó là một cách bất ngờ để thực thi công lý », đó là cách của Thiên Chúa « Đấng không hề bị tội lỗi của chúng ta làm hoảng sợ », Đức Giáo Hoàng đã tuyên bố hôm thứ tư 19/01/2022, trong bài giáo lý nhan đề : « Thánh Giuse, người cha trong sự dịu hiền ».  

ĐGH Phanxicô đã ban bài giáo lý thứ 8 và là bài chót về thánh Giuse, trong buổi triều kiến chung hôm thứ tư 19/01/2022, trong đại thính đường Phaolô VI của Vatican. Thánh Giuse đã là « người đầu tiên » truyền lại « sự dịu hiền của tình yêu Thiên Chúa cho Chúa Giêsu », Đức Giáo Hoàng giải thích, bởi vì Thiên Chúa ngự xuống với chúng ta « qua sự trung gian kinh nghiệm của con người ».  

Sự dịu hiền là phương cách tốt nhất để chạm tới những gì là mong manh trong chúng ta », Đức Giáo Hoàng lưu ý, bằng cách trích dẫn tông thư Patris corde. « Anh chị em hãy nhìn xem các y tá nam, nữ đụng chạm đến các vết thương của bệnh nhân như thế nào : với sự dịu dàng, để đừng gây thêm tổn thương cho họ. Chính cũng như thế mà Chúa đã chạm đến các vết thương của chúng ta, cũng với sự dịu dàng ».

Không có một « cuộc cách mạng dịu hiền », Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh, « chúng ta có rủi ro vẫn bị giam hãm trong một thứ công lý không cho phép chúng ta được phục hồi một cách tự do ». Chúng ta hãy tự hỏi, ngài khuyến nghị, « nếu chúng ta để cho Chúa thương yêu chúng ta với lòng nhân hậu, biến đổi mỗi người chúng ta thành những con người nam và nữ có khả năng yêu thương theo cách đó ».

ĐGH Phanxicô đã có một ý nghĩ về « các anh chị em đang ở trong tù ». Ngài tuyên bố : Người phạm tội thì phải « đền trả cho sự lầm lỡ của mình », nhưng cũng phải để người đó « có thể chuộc lại lỗi lầm của mình ». Bởi vì « không thể có sự kết án mà không mở một cánh cửa hy vọng ».

Bài Giáo Lý về thánh Giuse (Toàn văn)

Bài Giáo Lý thứ 8 : Thánh Giuse trong sự dịu hiền

Thân chào quý anh chị em !

Ngày hôm nay, tôi muốn đào sâu hình ảnh của Thánh Giuse như người cha dịu hiền.

Trong Tông Thư Patris corde của tôi (08/12/2020), tôi đã có dịp suy ngẫm về khía cạnh này của sự dịu hiền, một khía cạnh thuộc về nhân cách của thánh Giuse. Quả vậy, cho dù các sách Phúc Âm không cung cấp cho chúng ta một chi tiết nào về cách mà ngài đã thực hiện quyền làm cha của ngài, chúng ta có thể chắc chắn rằng sự kiện ngài là một người « công chính » cũng được thể hiện trong việc giáo dục cống hiến cho Chúa Giêsu. Thánh Giuse ngày qua ngày đã thấy Chúa Giêsu lớn lên : « ngày càng thêm khôn ngoan , thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta » (Lc 2 ;52) : Đó là điều Phúc Âm đã nói. Như Chúa đã làm với Israel, ngài đã « dạy Chúa Giêsu bước đi bằng cách nắm lấy tay Người ; ngài đối với Người như cha ẵm bồng một hài nhi áp lên má ; ngài cúi xuống Người để nuôi dưỡng Người » (x. Hs 11, 3-4) (Partris corde, 2). Định nghĩa đẹp này của Thánh Kinh cho thấy quan hệ của Thiên Chúa với Israel. Và chúng ta nghĩ rằng đó cũng cùng là quan hệ giữa Thánh Giuse với Chúa Giêsu.

Các Phúc Âm chứng minh rằng Chúa Giêsu đã sử dụng từ ngữ « cha » để nói về Thiên Chúa và về tình yêu của Người. Nhiều dụ ngôn có vai chính hình ảnh người cha [1]. Một trong những dụ ngôn nổi tiếng nhất chắc chắn là dụ ngôn Người Cha nhân hậu, được kể lại bởi thánh sử gia Luca (x. Lc 15, 11-32). Dụ ngôn này nhấn mạnh xa hơn là trải nghiệm tội lỗi và tha thứ, về cách mà sự tha thứ đạt tới con người đã phạm một lỗi lầm. Sách viết : « Anh ta còn ở đàng xa – người con tội lỗi đã bỏ đi xa – thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để » (c.20). Người con chờ đợi bị một sự trừng phạt, một công lý vốn ít nhất có thể cho hắn chỗ của một trong các tôi tớ, nhưng hắn lại được bao bọc trong sự ôm ấp của cha hắn.

Sự nhân hiền là điều trọng đại hơn cái lôgíc của thế gian. Đó là một cách bất ngờ để thực thi công lý.  Bởi vậy, chúng ta không bao giờ được quên rằng Thiên Chúa không sợ hãi bởi tội lỗi chúng ta : chúng ta phải ghi nhớ lấy điều đó. Thiên Chúa không sợ tội lỗi của chúng ta, Người cao cả hơn tội lỗi của chúng ta. Người là cha, Người là tình yêu, Người dịu hiền. Người không sợ tội lỗi của chúng ta, những sai lầm của chúng ta, những sa ngã của chúng ta, nhưng Người sợ sự khép kín trái tim của chúng ta – phải, điều đó làm người đau buồn – Người sợ bởi sự thiếu đức tin của chúng ta vào tình yêu của Người. Có một sự dịu hiền to lớn trong sự trải nghiệm tình yêu của Thiên Chúa. Và thật là đẹp khi nghĩ rằng con người đầu tiên đã tuyền lại thực tế này cho Chúa Giêsu đã chính là thánh Giuse. Bởi vì những điều của Thiên Chúa đến với chúng ta luôn qua sự trung gian của những kinh nghiệm của con người. Cách đây ít lâu – tôi không biết tôi đã kể chưa – một nhóm người trẻ dựng một vở nhạc kịch, một nhóm những người trẻ nhạc pop ; « sớm hơn thời đại của họ », đã bị đánh động bởi dụ ngôn người cha nhân hậu và đã quyết định biến nó thành một tác phẩm nhạc kịch pop với đề tài này, với câu chuyện này. Và họ đã thành công.

Và cuối cùng, tất cả lý luận là một anh bạn nghe người con đã bỏ nhà cha ra đi, nay muốn trở về nhà, nhưng lại sợ cha hắn đuổi ra ngoài, trừng phạt hắn và vân vân… Và người bạn nói với anh ta, trong nhạc kịch opéra pop : « cậu gửi đi một tin nhắn và nói là cậu muốn về nhà, và nếu cha cậu nhận được, thì nói ổng treo cái khăn tay ở cửa sổ, cái cửa sổ mà cậu sẽ thấy ngay khi quay trở về đến khúc đường chót ». Điều đó đã được làm như thế. Và vở nhạc kịch opéra, với những bài hát và những vũ điệu, tiếp tục đến lúc người con đi đến đoạn đường chót và đã nhìn thấy ngôi nhà mình. Và khi hắn ngước mắt lên, hắn đã thấy cả ngôi nhà treo đầy khăn tay mầu trắng : đầy rẫy. Không phải chỉ có một cái, mà tất cả các cửa sổ, ba hay bốn chiếc khăn tay ở mỗi cửa sổ. Lòng thương xót của Thiên Chúa là như thế đó. Người không sợ quá khứ của chúng ta, những điều xấu của chúng ta : không. Người chỉ sợ sự khép kín. Như thế… tất cả chúng ta đều có những chuyện phải giải trình ; nhưng giải trình mọi chuyện với Thiên Chúa là một chuyện tốt đẹp, bởi vì chúng ta mới bắt đầu nói thì Người đã ôm hôn chúng ta rồi. Lòng dịu hiền mà.

Như thế, chúng ta có thể tự hỏi, giả thử bản thân chúng ta đã trải nghiệm sự dịu hiền đó, và nếu đến lượt chúng ta, chúng ta được trở thành những chứng nhân của sự dịu hiền đó. Chúng ta hãy suy nghĩ đi. Bởi vì sự dịu hiền trước hết không phải là một chuyện cảm xúc hay tình cảm : không đâu. Đó là sự trải nghiệm cảm thấy mình được thương yêu và đón nhận chính xác là trong sự nghèo hèn của chúng ta và trong sự khốn cùng của chúng ta, và như thế, chúng ta được thay đổi bởi tình yêu của Thiên Chúa.

Thiên chúa không trông cậy vào những năng khiếu của chúng ta : không đâu, nhưng người tính đến sự yếu hèn được cứu chuộc của chúng ta. Sự yếu đuối của chúng ta được cứu chuộc và Người dựa trên đó. Điều đó đã khiến thánh Phaolô phải nói rằng, thí dụ, cũng có một chương trình cho sự mong manh của chúng ta. Quả thế, ngài đã viết cho cộng đoàn Côrintô : « Để tôi khỏi tự cao tự đại   […] thân xác tôi như bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Satan được sai đến vả mặt tôi […] Vì thế đã ba lần, tôi xin Chúa cho thoát khỏi nỗi khổ này. Nhưng Người quả quyết với tôi : « Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối » » (2Cr 12, 7-9). Chúa không loại bỏ tất cả các yếu đuối, nhưng Người phù giúp chúng ta bước đi với những yếu đuối, bằng cách đích thân Người nắm lấy tay chúng ta. Nhưng bằng cách nào ? Phải, Người nắm tay những yếu đuối của chúng ta, cả chúng ta lẫn những yếu đuối, gần chúng ta. Và đó là sự dịu hiền.

Trải nghiệm sự dịu hiền là nhìn được uy quyền của Thiên Chúa băng qua chính những gì làm cho chúng ta mong manh hơn ; tuy nhiên với điều kiện là phải chuyển đổi chúng ta ra khỏi cái nhìn của Ác Thần, nó « thúc đẩy chúng ta nhìn vào sự mong manh của chúng ta với sự phán xét tiêu cực », trong lúc Chúa Thánh Thần « đã đưa nó ra ánh sáng với sự dịu hiền » (Patris corde, 2). « Sự dịu hiền là phương tiện tốt nhất để đụng chạm tới những gì là mong manh trong chúng ta. […] Quý anh chị em hãy nhìn các y tá nam nữ chạm tới các vết thương của bệnh nhân : với sự dịu dàng, để không làm tổn thương thêm cho họ. Chính cũng như vậy mà Chúa đã chạm tới các vết thương của chúng ta, với cùng một sự dịu hiền. Bởi vậy quan trọng là gặp được Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, nhất là trong Bí Tích Hòa Giải, trong sự cầu nguyện cá nhân với Thiên Chúa, bằng cách làm một cuộc thí nghiệm về sự thật và của sự dịu hiền. Nghịch lý thay, Ác Thần cũng có thể nói với chúng ta sự thật : nó, chính là một tên nói dối, nhưng nó trá hình để nói với chúng ta sự thật với mục đích dẫn ta tới sự lừa dối. Nhưng nếu nó làm điều này, ác thần làm chuyện đó là để lên án chúng ta. Chúa phán với chúng ta sự thật và đưa tay ra cứu độ chúng ta. Tuy nhiên chúng ta biết rằng Sự Thật đến từ Thiên Chúa không hề kết án chúng ta, nhưng nó đón nhận chúng ta, ôm ấp chúng ta, nâng đỡ chúng ta, tha thứ cho chúng ta » (Patris corde, 2). Thiên Chúa luôn tha thứ : anh chị em hãy để điều này trong đầu và trong tim. Thiên Chúa luôn tha thứ. Chính chúng ta mới mệt mỏi không cầu xin tha thứ. Nhưng Người luôn tha thứ. Những chuyện xấu xa nhất.

Điều này có ích cho chúng ta khi tự chiêm ngắm trong tính phụ tử của thánh Giuse vốn là một tấm gương của tính phụ tử của Thiên Chúa, và tự hỏi xem chúng ta có để cho Chúa thương yêu chúng ta với sự dịu hiền của Người, biến đổi mỗi người chúng ta thành những con người nam và nữ có khả năng yêu thương theo cách đó. Không có « cuộc cách mạng dịu hiền » này – một cuộc cách mạng dịu hiền là cần thiết ! – chúng ta có rủi ro bị giam cầm trong một thứ công lý không cho chúng ta phục hồi một cách dễ dàng và lẫn lộn cứu chuộc với trừng phạt. Bởi thế, ngày hôm nay, tôi muốn đặc biệt nhớ tới các anh chị em đang ở trong tù. Thật là chính đáng, người nào phạm tội thì phải đền trả cho sự lỗi lầm của mình, nhưng còn chính đáng hơn khi người phạm tội có thể chuộc lại lỗi lầm của mình. Không thể có những bản án mà không có một cửa sổ hy vọng. Mọi sự kết tội luôn bao gồm một cửa sổ hy vọng. Chúng ta hãy nghĩ tới các anh chị em chúng ta đang ở trong tù, tới sự dịu hiền của Thiên Chúa đối với họ, và chúng ta hãy cầu nguyện cho họ, để họ tìm được trong cửa sổ hy vọng đó một sự chuyển qua một đời sống tốt hơn.

Và chúng ta kết thúc với lời cầu nguyện này :

Lậy Thánh Giuse, người cha trong tình dịu hiền, xin ngài dạy chúng con chấp nhận được thương yêu chính trong những gì nơi chúng con là yếu đuối nhất.

Xin ban cho chúng con đừng để một chướng ngại nào giữa sự nghèo hèn của chúng con và sự vĩ đại của tình yêu Thiên Chúa.

Xin khơi lên trong chúng con mong muốn đến gần với bí tích Hòa Giải, để chúng con được tha thứ và cũng được ơn có khả năng yêu mến với sự dịu hiền những người anh chị em chúng con trong sự nghèo nàn của họ.

Xin ngài hãy gần gũi với những người đã làm điều xấu và đang trả giá cho tội lỗi của họ ; Xin ngài giúp họ cùng nhau cũng tìm được với công lý sự dịu hiền để có thể bắt đầu trở lại.

Và xin ngài dạy cho họ : cách đầu tiên để bắt đầu trở lại là phải thực tâm cầu xin sự tha thứ, để cảm nhận được sự vuốt ve của Chúa Cha.

Cảm ơn.

[1] Xem Mt 15,13; 21,28-30; 22,2; Lc 15,11-32; Jn 5,19-23; 6,32-40; 14,2;15,1.8.

Copyright © Traduction Dicastère pour la communication – Librairie Editrice du Vatican

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Catéchèse : la tendresse, « une façon inattendue de rendre justice » – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài Giáo Lý – sự dịu hiền « một cách bất ngờ để thực thi công lý »

Khác biệt nào giữa một « phép lạ » và một « dấu lạ » ?

Lời Đức Giáo Hoàng trước Kinh truyền Tin (Toàn văn)

JANVIER 17, 2022 18:40 HÉLÈNE GINABATPAPE FRANÇOIS

Kinh Truyền Tin ngày 16 tháng 01 năm 2022

« Một dấu lạ là một dấu hiệu cho thấy tình yêu của Thiên Chúa, nghĩa là nó không thu hút sự chú ý đến sức mạnh của cử chỉ, nhưng đến tình yêu đã gây ra nó », ĐGH Phanxicô đã giải thích trước kinh kính Đức Mẹ Maria, ngày chúa nhật 16 tháng 01 năm 2022.

Xuất hiện ở cửa sổ của văn phòng của dinh tông tòa, hôm chúa nhật 16/01/2022, để đọc Kinh Truyền Tin ngày chúa nhật, Đức Giáo Hoàng đã bình giảng bài Phúc Âm về tiệc cưới Cana, trong đó Chúa Giêsu đã biến nước thành rượu. Nhấn mạnh rằng thánh sử gia đã nói đến « dấu lạ… khơi lên lòng tin của các môn đệ », chứ không nói đến phép lạ, Đức Giáo Hoàng đã đặt câu hỏi : « Dấu lạ có nghĩa là gì theo Phúc Âm »

Một dấu lạ « dạy cho chúng ta những điều của tình yêu Thiên Chúa, Đấng luôn gần gũi, nhân hiền và đầy lòng thương ». Ở đây, không phải là một « phép lạ », một « biến cố mạnh mẽ và phi thường khơi lên sự kinh ngạc thán phục », Đức Giáo Hoàng chỉ rõ. Trái lại, Chúa Giêsu « phù giúp », « một cách kín đáo ». Cử chỉ của Người « đáp ứng một nhu cầu đơn giản và cụ thể của những con người bình thường, một cử chỉ trong nhà, một phép lạ có thể nói là « dón dén » kín đáo, thầm lặng ».  

Như thế, ĐGH Phanxicô nói tiếp, « hạt giống đức tin bắt đầu nẩy mầm trong các ông, nghĩa là các ông tin rằng Thiên Chúa hiện diện trong Đức Giêsu, tình yêu của Thiên Chúa ». Và đề nghị « một bài tập có thể làm nhiều điều tốt cho chúng ta ». Đây là, ngài nói, « lục lọi trong ký ức để đi tìm những dấu lạ mà Chúa đã làm trong đời tôi », « Các dấu lạ Người đã làm để tỏ ra là Người thương yêu chúng ta ».  

Lời Đức Giáo Hoàng Phanxicô trước Kinh Truyền Tin (Toàn văn)

Thân chào quý anh chị em !

Bài Phúc Âm trong phụng vụ ngày hôm nay kể về giai đoạn tiệc cưới Cana, nơi Chúa Giêsu biến nước thành rượu vì niềm vui của cặp hôn phối. Và đã kết thúc như sau : « Đức Giêsu đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Cana miền Galilê và bầy tỏ vinh quang của Người. Các môn đệ đã tin vào Người » (Ga 2 ;11). Chúng ta ghi nhận rằng thánh sử gia Gioan không nói là một phép lạ, nghĩa là một sự biến cố quyền phép và bất thường gây ra sự kinh ngạc thán phục. Ngài viết rằng ở Cana đã xẩy ra một dấu lạ làm nẩy sinh lòng tin của các môn đệ. Như thế, chúng ta có thể tự hỏi : theo Phúc Âm, « dấu lạ » nghĩa là gì ?

Dấu lạ là một dấu hiệu cho thấy tình yêu của Thiên Chúa, nghĩa là không thu hút sự chú ý trên tính quyền năng của cử chỉ, nhưng trên tình yêu đã gây ra nó. Nó dạy cho chúng ta điều gì về tình yêu của Thiên Chúa, Đấng vốn luôn gần gũi, dịu hiền và đầy lòng thương. Dấu chỉ đầu tiên xuất hiện trong lúc mà đôi tân hôn đang ở trong tình trạng khó khăn ngay trong cái ngày quan trọng nhất trong đời của đôi lứa. Ở giữa tiệc cưới, lại thiếu một thành phần cốt yếu, rượu, và cuộc vui có rủi ro có thể tắt lịm giữa những tiếng phê bình chỉ trích và sự mất lòng của các khách mời. Anh chị em hãy tưởng tượng một bữa tiệc cưới làm thế nào có thể diễn tiến chỉ với nước lã ! Thật khủng khiếp, một ấn tượng xấu sẽ bám theo cặp hôn nhân trẻ kia !

Phát giác vấn đề, chính Đức Mẹ đã kín đáo báo cho Chúa Giêsu. Và Người can thiệp một cách âm thầm, gần như không để ai thấy. Tất cả diễn ra một cách kín đáo, « trong hậu trường » : Chúa Giêsu truyền các gia nhân đổ đầy các vò nước, và nước này đã biến thành rượu. Chính như vậy mà Thiên Chúa đã hành động, với sự gần gũi, với sự kín đáo. Các môn đệ của Chúa Giêsu thấy rõ điều này : các ông thấy là nhờ Người, bữa tiệc cưới còn trở nên vui nhộn hơn nữa. Và các ông cũng nhìn thấy các hành động của Chúa Giêsu, sự phục vụ của Người trong thầm kín – chính như thế mới là Chúa Giêsu : Người phù giúp chúng ta, Người phục vụ chúng ta trong sự thầm kín, vào lúc đó – đến độ mà những lời khen rượu ngon lại đi tới cô dâu chú rể, không ai nhận ra, chỉ có các gia nhân. Như vậy, hạt giống đức tin bắt đầu nẩy mầm trong họ, nghĩa là họ tin rằng Thiên Chúa hiện diện trong Chúa Giêsu, tình yêu của Thiên Chúa.

Thật là hay để nghĩ rằng dấu lạ đầu tiên mà Chúa Giêsu thực hiện không phải là một vụ chữa lành phi thường hay một phép lạ trong đền thánh Giêrusalem, mà là một cử chỉ đáp ứng một nhu cầu đơn giản và cụ thể của những con người bình thường, một cử chỉ trong nhà, một phép lạ, có thể nói là « dón dén », kín đáo, thầm lặng. Người sẵn sàng phù trợ chúng ta, nâng chúng ta lên. Và rồi, nếu chúng ta chú ý tới những « dấu lạ » này, chúng ta được chinh phục bởi tình yêu của Người và trở thành các môn đệ của Người.

Nhưng có một điểm đặc biệt khác của dấu lạ Cana. Nói chung, rượu được đưa ra vào cuối tiệc là loại rượu kém ngon hơn ; kể cả ngày nay, người ta cũng làm như thế, vì vào lúc đó, người ta không thể phân biệt rõ được rượu ngon hay rượu đã bị pha loãng đôi chút. Chúa Giêsu, mặt khác, coi chừng để cho cuộc vui kết thúc với rượu ngon nhất. Một cách tượng trưng, điều này cho ta thấy rằng Thiên Chúa muốn điều tốt đẹp nhất cho chúng ta, Người muốn chúng ta được hạnh phúc. Người không ấn định bất cứ giới hạn nào và không đòi hỏi lời lãi với chúng ta. Trong dấu lạ của Đức Giêsu, không có chỗ cho những ẩn ý, cho những đòi hỏi đối với cô dâu, chú rể. Không, niềm vui mà Chúa Giêsu để trong lòng chúng ta là một niềm vui trọn vẹn và vô vị lợi. Không phải một niềm vui pha ngọt.

Tôi đề nghị một bài tập, nó có thể giúp ích nhiều cho chúng ta. Ngày hôm nay, chúng ta hãy thử lục trong ký ức để đi tìm những dấu lạ mà Chúa đã làm trong cuộc đời của chúng ta. Mỗi người hãy nói : trong cuộc đời của tôi, Chúa đã làm những dấu lạ gì ? Những dấu lạ nào cho thấy sự hiện diện của Người ? Những dấu lạ Người đã làm để tỏ ra là Người thương yêu chúng ta. Chúng ta hãy nghĩ tới cái lúc khó khăn đó mà Thiên Chúa đã cho chúng ta trải nghiệm tình yêu của Người… Và chúng ta hãy tự hỏi : với dấu chỉ nào, kín đáo và ân cần, Người đã làm cho tôi cảm nhận được sự hiền dịu của Người ? Khi nào tôi đã cảm nhận Chúa gần gũi tôi nhất, khi nào tôi đã cảm nhận được lòng hiền dịu, lòng xót thương của Người ? Mỗi người trong chúng ta đều có những khoảnh khắc đó trong cuộc đời mình. Chúng ta hãy đi tìm những dấu lạ đó, chúng ta hãy nhớ lại. Tôi đã khám phá ra sự gần gũi của Người như thế nào ? Một niềm vui lớn đã ở lại trong lòng tôi ra làm sao ? Chúng ta hãy sống lại những khoảnh khắc mà chúng ta đã trải nghiệm sự hiện diện của Người và sự chuyển cầu của Đức Mẹ Maria. Cầu xin Mẹ là Mẹ, như ở tiệc cưới Cana, Mẹ luôn để ý, phù giúp chúng ta quý mến những dấu lạ của Thiên Chúa trong cuộc đời của chúng ta.

© Traduction de Zenit, Hélène Ginabat

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Quelle différence entre un « miracle » et un « signe » ? – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Khác biệt nào giữa một « phép lạ » và một « dấu lạ » ?

Cầu nguyện cho sự hiệp nhất Kitô hữu « Hướng mắt lên Chúa Giêsu »

Lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng sau Kinh Truyền Tin

JANVIER 17, 2022 18:35 HÉLÈNE GINABATPAPE FRANÇOIS

Kinh Truyền Tin ngày 16/01/2022

Cũng giống như các Nhà Chiêm Tinh đã đi theo ngôi sao dẫn đường họ đến Bêlem, « chúng ta cũng thế, các Kitô hữu, […] chúng ta đến gần mục tiêu khi chúng ta hướng mắt lên Chúa Giêsu, Chúa duy nhất của chúng ta » : chính như thế mà ĐGH Phanxicô đã gợi ra con đường dẫn đến sự hiệp nhất các Kitô hữu, hôm 16/01/2022.

Sau Kinh Truyền Tin, được đọc với các khách hành hương và các tín hữu trên toàn thế giới tập trung tại Quảng Trường Thánh Phêrô, ngày chúa nhật 16/01/2022, ĐGH Phanxicô đã đưa ra một lời kêu gọi cho Tuần Lễ cầu nguyện cho sự Hiệp Nhất Kitô Hữu sẽ diễn ra từ ngày 18 đến ngày 25/01/2022.

Đức Giáo Hoàng đã nhắc nhở rằng Tuần Lễ cầu nguyện cho sự Hiệp Nhất Các Kitô Hữu, sẽ diễn ra từ ngày 18 đến ngày 25/01/2022, « đề nghị một năm để làm cuộc thử nghiệm của các chiêm tinh gia, đến từ phương Đông đến Bêlem để bái lậy Vua Cứu Thế ».

« Chúng ta cũng thế, các Kitô hữu, ngài đã khuyến khích, trong sự đa dạng của các tín ngưỡng và các truyền thống của chúng ta, chúng ta là những khách hành hương trên đường đi đến sự hiệp nhất trọn vẹn và chúng ta đến gần mục đích khi chúng ta không rời mắt khỏi Chúa Giêsu, Chúa duy nhất của chúng ta ».

Đức Giáo Hoàng đã mời gọi hãy chuyển cầu và hãy cầu nguyện cho ý chỉ này : « Trong Tuần Lễ cầu nguyện, ngài nói thêm, chúng ta cũng hãy hiến dâng những mệt mỏi và những đau khổ của chúng ta cho sự hiệp nhất các Kitô hữu ».

Chủ đề, « Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lậy Người » (Mt 2,2), cho thấy sự chú tâm đặc biệt được hướng tới các Kitô hữu Đông phương trong năm nay. Việc soạn thảo những bài suy ngẫm hàng ngày đã được giao cho Hội Đồng Các Giáo Hội Trung Đông bởi Hội Đồng giáo hoàng cổ vũ hiệp nhất Kitô hữu và bởi Hội Đồng đại kết các Giáo Hội.

ĐGH Phanxicô sẽ bế mạc Tuần Lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất các Kitô hữu, ngày 25/01/2022, bằng cách cử hành giờ kinh chiều thứ nhì trong ngày lễ trọng mừng sự trở lại của thánh Phaolô, trong Vương Cung Thánh Đường Thánh Phaolô Ngoại Thành.

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Prière pour l’unité des chrétiens : « Garder les yeux fixés sur Jésus » – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Cầu nguyện cho sự hiệp nhất Kitô hữu « Hướng mắt lên Chúa Giêsu »

Thánh Giuse, trong vai thân phụ của Chúa Giêsu, đã « rất thành công »

Đức Giáo Hoàng tiếp xúc với các cơ quan truyền thông của Vatican

JANVIER 13, 2022 18:19 HÉLÈNE GINABATPAPE FRANÇOIS

Tác phẩm của danh họa người Hòa Lan Gherardo Delle Notti

Theo Đức Giáo Hoàng Phanxicô, « quan hệ cha con của thánh Giuse với Chúa Giêsu đã ảnh hưởng nhiều đến cuộc đời Người, đến độ các bài giảng dạy tương lai của Chúa Giêsu có đầy rẫy những hình ảnh dẫn chiếu được rút ra từ tình phụ tử tưởng tượng ». Chúa Giêsu, Đức Giáo Hoàng giải thích, khẳng định rằng Thiên Chúa là Cha. Điều này có nghĩa là thánh Giuse đã rất thành công với tư cách là người cha mà Chúa Giêsu đã tìm được trong tình yêu và tình phụ tử của con người này một điểm quy chiếu đẹp nhất để dâng lên Thiên Chúa ».

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã thuận cho các cơ quan truyền thông của Vatican một cuộc tiếp xúc về tính phụ mẫu trong thời gian đại dịch này và về sự làm chứng của thánh Giuse, một thí dụ về sức mạnh và về sự dịu hiền đối với các người cha của ngày hôm nay. Được đăng tải trên tờ Osservatore Romano bằng tiếng Ý, hôm 13/01/2022, dưới tiêu đề : « Các bậc cha mẹ đã đương đầu với tất cả các thách thức thay con cái họ là những anh hùng », cuộc phỏng vấn được ký tên Andrea Monda, giám đốc tờ nhật báo của Vatican, và Alessandro Gisotti, phó giám đốc biên tập các phương tiện truyền thông của Tòa Thánh.

Tại sao có một sự quan tâm nhiều thế đến thánh Giuse trong giai đoạn đại dịch này ? Bởi vì thánh Giuse là « người của những thời điểm khó khăn », ĐGH trả lời. « Tôi nghĩ rằng, chính trong thời điểm khó khăn như thế này, chúng ta cần có ai đó có thể khích lệ chúng ta, giúp đỡ chúng ta, gợi ý cho chúng ta, để hiểu rằng đâu là cách tốt để đương đầu với những thời gian đen tối này. Thánh Giuse là một chứng nhân sáng suốt trong những lúc đen tối ».

Sau đây là toàn bộ cuộc trao đổi, trong phần dịch thuật (tiếng Pháp) của Bộ Thông Tin.

« Các cha mẹ đối đầu với những thách thức thay thế con cái họ đều là những bậc anh hùng »

Năm đặc biệt về thánh Giuse đã kết thúc hôm 08/12 vừa qua, nhưng sự chú tâm và lòng yêu mến của ĐGH Phanxicô đối với vị thánh này vẫn tiếp tục, và phát triển còn nhiều hơn nữa với các bài giáo lý mà Đức Thánh Cha dành cho vị Thánh Bổn Mạng của Hội Thánh hoàn vũ kể từ ngày 17/11/2021 vừa qua.

Suốt năm 2021, tờ nhật báo Osservatore Romano đã đăng tải một mục thời luận hàng tháng, được Vatican News lấy lại, về tông thư Patris Corde, dành mỗi số báo một chương của tông thư này liên quan đến thánh Giuse. Mục thời luận này, vốn nói về những người cha, nhưng cũng nói về những người con trai và những bà mẹ tham gia vào trong một cuộc đối thoại lý tưởng với Bạn Trăm Năm của Đức Maria, đã dấy lên trong chúng ta ước muốn để có thể trao đổi với Đức Giáo Hoàng chính là trên chủ đề tình phụ tử này trong những khía cạnh, những thách thức và những phức tạp rất đa dạng của nó. Kết quả là cuộc phỏng vấn này trong đó ĐGH Phanxicô trả lời những câu hỏi của chúng tôi, tỏ ra tất cả tình yêu của ngài đối với gia đình, sự gần gũi của ngài với những người biết sự đau khổ và sự đón tiếp bởi Hội Thánh của các người cha và người mẹ ngày hôm nay phải đương đầu với hàng ngàn khó khăn để cho con cái của họ một tương lai (Andrea Monda và Alessandro Gisotti).

Thưa Đức Thánh Cha, ngài đã tuyên bố một Năm đặc biệt hiến dâng lên thánh Giuse, viết một bức tông thư về thánh nhân, Patris Corde, và ngài thực hiện một chu kỳ bài giáo lý, tất cả dành cho hình ảnh thánh nhân. Đối với ngài, thánh Giuse tượng trưng ra sao ?

Tôi chưa bao giờ che dấu sự đồng hòa mà tôi cảm thấy với hình ảnh của thánh Giuse. Tôi tin rằng điều này đến từ thời thơ ấu của tôi, từ sự đào tạo của tôi. Tôi vẫn luôn trau dồi một sự tôn kính đặc biệt đối với thánh Giuse bởi vì tôi tin rằng hình ảnh ngài tượng trưng, một cách đẹp đẽ và đặc biệt, cho đức tin Kitô giáo phải như thế nào đối với mỗi người trong chúng ta. Quả là thánh Giuse là một người bình thường và sự thánh thiện của ngài chính là nhằm để nên thánh thông qua các hoàn cảnh tốt và xấu mà ngài đã phải sống và đối phó. Ngoài ra chúng ta có thể che dấu sự kiện thánh Giuse trong Phúc Âm, nhất là trong những đoạn văn của thánh Mátthêu và của thánh Luca, được trình bầy như là một người chủ chốt quan trọng trong những lúc đầu của lịch sử cứu chuộc. Quả vậy, các biến cố trong lúc Chúa Giêsu giáng sinh đã là những biến cố khó khăn, đầy những trở ngại, vấn đề, bách hại, đen tối, và Thiên Chúa, để gặp Con của Người giáng sinh xuống trần, đã đặt Đức Maria và thánh Giuse vào bên cạnh Người. Nếu Đức Maria là đấng đã hạ sinh Ngôi Lời mặc lấy xác phàm, thánh Giuse là người đã bảo vệ Người, đã che chở Người, đã nuôi dưỡng Người và đã làm cho Người lớn lên. Chúng ta có thể nói rằng chúng ta thấy trong ngài con người của những thời khắc khó khăn, con người cụ thể, con người biết gánh lấy trách nhiệm. Trên chiều hướng này, hai đặc tính kết hợp trong thánh Giuse. Một mặt, một đời sống thiêng liêng được đánh dấu, và được diễn dịch trong Phúc Âm bởi những chuyện các giấc chiêm bao ; những chuyện này làm chứng cho khả năng lắng nghe Thiên Chúa, Đấng nói với trái tim ngài. Chỉ có một người cầu nguyện, có một đời sống thiêng liêng mạnh mẽ, cũng có thể có khả năng phân biệt được lời của Thiên Chúa ở giữa nhiều thứ tiếng nói đang ở trong ta. Bên cạnh đặc tính này, còn có một đặc tính khác nữa : thánh Giuse là người cụ thể, nghĩa là người đối đầu với những vấn đề với một ý nghĩa thực dụng tuyệt đối, và đối mặt với những khó khăn và những trở ngại, ngài không bao giờ lấy một vị thế nạn nhân. Trái lại, ngài luôn ở vị trí trong viễn cảnh để phản ứng, để đáp trả, để tin cậy vào Thiên Chúa và để tìm một giải pháp sáng tạo.

Sự chú tâm mới này về thánh Giuse, trong lúc thử thách lớn này, có mang một ý nghĩa đặc biệt nào chăng ?

Thời kỳ chúng ta đang sống là một thời kỳ khó khăn bị đánh dấu bởi đại dịch coronavirus. Nhiều người chịu đau khổ, nhiều gia đình gặp khó khăn, nhiều người bị ám ảnh bởi sự lo sợ cái chết, lo sợ tương lai mờ mịt. Tôi đã nghĩ rằng, chính trong một thời kỳ khó khăn như thế này, chúng ta cần có ai đó có thể khích lệ chúng ta, để giúp đỡ chúng ta, gợi ý cho chúng ta, để hiểu đâu là cách tốt nhất để đương đầu với những thời gian đen tối. Thánh Giuse là một chứng nhân sáng suốt trong những lúc đen tối. Bởi vậy vào thời điểm này thật là chính đáng để cho ngài xuất hiện nhằm giúp chúng ta tìm ra lại con đường phải đi.

Thiên chức kế vị thánh Phêrô của ngài bắt đầu ngày 19 tháng 3, ngày lễ kính thánh Giuse…

Tôi vẫn coi như một sự chiếu cố từ trời, sự kiện có thể bắt đầu thiên chức kế vị Thánh Phêrô của tôi vào ngày 19 tháng 3. Tôi tin rằng, bằng cách nào đó, thánh Giuse đã muốn nói với tôi rằng ngài tiếp tục phù trợ tôi, gần gũi với tôi, và tôi có thể tiếp tục coi ngài như một người bạn để nhờ cậy, để tâm sự, và có thể xin ngài chuyển cầu và cầu nguyện cho tôi. Nhưng đương nhiên là mối quan hệ này, vốn là được ban cho bởi sự thông công các thánh, không chỉ dành riêng cho tôi, tôi nghĩ rằng ơn này có thể có ích cho nhiều người. Bởi vậy, tôi hy vọng rằng năm dành kính thánh Giuse đã dẫn đưa nhiều Kitô hữu đến sự khám phá ra trong thâm tâm mình giá trị sâu kín của sự kiện các thánh thông công, vốn không phải là một sự hiệp thông trừu tượng, mà là một sự hiệp thông cụ thể được biểu lộ trong quan hệ cụ thể và có những hậu quả cụ thể.

Trong mục thời luận về Patris Corde, được đăng tải trên tờ Osservatore Romano trong năm đặc biệt kính Thánh Giuse, chúng ta đã kết hợp cuộc đời Thánh Nhân với cuộc đời của những người cha, nhưng cũng của các đứa con trai của ngày hôm nay. Các người con trai, nói cách khác, là các người cha của ngày mai, có thể nhận được ngày hôm nay cái gì từ cuộc đối thoại với Thánh Giuse ?

Chúng ta không ai mới sinh ra đã là cha, nhưng tất cả chúng ta chắc chắn sinh ra đều đã là con cái. Đây là điều đầu tiên mà chúng ta phải xem xét, nghĩa là mỗi người trong chúng ta, ngoài những gì cuộc sống đã dành cho mình, trước hết mọi chuyện thì mình là một người con, được gửi gấm cho một ai đó, đến từ một mối quan hệ quan trọng đã làm cho nó lớn lên và đã điều kiện hóa nó cho tương lai dù tốt hay là xấu. Có mối quan hệ đó, và thừa nhận tầm quan trọng của nó trong cuộc đời của riêng mình, có nghĩa là hiểu biết rằng, một ngày kia khi chúng ta trách nhiệm về đời sống của một ai đó, nghĩa là khi chúng ta phải thực hành bổn phận làm cha, chúng ta sẽ mang theo với chúng ta tất cả kinh nghiệm mà cá nhân chúng ta đã sống. Như thế, thật là quan trọng để có thể suy nghĩ về kinh nghiệm cá nhân để đừng lập lại những sai lầm đã mắc phải và trân quý những gì chúng ta đã từng trải. Tôi xác tín rằng quan hệ cha con của thánh Giuse với Chúa Giêsu đã rất ảnh hưởng đến cuộc đời của Người, rằng sự giảng dạy tương lai của Chúa Giêsu đầy rẫy những hình ảnh và những quy chiếu được mượn từ người cha ảo tưởng. Thí dụ, Chúa Giêsu khẳng định rằng Thiên Chúa là Cha, và sự xác nhận này không thể để chúng ta thờ ơ, nhất là nếu chúng ta quan sát điều đã là kinh nghiệm riêng tư của Người về tình phụ tử. Điều này có nghĩa là thánh Giuse đã rất thành công với tư cách là cha mà Chúa Giêsu đã tìm được trong tình yêu và trong tình phụ tử của con người này, điểm quy chiếu tốt đẹp nhất để dâng tiến lên Thiên Chúa. Chúng ta sẽ có thể nói rằng con cái bây giờ sẽ trở thành những bậc cha mai này phải tự hỏi chúng đã có người cha như thế nào và chúng muốn trở thành những người cha như thế nào. Chúng không được để cho vai trò làm cha của chúng là kết quả của một sự may rủi hay chỉ là hậu quả của một kinh nghiệm đã trải qua trong quá khứ, nhưng chúng phải quyết định một cách có ý thức yêu thương một người như thế nào, đảm đương trách nhiệm của một con người như thế nào.

Chương cuối của Patris Corde, thánh Giuse được trình bầy như một người cha trong bóng tối. Một người cha vốn biết hiện diện nhưng để cho con ngài được tự do lớn lên. Điều này liệu có thể trong một xã hội dường như chỉ khen thưởng những người chiếm lãnh không gian và sự hào nhoáng ?

Một trong những đặc tính đẹp nhất của tình yêu, và không chỉ là tình phụ tử, chính là tự do. Tình yêu luôn sinh ra tự do, tình yêu không bao giờ trở thành tù ngục, một sự chiếm hữu. Thánh Giuse cho ta thấy khả năng của ngài săn sóc Chúa Giêsu mà không bao giờ chiếm hữu lấy Người, không bao giờ muốn thao túng Người, không bao giờ muốn làm Người sao lãng sứ vụ của Người. Tôi tin rằng điều này là rất quan trọng để kiểm chứng khả năng yêu thương của chúng ta và cũng là của khả năng biết lùi lại. Một người cha tốt là người biết lùi ra phía sau vào đúng lúc để con trai mình có thể nổi lên với vẻ đẹp của nó, với tính duy nhất, với những chọn lựa với ơn gọi của nó. Trên ý nghĩa này, trong mọi quan hệ tốt đẹp, cần thiết là phải từ chối mong muốn áp đặt một hình ảnh từ trên, một sự kỳ vọng, như thế là một cách phô trương, một sự chiếm ngự toàn bộ và thường xuyên sân khấu bởi một vai chính quá mức. Đặc tính của Thánh Giuse là biết đặt mình sang một bên, lòng khiêm nhượng của ngài, vốn cũng là khả năng làm mờ nhạt bản thân, có lẽ là khía cạnh mang tính quyết định nhất của tình yêu mà ngài thể hiện ra với Chúa Giêsu. Trên ý nghĩa này, thánh Giuse là một nhân vật quan trọng, tôi dám nói là cốt yếu trong tiểu sử của Chúa Giêsu, chính xác là trong một đôi lúc, ngài biết rút lui khỏi sân khấu để Chúa Giêsu có thể chói sáng trong toàn bộ sứ vụ của Người, trong toàn bộ sứ vụ của Người. Theo hình ảnh của thánh Giuse, chúng ta phải tự hỏi, chúng ta có khả năng để biết lùi lại, để cho phép những người khác, và nhất là những người được trao gửi cho chúng ta, để tìm thấy trong chúng ta một điểm quy chiếu chứ không bao giờ là một trở ngại hay không ?.

Ngài thường hay tố cáo sự kiện là tính phụ tử ngày nay đang bị khủng hoảng. Người ta có thể làm gì, Hội Thánh có thể làm gì, để mang lại sức mạnh cho quan hệ cha-con, vốn là nền tảng cho xã hội ?

Khi chúng ta nghĩ đến Hội Thánh, chúng ta luôn thấy Hội Thánh như một người Mẹ, và điều đó chắc chắn là không hề sai. Những năm gần đây, tôi đã tìm cách nhấn mạnh nhiều đến viễn cảnh này, bởi vì cách thức thực thi tình mẫu tử của Hội Thánh là lòng thương xót, nghĩa là tình yêu đó sinh ra và tái sinh ra sự sống. Sự tha thứ, sự hòa giải, có phải là một cách qua đó chúng ta đứng lên lại không ? Đây có phải là một phương cách qua đó chúng ta nhận lại sự sống bởi vì chúng ta nhận được một dịp may khác không ? Nơi Hội Thánh của Chúa Giêsu Kitô chỉ có lòng thương xót ! Nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta phải có can đảm nói rằng Hội Thánh không chỉ là mẹ mà còn là cha. Nói cách khác, Hội Thánh đã được kêu gọi thực hiện một sứ vụ phụ tử chứ không phải là chủ nghĩa gia trưởng. Và khi tôi nói rằng Hội Thánh phải tìm lại khía cạnh phụ tử, tôi chính xác là dựa vào khả năng hoàn toàn phụ tử nhằm đặt các con cái vào vị thế để lấy trách nhiệm của riêng mình, để thực thi sự tự do riêng của họ, để làm những lựa chọn. Một mặt, nếu lòng thương xót thanh tẩy chúng ta, chữa lành chúng ta, an ủi chúng ta, khích lệ chúng ta, mặt khác, tình yêu của Thiên Chúa không giới hạn chỉ vào sự tha thứ và chữa lành, mà tình yêu của Thiên Chúa thúc đẩy chúng ta lấy những quyết định, để ra khơi.

Đôi khi sự sợ hãi, nhiều hơn nữa trong thời kỳ đại dịch này, dường như làm tê liệt đà tiến đó…

Phải, giai đoạn lịch sử này là một giai đoạn được đánh dấu bởi sự không có khả năng có những quyết định lớn trong cuộc đời một người. Rất nhiều khi, những người trẻ sợ phải quyết định, phải chọn lựa, phải tham gia. Một Hội Thánh xứng đáng không phải chỉ là khi nói có hoặc không, nhưng nhất là khi khuyến khích và làm cho có thể có những lựa chọn lớn lao. Và mỗi sự lựa chọn luôn bao gồm những hậu quả và những rủi ro, nhưng đôi khi, vì sợ những hậu quả và những rủi ro, chúng ta bị tê liệt và chúng ta không có thể làm hay quyết định bất cứ điều gì. Một người cha đích thực không nói với bạn rằng mọi sự luôn tốt đẹp, bạn sẽ có thể đối phó và sống những khoảnh khắc, và dù là những thất bại đó, trong phẩm giá. Một người chín chắn nhìn nhận mình không phải vì những thắng lợi của mình, nhưng theo cách mà người đó biết từng trải một sự thất bại. Đó chính là trong kinh nghiệm của sự vấp ngã và của sự yếu đuối mà người ta đã nhận ra tính cách của một người.

Tình phụ tử thiêng liêng rất quan trọng đối với chúng ta. Bằng cách nào mà các linh mục có thể là những người cha ?

Vừa rồi, chúng ta nói rằng tình phụ tử không phải là chuyện tự nhiên, người ta không sinh ra đã là cha, cùng lắm là người ta trở thành cha. Cũng như thế, một linh mục không sinh ra đã là cha, nhưng ngài phải học để làm cha mỗi ngày một chút, nhất là bắt đầu từ sự kiện tự nhận mình là con của Thiên Chúa, nhưng cũng là con của Hội Thánh. Và Hội Thánh không phải là một quan niệm trừu tượng, đó luôn là khuôn mặt của một ai đó, một tình huống cụ thể, cái gì mà chúng ta có thể cho nó một cái tên chính xác. Chúng ta luôn đã nhận được đức tin của chúng ta qua quan hệ với ai đó. Đức tin Kitô giáo không phải là cái gì có thể học được trong sách vở hay thông qua những lý luận đơn giản, trái lại nó luôn là một hành trình hiện sinh đi qua các quan hệ. Như thế, kinh nghiệm đức tin của chúng ta luôn nẩy sinh từ sự làm chứng của ai đó. Như thế, chúng ta phải tự hỏi chúng ta phải sống tạ ơn như thế nào đối với những người đó, và nhất là chúng ta gìn giữ khả năng phê phán đó để cũng biết phân định cái gì xấu xa có thể thông qua những người đó. Đời sống thiêng liêng không khác gì đời sống con người. Nếu một người hiền phụ, trên bình diện con người, là như thế bởi vì ông ta giúp cho con ông trở thành bản thân nó, bằng cách làm cho nó có thể có được sự tự do của nó và thúc đẩy nó có những quyết định lớn lao, cùng một cách đó, một người cha thiêng liêng tốt không phải khi người đó thay thế lương tâm của những người ký thác cho ngài, không phải khi ngài trả lời những câu hỏi mà những người đó mang trong lòng họ, không phải khi ngài thực thi ảnh hưởng trên đời sống của những người được ký thác cho ngài, nhưng khi, bằng cách kín đáo và đồng thời cứng rắn, ngài có thể chỉ đường, cung cấp các chìa khóa các bài đọc khác nhau, giúp đỡ trong sự phân định.

Ngày hôm nay, điều gì là cấp thiết nhất để mang đến sức mạnh cho chiều kích thiêng liêng của tình phụ tử ?

Rất nhiều khi, tình phụ tử thiêng liêng là một ơn sinh ra trước hết từ trải nghiệm. Một người cha thiêng liêng có thể chia sẻ không chỉ là những kỹ năng lý thuyết, nhưng nhất là kinh nghiệm cá nhân. Chỉ như thế mà ngài có thể hữu ích cho một người con. Trong khoảnh khắc lịch sử này, người ta cảm thấy một sự cấp bách lớn lao các quan hệ có ý nghĩa mà chúng ta sẽ có thể định nghĩa từ tình phụ tử thiêng liêng, nhưng – tôi mạn phép nói –  cũng là tình mẫu tử thiêng liêng, bởi vì vai trò đồng hành này không phải một đặc quyền nam giới hay chỉ của các linh mục. Có nhiều nữ tu dũng cảm, nhiều phụ nữ thánh hiến, nhưng cũng có nhiều nam nữ tín hữu giáo dân có một hành trang kinh nghiệm mà họ có thể chia sẻ với những người khác. Trên ý nghĩa này, mối quan hệ thiêng liêng là một trong những mối quan hệ mà chúng ta phải tái khám phá với nhiều nỗ lực trong khoảnh khắc lịch sử này, không bao giờ lầm lẫn nó với những hành trình khác mang bản chất tâm lý hay trị liệu.

Giữa những hậu qủa bi thương của Covid, còn có cả sự mất việc làm của nhiều người cha. Ngài có muốn nói điều gì với những người cha đang gặp khó khăn này không ?

Tôi cảm thấy rất gần gũi với thảm trạng của các gia đình này, của các người cha và người mẹ đang sống một sự khó khăn đặc biệt, bị làm trầm trọng hơn bởi đại dịch. Tôi nghĩ rằng, không dễ để đối phó với sự đau khổ không có thể cho con cái miếng ăn, và cảm thấy trên vai mình sức nặng của trách nhiệm về đời sống người thân. Trên chiều hướng đó, ngoài lời cầu nguyện của tôi, sự gần gũi của tôi, còn có cả sự nâng đỡ của Hội Thánh đến với những người đó. Nhưng tôi cũng nghĩ đến nhiều người cha, đến nhiều người mẹ, đến nhiều gia đình đang chạy loạn chiến tranh, đã bị xua đuổi tại biên giới Âu Châu và không chỉ thế đâu, và những người đang sống những hoàn cảnh đau đớn, bất công và không ai thấy là quan trọng hoặc giả cố ý lãng quên. Tôi muốn nói với những người cha đó, những người mẹ đó, rằng đối với tôi, họ là những người hùng, bởi vì tôi thấy nơi họ lòng dũng cảm của những người mạo hiểm mạng sống mình vì tình yêu đối với con cái, vì tình yêu đối với gia đình. Đức Mẹ Maria và Thánh Giuse cũng đã từng đích thân trải nghiệm cuộc lưu đầy này, thử thách này, phải đào thoát tới một nước ngoài vì bạo lực và vì quyền lực của Hêrôđê. Sự đau khổ của các ngài khiến các ngài gần gũi với các người anh em của chúng ta đang chịu đựng cũng những thử thách tương tự trong ngày hôm nay. Những người cha đó đã hướng lên thánh Giuse với lòng tin cậy, biết rằng chính ngài, với tư cách làm cha, đã trải nghiệm hoàn cảnh tương tự, sự bất công tương tự. Và tôi muốn nói với mọi người họ, cũng như với tất cả các gia đình của họ, đừng cảm thấy mình cô đơn ! Đức Giáo Hoàng luôn nhớ tới họ và sẽ tiếp tục, trong khả năng có thể, lên tiếng nói cho họ và không bao giờ quên họ.

Copyright © Traduction Dicastère pour la communication

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Joseph, la référence paternelle de Jésus, qui « a si bien réussi » – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Thánh Giuse, trong vai thân phụ của Chúa Giêsu, đã « rất thành công »

Bài Giáo Lý về Thánh Giuse và phẩm giá mà lao động mang đến

Giải thoát lao động ra khỏi « cái lôgíc lợi nhuận đơn giản » (Toàn văn)

JANVIER 12, 2022 19:10 Hélène GinabatPape François

Triều kiến ngày 12 tháng 01 năm 2022

« Điều mang đến phẩm giá cho bạn, đó là kiếm sống, và nếu chúng ta không cho dân của chúng ta, cho những con người nam và nữ, khả năng kiếm sống, đó là một sự bất công xã hội của nơi này, trong đất nước này, trên châu lục này », Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã khẳng định trong Bài Giáo Lý của ngày thứ tư 12 tháng 01 năm 2022 này.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô tiếp tục các Bài Giáo Lý hàng tuần về Thánh Giuse. Ngày thứ tư 12/01/2022 này, trong đại thính đường Phaolô VI của Vatican, ngài đã đề cập đến chủ đề việc làm : việc làm nghề mộc, của thánh Giuse, nhưng cũng về những vấn đề hiện tại gắn liền với việc làm và không có việc làm.

Đức Giáo Hoàng đã tố cáo trong những hoàn cảnh khác những « công việc nặng nhọc trong các hầm mỏ và trong một số nhà máy », « việc làm chợ đen », « trẻ em bị cưỡng bách lao động », « những người nghèo đi bới rác trong những bãi rác », nhưng cả những người đang bị thất nghiệp và cảm thấy bị tổn thương trong nhân phẩm bởi vì họ không kiếm được việc làm », … « tất cả những người đó là các anh chị em của chúng ta », Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh. Và đó là những chuyện xẩy ra trên thế giới trong ngày hôm nay ».

Nhắc lại rằng việc làm là « một thành phần cốt yếu trong đời sống con người », « một phương tiện để kiếm sống » nhưng cũng là « một nơi mà chúng ta thể hiện chính mình, nơi mà chúng ta cảm thấy mình hữu dụng và nơi mà chúng ta học được bài học lớn của sự cụ thể », Đức Giáo Hoàng đã cầu mong rằng « nó có thể được trải nghiệm như một quyền và một bổn phận căn bản của con người » và ngài đã mời gọi người Kitô hữu hãy tìm lại « giá trị của việc làm », bằng cách giải thoát nó ra khỏi cái « lôgíc của lợi nhuận đơn giản ».  

Sau đây là toàn văn Bài Giáo Lý của Đức Giáo Hoàng Phanxicô.

Bài Giáo Lý về thánh Giuse – 7. Thánh Giuse bác thợ mộc

Thân chào Quý Anh Chị Em !

Các thánh sử gia Mátthêu và Máccô xác định thánh Giuse như là ‘‘thợ mộc’’ hay ‘‘thợ làm đồ gỗ’’. Chúng ta đã nghe trước đây rằng các cư dân của Nazareth, khi nghe Chúa Giêsu giảng thuyết, đã hỏi nhau rằng : « Ông không phải là con bác thợ sao ? » (Mt 13,55 ; x. Mc 6,3). Chúa Giêsu đã hành nghề của cha Người.

Chữ Hy Lạp tekton, được dùng để xác định việc làm của thánh Giuse, đã được phiên dịch nhiều cách. Các Cha la tinh của Hội Thánh đã muốn ngài làm ‘‘thợ làm đồ gỗ’’. Nhưng chúng ta đừng quên rằng ở xứ Palestine vào thời Chúa Giêsu, gỗ không chỉ được dùng để chế tạo cày và nhiều đồ đạc trong nhà, mà còn để xây dựng nhà ở, với các kèo cột bằng gỗ và mái bằng được làm với các đà ghép liền với nhau bởi các cành cây và đất vách.

Bởi vậy, thành ngữ ‘‘thợ làm đồ gỗ’’ hay ‘‘thợ mộc’’ để chỉ một nghề chung, vừa là thợ đóng đồ dùng bằng gỗ trong nhà và những thợ làm những việc xây cất nhà cửa. Đó là một nghề khó, bởi vì phải làm việc với những nguyên liệu nặng nề như gỗ, đá, sắt… Trên một quan điểm kinh tế, nghề này không mang lại nhiều lợi tức, như người ta có thể suy ra từ sự kiện Đức Maria và thánh Giuse, khi các ngài dâng Chúa Giêsu trong Đền Thánh, chỉ dâng được đôi chim gáy hay bồ câu (x. Lc 2,24), như Luật định đối với những người nghèo (x. Lv 12,8).

Như vậy, Chúa Giêsu thiếu niên đã học nghề này của cha Người. Bởi thế, đến tuổi trưởng thành, khi Người bắt đầu giảng dạy, những người hàng xóm ngạc nhiên hỏi nhau rằng « Bởi đâu ông ta được khôn ngoan và làm được những phép lạ như thế ? » (Mt 13,54), và họ bị kích xúc (x. c.57), bởi vì Người là con của một bác thợ mộc, nhưng lại ăn nói như một kinh sư, điều đó làm họ kích xúc.

Sự kiện liên quan đến tiểu sử của thánh Giuse và Chúa Giêsu làm tôi nghĩ đến tất cả những người lao động trên thế giới, đặc biệt là những người phải làm những công việc nặng nhọc trong các hầm mỏ và trong một số các nhà máy ; những người bị khai thác bởi lao động chợ đen ; các nạn nhân của lao động : gần đây, chúng ta đã thấy rằng ở Italia đã có nhiều các trẻ em bị cưỡng bách lao động và những người đi bới các đống rác để tìm kiếm một vật gì còn có thể bán lại được… Tôi nhắc lại những gì tôi đã nói : các người lao động chợ đen, những người lao động phải làm những công việc nặng nhọc trong các hầm mỏ và trong một số nhà máy : chúng ta hãy nghĩ đến họ. Chúng ta hãy nghĩ tới những người đã bị lợi dụng bởi lao động chợ đen, với cái số lương buôn lậu, dấu diếm, không hưu bổng, chẳng có gì cả. Và nếu bạn không đi làm, bạn không có bảo hiểm nào cả. Lao động bất hợp pháp. Và ngày hôm nay, có nhiều lao động chợ đen. Chúng ta hãy nghĩ đến những nạn nhân của lao động, họ bị tai nạn lao động. Chúng ta hãy nghĩ đến những trẻ em bị cưỡng bách lao động : thật đáng sợ ! Một đứa trẻ ở độ tuổi chơi đùa, bị bắt buộc lao động như một người lớn ! Các trẻ em bị bắt buộc lao động. Và chúng ta hãy nghĩ đến những người nghèo kia, họ bới các bãi rác để tìm kiếm cái gì dùng được để đổi chác : họ đến các bãi rác… Tất cả những người đó đều là các người anh em, chị em của chúng ta, họ phải kiếm sống bằng cách đó : điều đó không mang lại phẩm giá cho họ ! Chúng ta hãy nghĩ đến điều đó. Và điều này xẩy ra ngày hôm nay, trên thế giới, điều này xẩy ra ngày hôm nay. Nhưng tôi cũng nghĩ đến những người bị thất nghiệp : biết bao người đã gõ cửa các nhà máy, các xí nghiệp : ‘‘Có gì để làm không ?’’ – ‘‘Không, không có, không có…’’. Sự thiếu công ăn việc làm. Và tôi cũng nghĩ đến  những người, thực sự cảm thấy bị tổn thương trong nhân phẩm bởi vì không kiếm được việc làm. Họ trở về nhà mình : « Này ? Có tìm được gì không ? » – « Không, chẳng tìm được gì cả… tôi đã đi tới Caritas và tôi mang mấy tấm bánh về ». Điều mang đến cho bạn phẩm giá, không phải là mang bánh mì về nhà. Bạn có thể lấy ở Caritas : không, điều đó không mang tới cho bạn phẩm giá. Điều mang đến cho bạn phẩm giá, đó là đi làm mua được bánh mì, và nếu chúng ta không cho dân tộc của chúng ta, cho những người nam nữ của chúng ta, có cái khả năng đi làm mua được bánh mì, đó là một sự bất công xã hội ở nơi này, trên đất nước này, trên châu lục này. Những người cầm quyền phải cho mọi người cái khả năng làm việc để kiếm được bánh mì cho họ, bởi vì sự kiếm được này cho họ phẩm giá. Việc làm đích thực là sự xức dầu nhân phẩm. Và đó là quan trọng. Nhiều người trẻ, nhiều người cha và nhiều người mẹ sống thảm trạng không có công ăn việc làm để họ được sống một cách thanh thản. Họ sống ngày nào hay ngày đó. Và bao lần, sự tìm kiếm của họ trở thành quá bi thảm đến nỗi họ mất hết hy vọng và không còn muốn sống nữa. Trong những năm tháng đại dịch này, nhiều người đã mất công ăn việc làm – chúng ta biết điều đó – và nhiều người, bị đè nén bởi gánh nặng không thể chịu nổi, đã tự kết liễu đời mình. Ngày hôm nay, tôi muốn nhắc lại ký ức của mỗi người trong họ và gia đình của họ. Chúng ta hãy giữ một phút im lặng để nhớ đến những người nam và nữ đó đã bị tuyệt vọng bởi vì không tìm được việc làm.

Người ta không mấy chú ý tới sự kiện việc làm là một thành phần thiết yếu trong cuộc đời con người và cũng trên con đường nên thánh. Việc làm không chỉ là một phương tiện để kiếm sống : đó cũng là một nơi chúng ta thể hiện bản thân, nơi chúng ta cảm thấy mình hữu dụng và nơi chúng ta học được bài học lớn của sự cụ thể, nó giúp cho đời sống thiêng liêng không trở thành chủ nghĩa duy linh. Nhưng khốn nỗi, việc làm nhiều khi là con tin của sự bất công xã hội, và thay vì là một phương tiện của sự nhân bản hóa, nó trở thành một vùng ngoại vi của sự sống. Tôi thường hay tự hỏi : hàng ngày chúng ta làm việc với trạng thái tinh thần như thế nào ? Chúng ta kiểm soát sự mệt mỏi của mình ra sao ? Chúng ta có coi công việc của chúng ta chỉ gắn liền với số phận riêng của chúng ta hay cũng gắn lền với số phận của những người khác ? Thực tế, việc làm là một phương tiện để biểu lộ nhân cách của chúng ta, tự bản chất nó vẫn mang tính quan hệ. Và việc làm cũng là một phương tiện để biểu lộ sự sáng tạo của chúng ta : mỗi người làm công việc theo cách thức của mình, với kiểu riêng của mình ; cùng một công việc nhưng với một kiểu khác.

Thật là đẹp khi nghĩ rằng chính đích thân Chúa Giêsu đã làm việc và Người đã học được nghệ thuật đó từ Thánh Giuse. Ngày hôm nay, chúng ta phải tự hỏi điều chúng ta có thể làm để phục hồi giá trị của việc làm ; và chúng ta có thể đem lại sự đóng góp nào, với tư cách là Giáo Hội, để nó được giải thoát ra khỏi cái lôgíc của lợi nhuận đơn giản và có thể được trải nghiệm như là một quyền và một bổn phận căn bản của con người, biểu lộ và tăng trưởng phẩm giá của mình.

Thưa quý anh chị em, để được thế, ngày hôm nay tôi muốn đọc với quý anh chị em kinh mà thánh Phaolô VI đã dâng lên thánh Giuse hôm 01/5/1969 :

Lậy Thánh Giuse, Quan Thầy của Hội Thánh, ngài đã ở bên cạnh Ngôi Lời Nhập Thể lao động mỗi ngày để kiếm sống, nhận lãnh từ Người sức mạnh để sống và để làm lụng vất vả ;
Ngài đã cảm nhận được mối lo cho ngày hôm sau, sự cay đắng của cảnh nghèo nàn, sự bấp bênh của việc làm : Ngày hôm nay ngài đã làm rạng ngời tấm gương của ngài, khiêm nhường trước mọi người nhưng rất cao trọng trước Thiên Chúa,
Xin ngài che chở những người lao động trong cuộc sống khó khăn hàng ngày của họ, xin đừng để họ rơi vào sự chán nản, vào sự nổi loạn tiêu cực, cũng như vào những cám dỗ lạc thú ; và xin ngài gìn giữ hòa bình trên thế giới, chỉ có nền hóa bình này mới bảo đảm sự phát triển của các dân tộc. Amen

Copyright © Traduction Dicastère pour la communication, Librairie éditrice vaticane

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Catéchèse sur saint Joseph et la dignité que confère le travail (Texte entier) – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài Giáo Lý về Thánh Giuse và phẩm giá mà lao động mang đến

Kinh Truyền Tin lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa

Quảng trường Thánh Phêrô ngày 09/01/2022

Thân chào quý anh chị em !

Bài Phúc Âm trong phụng vụ ngày hôm nay đưa ra cho chúng ta một cảnh tượng qua đó cuộc đời công cộng của Chúa Giêsu bắt đầu : Người vốn là Con của Thiên Chúa và là Đấng Mêsia, đã tới bờ sông Giođan và đã được ông Gioan Tẩy Giả làm phép Rửa. Sau ba chục năm của đời sống ẩn dật, Chúa Giêsu không xuất hiện với phép lạ hay đứng trên ghế cao để giảng dạy. Người đã đứng xếp hàng với mọi người cũng đến để nhận phép Rửa của ông Gioan. Bài ca phụng vụ ngày hôm nay nói rằng dân chúng đến xin chịu phép Rửa đều đi chân không và tâm hồn khiêm nhường. Thật là thái độ rất đẹp, với linh hồn không che phủ, với chân không. Và Chúa Giêsu chia sẻ số phận của chúng ta là người tội lỗi, Người ngự xuống với chúng ta : Người bước xuống sông như trong lịch sử bị những thương tích của nhân loại, Người dìm mình dưới nước để chữa lành chúng, Người dìm mình với chúng ta, ở giữa chúng ta. Người không lên cao trên chúng ta, mà người ngự xuống phía chúng ta, với một tâm hồn không che đậy, với chân không, như dân chúng. Người không đến một mình, cũng không với một nhóm tinh hoa được biệt đãi, không, người đến với dân chúng. Người thuộc về dân này và đi với dân để nhận phép Rửa, với dân tộc khiêm hạ này.

Chúng ta hãy dừng lại ở một điểm quan trọng : vào lúc Chúa Giêsu chịu phép Rửa, Sách viết Người « đang khi cầu nguyện » (Lc 3,21). Điều đó có ích cho chúng ta khi chiêm ngẫm điều này : Chúa Giêsu cầu nguyện. nhưng bằng cách nào ? Liệu Người vốn là Chúa, là Con Thiên Chúa có cầu nguyện như chúng ta không ? Phải, Chúa Giêsu – như các sách Phúc Âm đã bao lần nhắc lại – bỏ nhiều thời gian ra cho cầu nguyện : đầu mỗi ngày, nhiều khi cả ban đêm, trước khi có những quyết định quan trọng. Cầu nguyện của Người là một cuộc đối thoại, một quan hệ với Chúa Cha. Như thế, trong Phúc Âm ngày hôm nay, chúng ta có thể thấy « hai động tác » của cuộc đời Chúa Giêsu : một mặt, Người ngự xuống phía chúng ta, trong dòng sông Giođan ; mặt kia, Người ngước mắt và hướng lòng Người lên cầu nguyện với Chúa Cha.

Đây là một bài học lớn cho chúng ta : tất cả chúng ta đều bị tràn ngập trong những vấn đề của đời sống và trong nhiều tình trạng phức tạp, được kêu gọi đối đầu với những lúc khó khăn và những chọn lựa, chúng kéo chúng ta xuống. Nhưng, nếu chúng ta không muốn bị đè bẹp, chúng ta phải nâng mọi thứ lên cao. Và đó chính là điều mà cầu nguyện làm, đó không phải là một con đường thoát thân, cầu nguyện không phải là một nghi thức ảo thuật hay là một sự lập đi lập lại những bài ca thuộc lòng. Không. Cầu nguyện là một phương cách để Thiên Chúa tác động trong chúng ta, để nắm bắt điều Người muốn truyền đạt cho chúng ta, kể cả trong những tình huống khó khăn nhất, để cầu nguyện cho có sức mạnh tiến lên phía trước. Nhiều người cảm thấy họ không thể đạt được và cầu rằng : « Lậy Chúa, xin ban cho con sức mạnh để tiếp tục ». Chúng ta cũng vậy, chúng ta đã từng làm nhiều lần. Cầu nguyện giúp chúng ta bởi vì nó kết hợp chúng ta với Thiên Chúa, nó mở chúng ta ra với sự gặp gỡ Thiên Chúa. Phải, cầu nguyện là chìa khóa mở tấm lòng của Chúa. Đó là đối thoại với Thiên Chúa, đó là lắng nghe Lời Người, đó là thờ lậy Người. Quý anh chị em hãy kêu lên như ông Gióp. Người là Cha, Người hiểu rõ chúng ta. Người không bao giờ nổi giận với chúng ta. Và Chúa Giêsu cầu nguyện.

Cầu nguyện – để lấy lại hình ảnh đẹp của bài Phúc Âm ngày hôm nay – « trời mở ra » (x.c. 21). Cầu nguyện làm trời mở ra : cầu nguyện là dưỡng khí (ôxy) của cuộc đời, cầu nguyện  là hơi thở ngay cả ở giữa những lo nghĩ và làm cho chúng ta thấy được những chuyện một cách rộng rãi hơn. Nhất là, cầu nguyện giúp chúng ta có cùng một trải nghiệm của Chúa Giêsu ở sông Giođan : cầu nguyện làm cho chúng ta cảm thấy là con cái được yêu thương của Chúa Cha. Với chúng ta cũng thế, khi chúng ta cầu nguyện, Chúa Cha phán, như Người đã phán với Chúa Giêsu rong Phúc Âm : « Con là Con của Cha » (x. c. 22). Thân phận con cái Thiển Chúa của chúng ta bắt đầu ngày chúng ta chịu Phép Rửa, vốn đã dìm chúng ta trong Đức Kitô, vào với tư cách là các thành phần của Dân Thiên Chúa, làm cho chúng ta trở thành con cái cưng của Chúa Cha. Chúng ta đừng quên ngày chúng ta chịu Phép Rửa ! Nếu bây giờ tôi hỏi mỗi người trong quý anh chị em : ngày quý anh chị em chịu Phép Rửa là ngày nào ? Có thể là có nhiều người không nhớ. Đây là một điều tốt đẹp : nhớ lấy ngày mình chịu Phép Rửa, bởi vì đó là ngày tái sinh của chúng ta, cái lúc mà chúng ta trở thành con cái của Thiên Chúa với Chúa Giêsu. Và khi quý anh chị em trở về nhà – nếu quý anh chị em không biết – thì hãy hỏi cha mẹ, chú bác, cô dì, ông bà nội ngoại của quý anh chị : « Thưa, con chịu Phép Rửa ngày nào vậy ? », và nhớ lấy ngày đó để ăn mừng, để tạ ơn Chúa. Và ngày hôm nay, và lúc này, chúng ta hãy tự hỏi : sự cầu nguyện của tôi thế nào rồi ? Liệu có phải tôi cầu nguyện vì thói quen không ? hay tôi miễn cưỡng cầu nguyện ? hay tôi chỉ đọc những kinh có sẵn ? hay là sự cầu nguyện của tôi có là một sự gặp gỡ với Thiên Chúa không ? Tôi có là người tội lỗi, nhưng có phải tôi luôn ở trong dân của Thiên Chúa, không bao giờ lẻ loi ? Tôi có trau dồi sự thân cận với Thiên Chúa, sự đối thoại với Người, tôi có lắng nghe Lời Người không ? Giữa bao nhiêu chuyện mà chúng ta làm trong ngày, chúng ta đừng lãng quên cầu nguyện : chúng ta hãy dành ra thời gian, chúng ta hãy sử dụng những lời nguyện ngắn thường xuyên nhắc lại, chúng ta hãy đọc Phúc Âm hàng ngày. Cầu nguyện làm mở cửa trời.

Và bây giờ, chúng ta hãy hướng lên Đức Mẹ, Đức Trinh Nữ cầu nguyện, mẹ đã làm cho cuộc đời Mẹ thành một bài ca chúc tụng Thiên Chúa

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của vatican.va

Angélus, 9 janvier 2022, Fête du Baptême du Seigneur | François (vatican.va)

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Kinh Truyền Tin lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa

Kinh Truyền Tin – Cử chỉ « đáng ngạc nhiên » của các nhà chiêm tinh

Lời Đức Giáo Hoàng trước Kinh Truyền Tin

JANVIER 06, 2022 17:10 HÉLÈNE GINABATANGÉLUSPAPE FRANÇOIS

Chân phước Fra Angelico, Ba Vua thờ lậy Chúa Giêsu

« Thật là đáng ngạc nhiên, một cử chỉ khiêm nhượng đến thế từ phía những người lẫy lừng như vậy », Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã ngạc nhiên khi bình luận về thái độ của các nhà chiêm tinh, sấp mình trước Hài Nhi Bêlem, trước Kinh Truyền Tin hôm thứ năm 06/01/2022, ngày lễ Chúa Hiển Linh.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã xuất hiện ở cửa sổ của phòng làm việc trong Dinh Tông Tòa của Vatican để đọc Kinh Truyền Tin với các tín hữu và khách hành hương tụ tập trên Quảng Trường Thánh Phêrô trong ngày lễ trọng Chúa Hiển Linh, thứ năm 06/01/2022. Ngài đã bình giảng ngắn gọn đoạn văn về sự viếng thăm của các vị chiêm tinh trích trong bài Phúc Âm ngày hôm nay.

Các nhà chiêm tinh « sấp mình, nghĩa là các ngài đã cúi mình sát đất để thờ lậy một hài nhi ! Điều đó có vẻ là một sự mâu thuẫn », Đức Giáo Hoàng đã lưu ý. Không « dễ để thờ lậy Thiên Chúa này, khi mà tính Thiên Chúa được che dấu », ngài ghi nhận. Nhưng các vị chiêm tinh « đã hạ mình trước cái lôgíc chưa từng nghe thấy của Thiên Chúa », các ngài « đón nhận với lòng khiêm hạ Đấng đã tỏ mình trong sự khiêm nhượng », công nhận rằng « họ cần sự cứu độ ».

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã mời gọi đừng đặt mình vào trung tâm, đi theo các nhà chiêm tinh, để có thể gặp được Chúa « trong chiều sâu » và khám phá « sự ngạc nhiên thờ lậy Thiên Chúa », bởi vì « sự bái lậy phải đi qua sự khiêm nhượng ». Nếu không, ngài cảnh báo, « có thể chúng ta rồi cũng sẽ thờ phụng ai đó hay cái gì đó trong cuộc sống, nhưng chắc chắn sẽ không phải là Chúa ».

Đức Giáo Hoàng đã kết luận bởi một lời mời gọi tự kiểm điểm và một lời khuyên. « Sự khiêm nhượng của tôi ra sao ? », « Liệu tôi có biết để qua một bên quan diểm của tôi để ôm lấy quan điểm của Thiên Chúa và của những người khác không ? », ngài đã hỏi trước khi đề nghị : « Hôm nay, chúng ta có thể theo lời khuyên này : nhìn lên ngôi sao và bước đi. Đừng bao giờ ngưng bước, nhưng cũng đừng bao giờ quên nhìn lên ngôi sao ».

Sau đây là bản dịch những lời của Đức Giáo Hoàng trước kinh kính Đức Mẹ.

Lời Đức Giáo Hoàng Phanxicô trước Kinh Truyền Tin

Thân Chào Quý Anh Chị Em ! Chúc mừng ngày lễ !

Ngày hôm nay, ngày lễ kính sự Hiển Linh của Chúa, chúng ta chiêm ngắm đoạn các vị chiêm tinh (x. Mt 2, 1-12). Họ đã đương đầu với một cuộc hành trình đường dài và mệt nhọc để đi bái lậy « Đức Vua dân Do Thái » (c. 2). Các ông đã được hướng dẫn bởi dấu chỉ kỳ diệu của một ngôi sao và khi các ông cuối cùng cũng đến được mục tiêu, thay vì tìm thấy cái gì là vĩ đại, các ông thấy một Hài Nhi với mẹ Người. Các ông có thể phản đối : « Suốt con đường dài và tất cả những hy sinh này để đứng trước một đứa trẻ nghèo sao ? ». Và tuy vậy, các ông đã không phẫn nộ, các ông đã không thất vọng. Các ông không than phiền. Các ông làm gì ? Các ông sấp mình xuống. « Họ vào nhà, Phúc Âm nói, thấy Hài Nhi và thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lậy Người » (c. 11).

Chúng ta hãy nghĩ về những nhà thông thái đó đến từ xứ xa, giầu sang, uyên bác, nổi danh, mà sấp mình, nghĩa là cúi rạp người xuống tận đất để thờ lậy Hài Nhi ! Điều này có vẻ là một sự mâu thuẫn. Thật là đáng ngạc nhiên, một cử chỉ khiêm cung đến thế từ những người lẫy lừng như thế. Sấp mình trước một uy quyền được biểu hiện bởi những dấu hiệu của quyền lực và của vinh quang là điều quen thuộc ở thời kỳ đó. Và cả ở ngày nay cũng thế, điều đó sẽ không có gì là lạ lùng cả. Nhưng trước một Hài Nhi của Bêlem, thật không hề đơn giản. Không dễ gì thờ lậy Đấng Thiên Chúa này, trong lúc mà tính Thiên Chúa lại ẩn dấu và không xuất hiện một cách huy hoàng. Điều này có nghĩa là đón nhận sự cao cả của Thiên Chúa, vốn được thể hiện trong sự bé mọn : chính điều đó là thông điệp. Các nhà chiêm tinh tự hạ mình trước cái lôgíc chưa từng nghe nói của Thiên Chúa, các ông đón nhận Chúa không giống như các ông đã tưởng tượng Người, nhưng như là Người lúc đó, bé mọn và nghèo nàn. Sự sấp mình của các ông là dấu chỉ những người đã bỏ ý kiến của mình sang một bên để dành chỗ cho Thiên Chúa. Phải có lòng khiêm nhường mới làm nổi điều này.

Phúc Âm nhấn mạnh điều này : Phúc Âm không chỉ nói rằng các nhà chiêm tinh đã thờ lậy ; Phúc Âm còn nhân mạnh rằng các ông sấp mình xuống và thờ lậy Người. Chúng ta hãy nắm bắt dấu chỉ này : sự thờ lậy đi cùng với sấp mình. Khi thực hiện cử chỉ này, các nhà chiêm tinh cho thấy họ đón nhận với lòng khiêm nhường Đấng đã hiện thân trong sự khiêm nhượng. Và chính như thế mà các ông mở lòng ra cho sự thờ lậy Thiên Chúa. Những cái tráp mà các ông mở ra là hình ảnh của tấm lòng của các ông được mở ra : sự giầu sang đích thực của các ông không chỉ ở trong sự nổi danh hay sự thành công, nhưng ở trong sự khiêm nhượng, trong sự kiện là các ông coi như cần đến sự cứu độ. Và đó là tấm gương mà các nhà chiêm tinh để lại cho chúng ta trong ngày hôm nay.

Quý anh chị em thân mến, nếu chúng ta luôn ở trong trung tâm của mọi thứ, với những ý kiến của chúng ta và nếu chúng ta có tham vọng có thể khoe khoang điều gì trước mặt Thiên Chúa, chúng ta sẽ không bao giờ gặp được Người trong chiều sâu, chúng ta sẽ không thể nào thờ lậy Người được. Nếu những tham vọng, những kiêu căng, những bướng bỉnh của chúng ta, sự chạy đua để được nổi bật không bị rơi xuống, có thể chúng ta rồi cũng sẽ thờ phụng ai đó hay cái gì đó trong cuộc sống, nhưng chắc chắn sẽ không phải là Chúa ! Nếu trái lại, chúng ta rời bỏ tham vọng tự mãn của chúng ta, nếu chúng ta làm mình nhỏ bé tự đáy lòng chúng ta, chúng ta sẽ tìm lại được sự ngạc nhiên thán phục của sự thờ lậy Thiên Chúa. Bởi vì sự thờ lậy đi qua sự khiêm nhượng trong lòng : kẻ nào có cái tật vượt lên sẽ không nhận thấy sự hiện diện của Chúa. Chúa Giêsu đi qua ngay bên cạnh mà mình không biết, như thể điều đó đã xẩy ra cho nhiều người ở thời buổi đó, nhưng không phải đối với các nhà chiêm tinh.

Quý anh chị em thân mến, ngày hôm nay, khi nhìn các ông, chúng ta hãy tự hỏi : sự khiêm nhường của chúng ta ra sao ? Tôi có xác tín rằng sự kiêu ngạo ngăn cản sự tiến bộ thiêng liêng của tôi không ? Cái kiêu ngạo đó dù là thể hiện hay che dấu, thường cản trở sự đến với Thiên Chúa. Tôi có tác động trên sự ngoan hiền của tôi, để sẵn sàng cho Thiên Chúa và cho người khác, hay là tôi chỉ luôn tập trung trên cá nhân tôi, trên những tham vọng của tôi, với cái tính ích kỷ tiềm ẩn là sự tự mãn ? Tôi có để sang bên quan điểm của tôi để ôm lấy quan điểm của Thiên Chúa và của những người khác không ? Và sau cùng : có phải tôi chỉ cầu nguyện và chỉ thờ lậy khi tôi tin rằng tôi luôn cần đến Thiên Chúa ? Các nhà chiêm tinh đã lên đường và nhìn lên ngôi sao và các ông đã tìm được Chúa Giêsu. Các ông đã đi đường dài. Ngày hôm nay, chúng ta có thể theo lời khuyên này : nhìn lên ngôi sao và bước đi. Anh chị em đừng bao giờ dừng bước, nhưng đừng bao giờ quên nhìn lên ngôi sao. Đó là lời khuyên của ngày hôm nay ; lời khuyên mạnh mẽ : hãy nhìn ngôi sao và bước đi, nhìn lên ngôi sao và bước đi.

Cầu xin Đức Trinh Nữ Maria, nữ tỳ của Chúa, dạy cho chúng ta tái khám phá ra nhu cầu sống chết của lòng khiêm nhượng và cầu xin làm sống lại hương vị của sự thờ lậy. Cầu xin Mẹ dạy cho chúng ta nhìn lên ngôi sao và bước đi.

© Traduction de Zenit, Hélène Ginabat

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Angelus : Le geste « surprenant » des mages – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Kinh Truyền Tin – Cử chỉ « đáng ngạc nhiên » của các nhà chiêm tinh

Bài Giáo Lý về Thánh Giuse – Làm thé nào để trở thành cha ?

Mời gọi hãy sống tình phụ tử và tình mẫu tử ( toàn văn)

JANVIER 05, 2022 16: 56 HÉLÈNE GINABATAUDIENCE GÉNÉRALEPAPE FRANÇOIS

Triều kiến chung ngày 05/01/2022

Người ta không chỉ làm cha khi sinh ra một đứa con, nhưng bởi vì chăm sóc cho nó một cách có trách nhiệm. Mỗi lần ai đó nhận trách nhiệm về đời sống của một kẻ khác, trong một ý nghĩa nào đó, người đó thi hành tình phụ tử với kẻ đó », Đức Giáo Hoàng Phanxicô khẳng định khi ngài nhắc lại tông thư Patris corde, trong buổi triều kiến chung ngày 05/01/2022.

Tiếp nối các bài giáo lý hàng tuần của ngài về con người thánh Giuse, Đức Giáo Hoàng đã dành bài đầu năm cho « Thánh Giuse, người cha trên pháp lý của Chúa Giêsu », hôm thứ tư 05/01/2022, trước nhiều khách hành hương và các tín hữu người Ý và trên toàn thế giới, tụ họp trong đại giảng đường Phaolô VI của Vatican.

Dưới ánh sáng của vai trò đặc biệt được đảm nhận bởi thánh Giuse, Đức Giáo Hoàng Phandxicô đã đề nghị một sự suy ngẫm về tình phụ tử và tình mẫu tử trong « nền văn minh có hơi mồ côi của chúng ta ».

Trong khi tố cáo « mùa đông dân số » biểu lộ « một sự ích kỷ nào đó » và một « sự từ chối thiên chức làm cha và làm mẹ », Đức Giáo Hoàng đã khuyên nhủ đừng sợ « phải đảm nhận sự ‘‘rủi ro’’ đón nhận một đứa con », dù là sinh ra hay nhận nuôi, bởi vì, ngài khẳng định, « tình phụ tử và mẫu tử là sự vẹn toàn của đời sống của một con người ».    

Đức Giáo Hoàng khuyến khích các cặp vợ chồng muốn nhận con nuôi : « việc lựa chọn sự sống, ngài tuyên bố, là thành phần của những hình thức cao quý nhất của tình yêu, của tình phụ tử và tình mẫu tử ». Ngài cũng đã mời gọi các cơ quan hãy « luôn sốt sắng giúp đỡ trong chiều hướng nhận con nuôi, bằng cách kiểm soát nghiêm túc nhưng cũng nên đơn giản hóa thủ tục cần thiết ».

Sau đây là bản dịch toàn văn bài giáo lý của Đức Giáo Hoàng Phanxicô (© Librairie éditrice vaticane).

Bài Giáo Lý về Thánh Giuse – 6. Thánh Giuse, người cha trên pháp lý của Chúa Giêsu

Thân chào Quý Anh Chị Em !

Ngày hôm nay, chúng ta sẽ suy niệm về Thánh Giuse như người cha của Chúa Giêsu. Các thánh sử gia Mátthêu và Luca trình bầy ngài như người cha ngoài đời của Chúa Giêsu chứ không phải người cha đẻ của Người. Thánh Mátthêu nói rõ điều đó bằng cách tránh từ ngữ « sinh ra », được sử dụng trong gia phả của tất cả các bậc tổ tiên Chúa Giêsu ; nhưng thánh sử gia nói về ngài như là « chồng của bà Maria, bà là mẹ của Đức Giêsu cũng gọi là Đấng Kitô » (Mt 1,16) . Trong lúc thánh Luca khẳng định rằng « Thiên hạ vẫn coi Người là con ông Giuse » (Lc 3,23), nghĩa là ngài xuất hiện như là người cha.

Để hiểu được tính phụ tử ngoài đời hay là pháp lý của thánh Giuse, cần thiết phải nhớ rằng trong Cổ Đại, ở Phương Đông, quy chế con nuôi phổ thông nhiều hơn ngày nay. Chúng ta hãy nghĩ về trường hợp thông thường tại Israel thời « Lêvi », được  trình bầy trong Sách Đệ Nhị Luật như sau : « Khi có những anh em ở cùng nhau, và một trong những người đó chết mà không có con trai, thì vợ của người chết không được lấy một người xa lạ, ngoài gia đình ; một người anh em chồng sẽ đến với nàng, lấy nàng làm vợ và chu toàn bổn phận của một người anh em chồng đối với nàng. Đứa con đầu lòng nàng sinh ra sẽ duy trì tên của người anh em đã chết ; như vậy tên của người chết sẽ không bị xóa khỏi Israel » (Đnl 25, 5-6). Nói cách khác, người cha của đứa trẻ này là người anh em chồng, nhưng người cha trên pháp lý vẫn là người đã chết, hậu quả là đứa trẻ sơ sinh được hưởng tất cả các quyền thừa kế. Mục đích của lề luật này là kép : bảo đảm hậu duệ của người chết và sự phòng giữ thừa kế.

Với tư cách là cha chính thức của Chúa Giêsu, thánh Giuse đã sử dụng quyền đặt tên cho con của ngài, như vậy công nhận Người theo pháp lý. Trên mặt pháp lý, ngài là cha, nhưng không phải là cha đẻ, ngài không sinh ra Người.

Trong thời cổ đai, tên là sự nhập thể của căn tính của một con người. Thay đổi danh tính có nghĩa là thay đổi chính mình, như trường hợp của ông Abram, mà Thiên Chúa đã đổi tên ông thành « Ápraham », có nghĩa là « cha của vô số người », « bởi vì, Sáng Thế Ký viết, ngài sẽ là cha của vô số dân tộc » (St 17,5). Đó cũng là điều đã xẩy ra với ông Giacóp, ông được gọi là « Israel », có nghĩa là « người đấu với Thiên Chúa », bởi vì ông đã đấu với Thiên Chúa để đòi Người ban phép lành cho ông (x. St 32,29 ; 35,10).

Nhưng nhất là, đặt tên cho ai đó hay cho vật gì đó có nghĩa là xác định thẩm quyền của mình trên những gì đã được đặt tên, như ông Ađam đã làm khi đặt tên cho tất cả các loài động vật (x. St 2, 19-20).

Thánh Giuse biết rằng đã có một tên được Thiên Chúa chuẩn bị cho con của Đức Maria – tên là Giêsu, chính là Cha thật của Người là Thiên Chúa đã đặt cho Người, cái tên « Giêsu » có nghĩa là « Chúa cứu độ », như sứ thần đã giải thích với bà : « Vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ » (Mt 1,21). Khía cạnh đặc biệt của hình ảnh thánh Giuse cho phép chúng ta ngày hôm nay suy niệm về tính phụ tử và tính mẫu tử. Và chuyện này đối với tôi có vẻ rất quan trọng : nghĩ tới tính phụ tử ngày hôm nay. Bởi vì chúng ta sống trong một thời đại mồ côi hiển nhiên. Cũng lạ : nền văn minh của chúng ta có đôi chút mồ côi, và chúng ta có thể cảm thấy tình trạng mồ côi này. Mong rằng hình ảnh của thánh Giuse giúp cho chúng ta hiểu được làm thế nào để giải quyết cảm giác mồ côi đã làm chúng ta đau khổ nhiều trong ngày hôm nay.

Sinh ra một đứa con chưa đủ đã là cha hay là mẹ đứa bé. « Người ta không sinh ra đã là cha ngay, nhưng người ta trở thành người cha. Và người ta không trở thành cha chỉ vì sinh ra một đứa con, nhưng bởi vì người ta chăm sóc cho đứa bé một cách có trách nhiệm. Mỗi lần mà ai đó lấy trách nhiệm về cuộc đời của một kẻ khác, trong một ý nghĩa nào đó, người đó thi hành quyền phụ tử đối với kẻ đó » (Tông thư Patris corde). Tôi đặc biệt nghĩ tới tất cả những người mở lòng ra để đón nhận sự sống bằng con đường nhận con nuôi, vốn là một cách hành xử rất rộng lượng và tốt đẹp. Thánh Giuse cho chúng ta thấy rằng kiểu quan hệ này không thứ yếu, cũng không là một suy nghĩ sau đó. Kiểu chọn lựa này là thành phần của những hình thức cao đẹp nhất của tình yêu, của tính phụ tử và tính mẫu tử. Biết bao con cái trên thế giới chờ đợi có ai đó chăm sóc cho chúng ! Và biết bao cặp vợ chồng mong muốn được làm cha, làm mẹ mà không được vì lý do sinh học ; hay là, kể cả khi đã có con rồi, họ muốn chia sẻ tình yêu của gia đình họ với những người không có được tình yêu đó. Chúng ta đừng sợ phải chọn con đường nhận con nuôi, con đường đảm nhận « sự rủi ro » đón nhận con cái. Và ngày hôm nay cũng thế, với các cô nhi viện, có một sự ích kỷ nào đó. Hôm trước, tôi có nói đến cái mùa đông dân số mà chúng ta đều biết trong ngày hôm nay : thiên hạ không muốn có con, hay chỉ một đứa hay chẳng có gì thêm. Và nhiều cặp không có con bởi vì họ không muốn, hay chỉ có một đứa bởi vì họ không muốn có thêm, nhưng họ lại có hai con chó, hai con mèo… Phải, chó và mèo đã chiếm chỗ của các con cái. Phải, chuyện tức cười, tôi hiểu được, nhưng đó là thực tế. Và sự khước từ tính phụ tử và tính mẫu tử này hạ thấp chúng ta, lấy đi tính nhân bản của chúng ta. Và như thế nền văn minh trở thành già nua và vô nhân đạo, bởi vì người ta mất đi sự phong phú của tính phụ tử và tính mẫu tử. Và đất nước đau khổ, bởi vì không có con cái và – như có người đã khôi hài nói – « và bây giờ, ai sẽ đóng thuế cho hưu bổng của tôi, vì không có con cái ? Ai sẽ chăm lo cho tôi ? » : người đó cười, nhưng thật là như vậy đó. Tôi cầu xin Thánh Giuse ơn đánh thức các lương tâm và suy nghĩ điều này : có con cái. Và còn như anh chị em không thể có con, anh chị em hãy nghĩ đến nhận con nuôi. Đó là một rủi ro, đúng : có một đứa con luôn là một sự rủi ro, dù là nó là con đẻ hay con nuôi. Nhưng rủi ro hơn chính là không có đứa con nào. Thật là rủi ro hơn khi khước từ tính phụ tử, khước từ tính mẫu tử, dù cho là máu mủ thực sự hay thiêng liêng. Một người nam và nữ mà không triển khai một cách tự nguyện ý nghĩa của tính phụ tử và tính mẫu tử, thì đã bỏ lỡ một điều gì đó là chính yếu, là quan trọng. Xin anh chị em hãy vui lòng suy ngẫm. Tôi cầu mong các cơ chế luôn nhặm lẹ giúp đỡ trong chiều hướng nhận con nuôi, bằng cách kiểm soát nghiêm túc đã đành, nhưng cũng nên đơn giản hóa thủ tục cần thiết để thực hiện giấc mơ của biết bao trẻ em đang cần một mái ấm gia đình, và bao cặp vợ chồng đang mong muốn cống hiến trong tình yêu. Cách đây ít lâu, tôi đã nghe lời chứng của một người, một vị bác sĩ – một nghề quan trọng – ông không có con và với vợ ông, họ đã quyết định nhận nuôi một đứa. Và đến lúc đó, người ta đã đề nghị với ông bà rằng : « Nhưng, chúng tôi không nắm rõ em bé đó có khỏe mạnh không. Có lẽ em có một bệnh tật gì chăng ». Và ông bác sĩ đã đáp lại – ông ta đã thấy em bé – ông khẳng định : « Nếu quý vị hỏi điều này trước khi tôi tới đây, có thể tôi sẽ từ chối. Nhưng bây giờ tôi đã thấy mặt em bé : tôi nhận nuôi nó ». Đó chính là sự mong ước làm một người cha, làm một người mẹ dù là thông qua nhận nuôi. Anh chị em đừng sợ điều này.

Tôi cầu nguyện để không một ai cảm thấy mình bị mất đi một quan hệ tình yêu phụ tử. Và mong rằng những người bệnh mồ côi hãy đi tới mà không có cái cảm tưởng xấu xa. Cầu xin thánh Giuse che chở và phù giúp các trẻ mồ côi và xin ngài cầu bầu để cho các cặp vợ chồng có mong ước có một đứa con. Để được điều đó, chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện :

Lậy Thánh Giuse, ngài đã yêu mến Chúa Giêsu bằng một tinh yêu của người cha, xin hãy đến gần biết bao trẻ em không có gia đình và đang mong ước có một người cha hay một người mẹ.

Xin ngài nâng đỡ các cặp vợ chồng không thể có con, Xin hãy phù giúp họ khám phá ra, qua sự đau khổ này, một dự án lớn hơn.

Xin ngài làm cho không ai phải thiếu một mái ấm gia đình, thiếu tình yêu thương, thiếu một người để săn sóc họ ; và xin hãy chữa lành tính ích kỷ của kẻ đóng cửa lòng mình với sự sống, để họ mở rộng lòng ra với tình yêu. Amen.

Copyright © Traduction Librairie éditrice vaticane

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Catéchèse sur saint Joseph : Comment devient-on père ? (Texte intégral) – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Bài Giáo Lý về Thánh Giuse – Làm thé nào để trở thành cha ?

Đức Maria, các bà mẹ và « sự bê bối của máng cỏ »

Bài giảng thánh lễ Đức Maria Mẹ Thiên Chúa, 01 tháng 01 năm 2022

JANVIER 03, 2022 16:54 HÉLÈNE GINABATPAPE FRANÇOIS

Thánh Lễ ngày 01 tháng 01 năm 2022

Tại Bêlem, Đức Trinh Nữ Maria « đã phải chịu đựng ‘‘sự bê bối của máng cỏ’’, Đức Giáo Hoàng Phanxicô khẳng định. Đối với Mẹ của Thiên Chúa, người đã được Thiên Sứ truyền tin rằng Mẹ sẽ hạ sinh « Con của Đấng Tối Cao », Người sẽ nhận được Từ Thiên Chúa là Chúa « ngôi của vua Đavít cha Người », « làm thế nào giữ cùng với nhau ngôi cao đế vương và cái máng cỏ nghèo nàn »  

Trong bài giảng ngài đã ban ra trong Đền Thánh Phêrô, trong Thánh Lễ ngày lễ trọng kính Đức Maria Mẹ Thiên Chúa, hôm thứ bẩy 01/01/2022, Ngày Hòa Bình Thế Giới lần thứ 55, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã bình giảng bài Phúc Âm theo thánh Luca, về các mục đồng ở Bêlem đến viếng thăm, ở nơi mà họ đã thấy « Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ »

Nếu các mục đồng đã sung sướng tìm thấy máng cỏ, dấu chỉ được loan truyền bởi các thiên thần, đối với Đức Maria, Mẹ của Thiên Chúa, sự ra đời của con Mẹ trong một cái máng cỏ là một điều « bê bối », Đức Giáo Hoàng lưu ý. « Làm thế nào vượt lên sự kích súc giữa lý tưởng và thực tế ? », ngài đã hỏi như thế : « bởi vì chúng ta cũng đã phải sống nhiều ‘‘bê bối của máng cỏ’’ ».

Thái độ của Đức Maria, đấng « gìn giữ và suy niệm trong lòng » , là « sự biểu lộ của một đức tin trưởng thành ». « Ánh mắt bao trùm », vốn « vượt qua những căng thẳng », là ánh mắt của các bà mẹ « biết giữ chung với nhau các con cái của sự sống, tất cả mọi đứa ». Khi nhìn bằng trái tim, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh, các phụ nữ và các bà mẹ « có thể giữ chung với nhau cả những mơ ước và sự cụ thể, bằng cách tránh những lệch lạc của chủ nghĩa thực dụng và sự trừu tượng.

« Chúng ta cần những con người có khả năng dệt bằng những sợi dây hiệp thông, để chống lại quá nhiều những sợi dây thép gai của sự chia rẽ », Đức Giáo Hoàng Phanxicô kết luận.

HG

Bài giảng của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Các mục đồng thấy « bà Maria, ông Giuse, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ » (Lc 2 ;16). Máng cỏ là một dấu hiệu vui mừng cho các mục đồng : nó là sự xác nhận những điều mà họ đã được thiên thần dặn dò họ (x. c.12), nó là cái nơi mà họ đã tìm thấy Đấng Cứu Thế. Và đó cũng là bằng chứng là Thiên Chúa ở bên cạnh họ : Người sinh ra trong máng cỏ, một vật mà họ biết rõ. Như thế, Người cho thấy Người gần gũi và thân thuộc với họ. Nhưng máng cỏ cũng còn là một dấu hiệu vui mừng của cả chúng ta nữa : Chúa Giêsu đánh động lòng chúng ta bằng cách giáng sinh nhỏ bé và nghèo nàn, Người thổi vào chúng ta tình yêu thay vì sự sợ hãi. Máng cỏ thông báo trước cho chúng ta rằng Người sẽ làm thức ăn của chúng ta. Và sự nghèo khó của Người là một tin mừng cho tất cả mọi người, đặc biệt đối với những người ở ngoài lề xã hội, đối với những người bị loại bỏ, đối với những người không đáng kể dưới con mắt thế gian. Thiên Chúa ngự xuống nơi đó : không có con đường ưu đãi nào khác, kể cả một cái nôi ! Đó là vẻ đẹp khi nhìn thấy Người nằm đó trong một cái máng cỏ.

Nhưng đối với Đức Maria, Thánh Mẫu của Thiên Chúa, mọi chuyện đã không phải như thế. Mẹ đã phải chịu đựng ‘‘sự bê bối của máng cỏ’’. Mẹ cũng vậy, lâu ngày trước các mục đồng, Mẹ đã nhận được sự truyền tin của một thiên sứ, nói với Mẹ những lời trang trọng nhắc tới ngôi cao của vua Đavít : « Và này đây, bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít, tổ tiên của Người » (Lc 1, 31-32). Và bây giờ, Mẹ phải đặt Người nằm trong một cái máng cỏ cho súc vật. Làm thế nào có thể đứng chung ngôi vua với cái máng cỏ nghèo hèn ? Làm sao có thể hòa giải vinh quang của Đấng Tối Cao với sự khốn khổ của một chuồng gia súc ? Chúng ta hãy suy nghĩ về sự bối rối của Mẹ của Thiên Chúa. Còn có gì đau khổ hơn cho một người mẹ phải nhìn thấy con của mình chịu đựng sự nghèo khó ? Thật đáng để cảm thấy nản lòng. Người ta sẽ không có thể trách cứ Đức Maria nếu Mẹ than phiền về tất cả sự đau buồn bất ngờ này. Nhưng Mẹ không nản lòng. Mẹ không thổ lộ tâm tình, nhưng Mẹ giữ im lặng. Mẹ đã chọn một thái độ khác hơn là than vãn : « Còn Bà Maria – Phúc Âm nói với chúng ta – thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng » (Lc 2,19).

Đó là một cách làm khác với cách làm của các mục đồng và của thiên hạ. Họ kể lại với tất cả mọi người điều mà họ đã thấy : thiên thần đã hiện ra vào lúc nửa đêm, những lời của thiên thần liên quan đến Hài Nhi. Và thiên hạ, khi nghe được những chuyện này, đã ngạc nhiên (x. c. 18) : lời nói và sự ngạc nhiên. Đức Maria, trái lại, có vẻ trầm ngâm. Bà giữ lấy và suy ngẫm trong lòng. Đó là hai thái độ khác nhau mà chúng ta cũng có thể tìm thấy trong chúng ta. Câu chuyện và sự ngạc nhiên của các mục đồng nhắc lại điều kiện của những lúc đầu trong đức tin. Ở đó, tất cả là dễ làm và thẳng đường, người ta vui mừng về sự mới mẻ của Thiên Chúa khi Người đi vào cuộc đời mang theo sự ngạc nhiên trong mọi tầm vóc. Trái lại, thái độ trầm ngâm của Đức Maria là sự thể hiện của một đức tin chín chắn, trưởng thành, chứ không phải đức tin của những lúc ban đầu. Một đức tin không phải mới sinh ra, một đức tin đã trở thành mẹ. Bởi vì sự sung mãn thiêng liêng trải qua bởi thách thức. Từ sự yên lặng của Nazareth và những lời hứa hẹn chiến thắng nhận được từ thiên sứ – lúc ban đầu – Đức Maria bây giờ  đang ở trong chuồng gia súc đen tối của Bêlem. Nhưng chính là ở đó Mẹ đã Ban Thiên Chúa cho thế gian. Và trong lúc mà nhiều người khác, trước cái bê bối của máng cỏ, đã cảm thấy nản lòng, còn Mẹ thì không : Mẹ giữ lấy và suy đi nghĩ lại trong lòng.

Chúng ta hãy học Mẹ của Thiên Chúa thái độ đó : giữ lấy trong lòng và suy đi nghĩ lại. Bởi vì cũng xẩy ra cho chúng ta phải sống nhiều những ‘‘bê bối của máng cỏ’’. Chúng ta chờ đợi mọi sự sẽ qua đi tốt đẹp và rồi, như một ánh chớp trên trời, xẩy tới bất chợt một vấn đề. Và đã nẩy sinh ra một cú sốc đau đớn giữa những chờ đợi và thực tế. Điều đó cũng xẩy ra trong đức tin, khi niềm vui của Phúc Âm bị thử thách bởi một tình trạng khó khăn mà chúng ta trải qua. Nhưng hôm nay, Mẹ Thiên Chúa dạy cho chúng ta hãy lợi dụng cú sốc đó. Mẹ chỉ cho chúng ta rằng nó cần thiết, rằng nó là con đường chật hẹp để đi đến mục tiêu, con đường thập giá mà không có thì chúng ta không sống lại được. Đó cũng chính là như một sự sinh con đau đớn nhưng nó ban sự sống cho một đức tin chín chắn hơn.

Quý anh chị em thân mến, tôi tự hỏi làm thế nào chu toàn sự vượt qua này, làm thế nào vượt qua cú sốc giữa lý tưởng và thực tế ? Chính là bằng cách như Đức Maria : giữ lấy trong lòng và suy đi nghĩ lại. Trước hết, Mẹ Maria gìn giữ, nghĩa là Mẹ không làm phân tán. Mẹ không chối bỏ những gì xẩy ra. Mẹ gìn giữ mỗi chuyện trong lòng, tất cả những gì Mẹ đã nghe và đã thấy. Những chuyện tốt đẹp, như điều mà thiên sứ đã nói với Mẹ và những điều mà các mục đồng đã kể cho Mẹ nghe. Nhưng kể cả những chuyện khó khăn chấp nhận : sự nguy hiểm có thai trước đám cưới, giờ đây là sự lo âu sầu não trong chuồng gia súc nơi Mẹ đã sinh con. Đây là điều mà Mẹ Maria đã làm : Mẹ không lựa chọn, nhưng mẹ gìn giữ lấy. Mẹ đón nhận thực tế như nó đến, Mẹ không tìm cách nguỵ trang, không bóp méo sự sống, Mẹ giữ lấy trong lòng Mẹ.

Và rồi có thái độ thứ nhì : Mẹ Maria đã gìn giữ như thế nào ? Mẹ gìn giữ bằng cách suy đi nghĩ lại. Động từ được dùng bởi Phúc Âm gợi ý sự đan xen giữa các sự việc : Mẹ Maria đối chiếu những kinh nghiệm khác nhau, bằng cách tìm ra những sợi dây tiềm ẩn nối kết chúng. Trong lòng Mẹ, trong kinh nguyện của Mẹ, Mẹ thực hiện công việc phi thường này : Mẹ kết nối những chuyện đẹp và những chuyện xấu ;  Mẹ không phân chia chúng ra nhưng kết hợp chúng lại. Và chính vì vậy, Đức Maria là Mẹ của sự phổ quát, bởi vì Mẹ kết hợp, Mẹ không phân chia. Và như thế Mẹ nắm bắt được ý nghĩa đầy đủ của mọi việc, viễn cảnh của Thiên Chúa. Trong lòng từ mẫu của Mẹ, Mẹ hiểu được vinh quang của Đấng Tối Cao đi qua sự khiêm nhượng ; Mẹ đón nhận kế hoạch cứu độ, qua đó Thiên Chúa phải được đặt nằm trong máng cỏ. Mẹ thấy Chúa Hài Đồng mong manh và run rẩy, và đón nhận sự đan xen tuyệt vời của Thiên Chúa giữa sự vĩ đại với sự bé mọn. Chính như vậy mà Mẹ Maria gìn giữ bằng cách suy ngẫm.

Ánh mắt bao dung, vốn vượt qua các căng thẳng bằng cách gìn giữ và suy đi nghĩ lại trong lòng, là ánh mắt của các bà mẹ không chịu chia rẽ trong những sự căng thẳng, các bà gìn giữ lấy và như vậy lớn lên trong đời. Đó là ánh mắt với nó, nhiều bà mẹ ôm lấy tình trạng của con cái mình. Đó là một ánh mắt cụ thể, vốn không để bị xâm chiếm bởi sự nản lòng, không bị làm tê liệt trước các vấn đề, nhưng đặt để chúng trong một chân trời rộng lớn hơn. Và Mẹ Maria đi tới như thế, đến tận núi Sọ, trong khi suy đi nghĩ lại và gìn giữ, Mẹ giữ gìn và suy ngẫm. Những khuôn mặt của các bà mẹ giúp cho một đứa con bị bệnh hay trong khó khăn đến trong đầu óc. Có bao yêu thương trong ánh mắt của các bà, và khi họ khóc, biết truyền những lý do để hy vọng ! Ánh mắt của các bà có ý thức, không ảo tưởng, nhưng đi xa hơn sự đau khổ và các vấn đề, nó mang đến một viễn cảnh rộng lớn hơn, viễn cảnh của sự chăm sóc, của yêu thương làm tái sinh hy vọng. Đó là điều mà các bà mẹ làm : các bà biết vượt lên những trở ngại và những tranh chấp, các bà biết thổi hơi thở hòa bình. Như thế, các bà thành công trong việc biến đổi những nghịch cảnh thành cơ hội tái sinh, thành cơ hội tăng trưởng. Các bà làm điều đó vì các bà biết giữ gìn. Các bà mẹ biết gìn giữ, các bà biết nắm lấy tất cả những sợi dây của cuộc đời, tất cả. Chúng ta cần những con người có khả năng đan dệt những sợi dây của sự hiệp thông, để chống lại nhiều những sợi dây kẽm gai của sự chia rẽ. Và điều này, các bà mẹ biết cách làm.

Năm Mới bắt đầu dưới dấu chỉ của Thánh Mẫu Thiên Chúa, dưới dấu chỉ của người mẹ. Ánh mắt từ mẫu là con đường để tái sinh và lớn lên. Các bà mẹ, các phụ nữ nhìn vào thế gian không để khai thác nó, nhưng để nó có sự sống : bằng cách nhìn với trái tim, các bà đã thành công giữ chung cả ước mơ lẫn cụ thể, bằng cách tránh những lệch lạc của chủ nghĩa thực dụng sạch sẽ và sự trừu tượng. Và Hội Thánh là mẹ, Hội Thánh là mẹ theo cách đó, Hội Thánh là phụ nữ, Hội thánh là phụ nữ theo cách đó. Bởi thế chúng ta không thể tìm được vị trí của người phụ nữ trong Hội Thánh mà không coi Hội Thánh trong trái tim người phụ nữ là mẹ. Đó là vị trí của người phụ nữ trong Hội Thánh, từ vị trí trọng đại đó phát xuất những vị trí khác cụ thể hơn, thứ yếu hơn. Nhưng Hội Thánh là mẹ, Hội Thánh là phụ nữ. Và trong lúc mà các bà mẹ ban sự sống và các phụ nữ gìn giữ thế gian, tất cả chúng ta hãy làm thế nào để cổ xuý các bà mẹ và bảo vệ các phụ nữ. Biết bao bạo lực đối với người phụ nữ ! Đủ rồi ! Gây tổn thương cho một người phụ nữ, đó là xúc phạm đến Thiên Chúa, Đấng đã mặc lấy xác phàm trong lòng một người phụ nữ, không phải một thiên thần, không phải một cách trực tiếp, nhưng từ một người phụ nữ. Như từ một người phụ nữ, Hội Thánh phụ nữ lấy tính nhân bản từ các trẻ em.

Đầu năm mới này, chúng ta hãy đặt mình dưới sự che chở của người phụ nữ này, Thánh Mẫu của Thiên Chúa vốn cũng là mẹ của chúng ta. Cầu xin Mẹ phù giúp chúng ta giữ gìn và suy niệm mọi chuyện, không sợ những thử thách, trong sự vui mừng xác tín rằng Chúa trung thành và Người biết biến đổi các thập giá thành phục sinh. Ngày hôm nay nữa, chúng ta hãy nài xin Mẹ cũng như Dân Thiên Chúa đã làm ở Êphêsô. Tất cả chúng ta hãy cùng đứng lên, chúng ta nhìn lên Đức Trinh Nữ, và như dân của Thiên Chúa đã làm ở Êphêsô, chúng ta lập lại ba lần tước hiệu Mẹ Thiên Chúa. Tất cả cùng nhau ‘‘Thánh Mẫu của Thiên Chúa, Thánh Mẫu của Thiên Chúa, Thánh Mẫu của Thiên Chúa !’’. Amen.

Copyright © Dicastère per la Communication – Libreria Editrice Vaticana

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Marie, les mères et « le scandale de la mangeoire » – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Đức Maria, các bà mẹ và « sự bê bối của máng cỏ »

Kinh Truyền tin ngày 02 tháng 01 năm 2022

Quảng Trường Thánh Phêrô ngày Chúa Nhật 02 tháng 01 năm 2022

Thân chào Quý Anh Chị Em !

Bài Phúc Âm của phụng vụ ngày hôm nay cống hiến cho chúng ta một câu rất hay, mà chúng ta luôn đọc trong Kinh Truyền Tin và đó là câu duy nhất cho ta thấy ý nghĩa Giáng Sinh : « Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta » (Ga 1,14). Những lời này, nếu chúng ta suy nghĩ về chúng, chứa đựng một sự mâu thuẫn. Những lời đó gom lại hai thực tế trái ngược nhau : Lờixác. « Ngôi Lời » chỉ Chúa Giêsu là Lời vĩnh cửu của Chúa Cha, Lời vô tận, vốn đã luôn hiện hữu, trước khi mọi sự được tạo dựng ; « xác » chỉ thực tế riêng của chúng ta, một thực tế được tạo dựng, mong manh, giới hạn, mà có thể chết. Trươc Chúa Giêsu, chúng là hai thế giới riêng biệt : trời đối mặt với đất, vô tận đối mặt với vật chất hữu tận, linh thiêng đối nghịch với vật chất. Và có một sự đối nghịch khác nữa trong Lời Tựa của Phúc Âm theo thánh Gioan, một nhị thức khác : ánh sángbóng tối (x.c. 5). Chúa Giêsu là ánh sáng của Thiên Chúa đã đến trong bóng tối của thế gian. Ánh sáng và bóng tối. Thiên Chúa là ánh sáng : nơi Người không có sự mờ đục ; trong lúc nơi chúng ta, có nhiều tăm tối. Bây giờ, với Chúa Giêsu, Ánh Sáng và bóng tối gặp nhau : thánh thiện và lỗi lầm, ân sủng và tội lỗi. Chúa Giêsu, sự nhập thể của Chúa Giêsu, chính xác là nơi của sự gặp gỡ, của sự gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người, của sự gặp gỡ giữa ân sủng và tội lỗi.

Phúc Âm muốn loan báo điều gì với hai thái cực này ? Một điều tuyệt vời : cách hành xử của Thiên Chúa. Trước sự mỏng giòn của chúng ta, Chúa không kềm lòng được. Người không ở lại trong sự vĩnh hằng đầy ơn phúc của Người và trong ánh sáng đời đời của Người, mà Người ngự đến gần, mặc lấy xác phàm, rơi vào vùng bóng tối, cư ngụ trong các vùng đất vốn xa lạ với Người. Và tại sao Đấng Thiên Chúa này lại làm như vậy ? Tại sao Người lại ngự xuống với chúng ta ? Người làm chuyện này bởi vì Người không chấp nhận sự kiện rằng chúng ta có thể mất đi khi rời xa Người, rời xa tính đời đời, xa ánh sáng. Đó là công trình của Thiên Chúa : đến giữa chúng ta. Nếu chúng ta tự coi như bất xứng, điều đó không ngăn cản Người được, Người vẫn ngự đến. Nếu chúng ta từ chối Người, Người không nản lòng tìm kiếm chúng ta. Nếu chúng ta không sẵn sàng và không muốn đón nhận Người, Người cũng muốn ngự đến. Và nếu chúng ta đóng cửa không cho Người vào, Người sẽ đứng chờ. Người chính xác là Mục Tử Nhân Lành. Và hình ảnh đẹp nhất của Mục Tử Nhân Lành là hình ảnh nào ? Ngôi Lời mặc lấy xác phàm để chia sẻ sự sống của chúng ta. Chúa Giêsu là Mục Tử Nhân Lành đã đến tìm chúng ta tận nơi chúng ta ở : trong những vấn nạn của chúng ta, trong sự khốn cùng của chúng ta. Người đến chỗ đó.

Quý anh chị em thân mến, chúng ta thường hay giữ khoảng cách với Thiên Chúa, bởi vì chúng ta nghĩ rằng chúng ta không xứng đáng với Người hay vì nhiều lý do khác nữa. Và đó là sự thật. Nhưng Giáng Sinh mời gọi chúng ta nhìn sự vật từ quan điểm của Người. Thiên Chúa muốn mặc lấy xác phàm. Nếu lòng của anh chị em có vẻ quá ô nhiễm bởi sự ác, nó có vẻ lộn xộn, xin anh chị em vui lòng, đừng khép mình lại, đừng sợ hãi : Người ngự đến. Quý anh chị em hãy nghĩ tới chuồng gia súc ở Bêlem. Chúa Giêsu đã sinh ra ở đó, trong cái nghèo nàn đó, để nói với anh chị em rằng Người chắc chắn không ngại đến thăm trong lòng anh chị em, để sống một cuộc đời lôi thôi lếch thếch. Đó là từ ngữ : cư ngụ. Cư ngụ là động từ mà Phúc Âm ngày hôm nay sử dụng để biểu thị cái thực tế đó : nó biểu lộ một sự chia sẻ toàn diện, một sự thân tình to lớn. Và đó là điều Thiên Chúa muốn : Người muốn ở cùng chúng ta, Người muốn ở trong chúng ta, chứ không xa cách.

Và tôi tự hỏi, hỏi chính tôi, hỏi anh chị em và hỏi tất cả mọi người : chúng ta có dọn chỗ cho Người không ? Với câu trả lời là có ; sẽ không có ai nói : « Tôi không làm chuyện này » ; Phải. Nhưng cụ thể thế nào ? Có lẽ có những khía cạnh của cuộc đời mà chúng ta muốn giữ riêng cho chính chúng ta, chỉ riêng chúng ta, hay những chỗ nội tâm mà chúng ta sợ Phúc Âm đi vào, nơi mà chúng ta không muốn để Thiên Chúa vào giữa. Ngày hôm nay, tôi mời gọi anh chị em đến với cụ thể. Những điều nội tâm mà tôi nghĩ rằng Thiên Chúa không thích là những điều gì ? Không gian mà tôi giữ chỉ cho riêng mình tôi và tôi không muốn Thiên Chúa đến đó là không gian nào ? Mong rằng mỗi người trong chúng ta hãy cụ thể và trả lời những điều đó. « Phải, phải, tôi muốn Chúa Giêsu ngự đến, nhưng những thứ này không liên quan đến Người, không phải cái này, không phải cái kia… ». Mỗi người có tội lỗi riêng của mình – cứ gọi đúng tên của nó là tội lỗi – và Người không ngại tội lỗi của chúng ta : Người ngự đến để chữa lành chúng ta. Ít nhất, để người trông thấy, Người trông thấy tội lỗi. Chúng ta hãy can đảm thưa với Người rằng : « Lậy Chúa, con đang ở trong tình trạng này, con không muốn thay đổi. Nhưng lậy Chúa, xin Chúa vui lòng, đừng quá rời xa con ». Đó là một kinh nguyện hay. Ngày hôm nay chúng ta hãy thành thật.

Trong những ngày Giáng Sinh này, sẽ tốt đẹp để đón mừng Chúa dưới thế này. Sao ? Thí dụ, dừng lại trước hang đá, bởi vì hang đá cho thấy Chúa Giêsu ngự đến ở cùng tất cả cuộc đời cụ thể và bình thường của chúng ta, nơi mà tất cả không có gì tốt lành cả, có rất nhiền vấn đề – nhiều vấn đề tại chúng ta làm ra, nhiều vấn đề khác do những người khác – và Chúa Giêsu ngự đến. Chúng ta thấy nơi đó các mục đồng lao động cực nhọc, Hêrôđê hăm dọa những trẻ vô tội, một sự nghèo nàn to lớn… Nhưng ở giữa những thứ đó, ở giữa biết bao vấn đề – và cũng ở giữa những vấn đề của chúng ta – có Thiên Chúa, có Thiên Chúa là Đấng muốn ở cùng chúng ta. Và Người chờ đợi chúng ta trình bầy với Người tình trạng của chúng ta, những gì chúng ta sống. Sau đó, trước hang đá, chúng ta hãy thưa lên cùng Chúa Giêsu những biến cố cụ thể của chúng ta. Chúng ta hãy chính thức cung thỉnh Người ngự đến cuộc đời chúng ta, đặc biệt trong những vùng u tối : « Lậy Chúa, xin hãy đoái nhìn, ở đó không có ánh sáng, ở đó không có điện, nhưng xin Chúa, đừng đụng đến, bởi vì con không muốn lìa xa tình trạng này đâu ». Quý anh chị em hãy nói rõ ràng, cụ thể. Những vùng u tối, những « chuồng gia súc nội tâm » : mỗi người chúng ta đều có. Và chúng ta hãy đừng sợ mà kể cho Người nghe những vấn đề xã hội, những vấn đề giáo hội của thời đại chúng ta ; những vấn đề cá nhân, kể cả những gì xấu xa nhất : Thiên Chúa thích ở trong cái chuồng gia súc của chúng ta.

Cầu xin Đức Mẹ Thiên Chúa, trong lòng Mẹ, Ngôi Lời đã nhập thể, phù giúp chúng ta vun trồng một tình thân mật to lớn với Chúa.

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Vatican.va

Angelus, 2 gennaio 2022 | Francesco (vatican.va)

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Kinh Truyền tin ngày 02 tháng 01 năm 2022