Lễ Hiển Linh : “Nỗi nhớ nhung Thiên Chúa kéo chúng ta ra khỏi những nhẫn nhục của chúng ta”

Bài giảng của Đức Giáo Hoàng Phanxicô về sự kiện Ba Vua thờ lạy Chúa Giêsu Hài Đồng

6 JANVIER 2017 – ANITA BOURDINPAPE FRANÇOIS

Lễ Ba Vua 2017

Các “đạo sĩ đến từ Phương Đông” mà Lễ Hiển linh kỷ niệm là “hình ảnh của tất cả mọi người, trong suốt cuộc đời mình, đã không để trái tim mình bị tê dại”, Đức Giáo Hoàng Phanxicô giải thích khi ngài chủ tọa Thánh Lễ trong Đền Thánh Phêrô hôm thứ sáu 06/01/2017, trong lúc ngày lễ này được chuyển sang ngày chúa nhật 08/01/2017 ở một số quốc gia.

Các đạo sĩ đã có trong lòng mình cái mà Đức Giáo Hoàng gọi là “sự nhớ nhung thánh thiện đối với Thiên Chúa” : Sự nhớ nhung thánh về Thiên Chúa tuôn ra từ trái tim tin tưởng bởi vì biết rõ Phúc Âm không phải là một biến cố của quá khứ mà của hiện tai. Sự nhớ nhung thánh thiện về Thiên Chúa giúp chúng ta mở to đôi mắt trước tất cả những mưu toan làm giảm thiểu và gây nghèo nàn cho cuộc sống. Lòng nhớ nhung thánh về Thiên Chúa là ký ức đức tin chống lại những tiên tri chuyên báo tai họa. Lòng nhớ nhung đó là lòng nhớ nhung giữ cho niềm hy vọng sống động của cộng đoàn đức tin, tuần này sang tuần khác, liên lỉ cầu xin rằng “Lạy Chúa Giêsu, xin Người hãy ngự đến !”

Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh về súc mạnh của “sự nhớ nhung” trong lòng của mọi người : “Lòng nhớ nhung về Thiên Chúa kéo chúng ta ra khỏi những nhẫn nhục của chúng ta, những nhẫn nhục khiến chúng ta nghĩ rằng không có gì có thể thay đổi. Lòng nhớ nhung về Thiên Chúa là thái độ đoạn giao với chủ nghĩa bảo thủ chán chường của chúng ta và thúc đẩy chúng ta dấn thân cho sự thay đổi mà chúng ta ao ước và chúng ta đang cần”.

Đó là một sức mạnh thôi thúc hành động : “Sự nhớ nhung về Thiên Chúa có gốc rễ trong quá khứ nhưng không ngừng tại đó : nó đi tìm kiếm tương lai. Người tín hữu “nhớ nhung”, được thôi thúc bởi đức tin của mình, đi tìm Thiên Chúa, cũng như Ba Vua, ở những nơi hẻo lánh nhất của lịch sử, bởi vì người đó thầm biết rằng Chúa mình đang chờ đợi ở đó. Người đó đi ra vùng ngoại vi, ra ngoài biên, ở những nơi không được rao truyền Phúc Âm, để có thể gặp được Chúa mình; và người đó không hề làm việc này với một thái độ trịnh thượng, người đó làm như một kẻ ăn mày không thể không biết những con mắt của kẻ mà Tin Mừng vẫn còn là một lãnh vực cần phải tìm hiểu”.

Một nỗi “nhớ nhung” thúc đẩy lên đường đi tới lời hứa hẹn và dẫn đến “thờ lạy” : “Các đạo sĩ đã có thể thờ lạy bởi vì các ông đã có can đảm ra đi và, khi phủ phục trước đứa bé, phủ phục trước kẻ nghèo nàn, phủ phục trước kẻ không tự vệ, phủ phục trước Hài Nhi Bêlem lạ thường và xa lạ, các ông đã khám phá ra Vinh Quang của Thiên Chúa”.

Sau đây là toàn văn bài giảng của Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong bản dịch tiếng Pháp chính thức của Tòa Thánh.

AB

Bài giảng của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

“Đức Vua dân Do Thái mới sinh, hiện ở đâu ? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên Phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người” (Mt 2, 2).

Với những lời này, các nhà đạo sĩ, đến từ những vùng đất xa xôi, làm cho chúng ta biết lý do của chuyến đi đường dài của họ : bái lạy vị vua mới sinh. Nhìn thấy và bái lạy : hai động tác được làm nổi bật trong bài Phúc Âm : chúng tôi đã thấy một vì sao và chúng tôi muốn bái lạy.

Những người này đã thấy một vì sao khiến họ lên đường. Sự khám phá ra điều gì không bình thường đã xẩy đến trên trời và đã phát động một loạt vô số kể những biến cố. Đó không phải là một vì sao chỉ chiếu sáng cách riêng cho các ông và các ông cũng không có một DNA đặc biệt để khám phá ra nó. Cũng như một Thượng Phụ của Giáo Hội đã nhận ra rằng, các nhà đạo sĩ không lên đường vì nhìn thấy vì sao, mà các ông đã nhìn thấy vì sao bởi vì các ông đã lên đường (x. Gioan Kim Khẩu). Các ông có tấm lòng rộng mở ra các chân trời và các ông đã có thể nhìn thấy cái mà bầu trời cho thấy bởi vì trong các ông có ước muốn thúc đẩy các ông : các ông mở ra với một sự mới lạ.

Với cách đó, các nhà đạo sĩ biểu lộ hình dáng của con người có đức tin, của con người có lòng nhớ nhung về Thiên Chúa; của người cảm thấy nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương trên trời. Các ông phản ánh hình ảnh của tất cả những người, trong cuộc đời họ, đã không để cho trái tim họ bị tê dại.

Nỗi nhớ nhung thánh thiện về Thiên Chúa tuôn ra từ trái tim đức tin bởi vì nó biết rằng Phúc Âm  không phải là một biến cố của quá khứ mà của hiện tai. Nỗi nhớ nhung thánh thiện về Thiên Chúa giúp chúng ta mở to đôi mắt trước tất cả những mưu toan làm giảm thiểu và gây nghèo nàn cho cuộc sống. Lòng nhớ nhung thánh về Thiên Chúa là ký ức đức tin chống lại những tiên tri chuyên báo tai họa. Lòng nhớ nhung đó là lòng nhớ nhung giữ cho niềm hy vọng sống động của cộng đoàn đức tin, tuần này sang tuần khác, liên lỉ cầu xin rằng “Lạy Chúa Giêsu, xin Người hãy ngự đến !”.

Cũng chính nỗi nhớ nhung đó đã thôi thúc ông già Simêôn mỗi ngày đi lên đền thánh, với xác tín rằng cuộc đời của ông sẽ chưa chấm dứt nếu ông chưa được bồng Đấng Cứu Chuộc trên tay. Cũng chính nỗi nhớ nhung đó đã thúc đẩy đứa con hoang đàng thoát ra khỏi cái thái độ mang tính hủy hoại để đi tìm vòng tay của người cha hắn. Cũng chính nỗi nhớ nhung này mà người mục tử cảm thấy trong thâm tâm khi bỏ lại 99 con chiên để đi tìm con chiên lạc, và cũng chính nỗi nhớ nhung này mà bà Maria Mađalêna đã trái nghiêm buổi sáng hôm chúa nhật để chạy ra mộ và đã gặp được Thầy của bà đã phục sinh.

Sự nhó nhung về Thiên Chúa kéo chúng ta ra khỏi những nhẫn nhục của chúng ta, những nhẫn nhục khiến chúng ta nghĩ rằng không có gì có thể thay đổi. Lòng nhớ nhung về Thiên Chúa là thái độ đoạn giao với chủ nghĩa bảo thủ chán chường của chúng ta và thúc đẩy chúng ta dấn thân cho sự thay đổi mà chúng ta ao ước và chúng ta đang cần. Sự nhó nhung về Thiên Chúa có gốc rễ trong quá khứ nhưng không ngừng tại đó : nó đi tìm kiếm tương lai. Người tín hữu “nhớ nhung”, được thôi thúc bởi đức tin của mình, đi tìm Thiên Chúa, cũng như Ba Vua, ở những nơi hẻo lánh nhất của lịch sử, bởi vì người đó thầm biết rằng Chúa mình đang chờ đợi ở đó. Người đó đi ra vùng ngoại vi, ra ngoài biên, ở những nơi không được rao truyền Phúc Âm, để có thể gặp được Chúa mình; và người đó không hề làm việc này với một thái độ trịch thượng, người đó làm như một kẻ ăn mày không thể không biết những con mắt của kẻ mà Tin Mừng vẫn còn là một lãnh vực cần phải tìm hiểu.

Thái độ trái ngược, trong đền vua Hêrôđê (cách Bêlem không mấy cây số), người ta không nhận thấy điều gì đã xẩy ra. Trong lúc các nhà đạo sĩ lên đường, Giêrusalem còn ngủ say. Nó ngủ chung giấc ngủ với một ông vua Hêrôđê, thay vì đi tìm kiếm thì ngủ giấc ngủ ngon lành. Ông vua ngủ dưới sự tê dại của một lương tâm bị đốt cháy. Và ông ở trong tình trạng bối rối. Ông đã sợ hãi. Đó là sự bối rối của kẻ, trước sự mới mẻ đang làm đảo lộn lịch sử, khép kín trong bản thân, trong những kết quả, trong những hiểu biết, trong những thành công của mình. Sự bối rối của kẻ ngồi trên của cải mà không thấy gì xa hơn. Một sự bối rối sinh ra trong trái tim của kẻ muốn kiểm soát tất cả mọi sự, tất cả mọi người. Đó là sự bối rối của kẻ chìm đắm trong cái văn hóa chiến thắng bằng mọi giá; trong cái văn hóa đó, chỉ có chỗ cho những kẻ “thắng trận” và bất chấp hậu quả. Một sự bối rối nẩy sinh ra từ sự sợ hãi trước cái gì chất vấn và gây nguy hiểm cho an ninh và cho chân lý, cho cách thức của ta bám chặt vào thế gian và vào sự sống. Như thế đó. Và vua Hêrôđê đã sợ hãi, và sự sợ hãi này đã dẫn ông đến việc đi tìm an ninh trong tội ác : “Necas Parvulos corpore, quia te nacat timor corde” – nghĩa là “Ngươi giết hại những thân xác yếu đuối bởi vì sự sợ hãi đã giết hại trái tim ngươi” (Thánh Quodvultdeus, Bài giảng 2 về Biểu tượng : PL 40, 655).

Chúng tôi muốn bái lạy. Những người này đã đến từ Phương Đông để bái lạy, và các ông đã đến làm điều này ở một nơi xứng đáng với một vì vua : Cung Vua. Và điều này là quan trọng. Các ông đã đến đó nhờ sự tìm kiếm của các ông, đó là nơi thích đáng, bởi vì đây là điều cố hữu của một vì Vua là sinh ra trong một cung điện và có triều đình và thần dân. Đó là dấu chỉ của quyền lực, của thắng lợi, của một cuộc đời thành công. Và người ta có thể trông chờ là đức vua sẽ được sùng kính, nể sợ và ca tụng, phải, nhưng chưa chắc đã được yêu mến. Đó là những quy luật thế gian, những thần tượng nhỏi nhoi mà chúng ta tôn thờ : tôn thờ quyền lực, tôn thờ bề ngoài và sự trịch thượng. Những thần tượng chỉ hứa hẹn u buồn và nô lệ.

Và thực chất chính nơi đó đã bắt đầu con đường dài nhất mà các ông đến từ xa này phải đi. Nơi đó, đã bắt đầu sự táo bạo khó khăn nhất và phức tạp nhất. Khám phá ra rằng điều mà các ông tìm kiếm không ở trong Cung Vua mà ở một nơi khác, không những về mặt địa dư mà về mặt hiện sinh. Nơi đó, các ông không nhìn thấy vì sao đã dẫn đường các ông đi khám phá một Thiên Chúa đang muốn được kính mến, và điều này chỉ có thể dưới dấu hiệu của sự tự do chứ không phải là bạo ngược; khám phá ra rằng cái nhìn của vì Vua xa lạ – nhưng được mong muốn – không hạ nhục, không bắt làm nô lệ, không bắt bỏ vào tù. Khám phá ra rằng cái nhìn của Thiên Chúa nâng lên, tha thứ, chữa lành. Khám phá ra rằng Thiên Chúa đã muốn sinh ra ở nơi chúng ta không chờ đợi, ở nơi mà có lẽ chúng ta không muốn. Hay ở nơi mà nhiều lần, chúng ta đã từ chối. Khám phá ra rằng trong cái nhìn của Thiên Chúa, có chỗ của những người bị thương tích, những người mệt mỏi, những người bị bạc đãi và bị bỏ rơi : rằng sức mạnh và quyền uy của Người gọi là lòng thương xót. Với nhiều người, thật là xa xôi biết bao khoảng cách giữa Giêrusalem và Bêlem !

Vua Hêrôđê không thể bái lạy bởi vì ông ta không muốn thay đổi cách nhìn của mình. Ông ta đã không muốn chấm dứt một sự tôn thờ bản thân, nghĩ rằng tất cả đã bắt đầu và kết thúc với ông ta. Các thầy tư tế cũng thế, họ đã không thể bái lạy, bởi vì họ biết quá nhiều chuyện, họ biết các lời tiên tri, nhưng họ không sẵn sàng, cũng không lên đường hay là thay đổi.

Các nhà đạo sĩ đã cảm thấy nỗi nhớ nhung, các ông không còn muốn những chuyện thông thường. Các ông đã quen thuộc với những ông vua như Hêrôđê của thời đại các ông đang sống và các ông đã chán ngán rồi. Nhưng ở đó, ở Bêlem, có một lời hứa của sự mới mẻ, một lời hứa của sự nhưng không. Ở đó có điều gì mới lạ đã xẩy ra; các đạo sĩ đã có thể bái lạy bởi vì các ông có can đãm lên đường và, trong lúc phủ phục trước kẻ bé mọn, phủ phục trước kẻ nghèo nàn, phủ phục trước kẻ không tự vệ, phủ phục trước Hài Nhi Bêlem lạ thường và xa lạ, các ông đã khám phá ra Vinh Quang của Thiên Chúa

Mai Khôi dịch

https://fr.zenit.org/articles/epiphanie-la-nostalgie-de-dieu-nous-tire-hors-de-nos-resignations/

 683 khách đã đọc bài này
This entry was posted in Chưa được phân loại. Bookmark the permalink.