Ánh sáng mạnh hơn bóng tối : Đức Giáo Hoàng nhắc lại cam kết của Hội Thánh chống những lạm dụng lương tâm, uy quyền, hay tình dục

Diễn văn trước giáo triều La Mã (Bản dịch chính thức)

DÉCEMBRE 21, 2018 11:09 ANITA BOURDINPAPE FRANÇOIS

Bài diễn văn trước Giáo Triều La Mã, 21/12/2018

 « Giáo Hội sẽ không quản ngại làm tất cả những gì cần thiết để giao nộp cho công lý bất cứ ai vi phạm những tội này. Giáo Hội sẽ không bao giờ tìm cách ếm nhẹm hay đánh giá thấp bất cứ trường hợp nào. Không thể chối cãi được là đã có một số những người trách nhiệm, trong quá khứ, vì nhẹ dạ, vì hoài nghi, vì thiếu chuẩn bị, vì thiếu kinh nghiệm hay vì hời hợt về mặt tinh thần và con người, đã xử lý nhiều trường hợp một cách không nghiêm túc và không nhanh chóng như được yêu cầu. Điều này từ nay không bao giờ được xẩy ra nữa. Đây là sự lựa chọn và là quyết định của toàn Giáo Hội » : trong bài diễn văn hàng năm của ngài trước giáo triều La Mã, nhân dịp chúc lễ Giáng Sinh, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã phân tích cơ chế của những lạm dụng lương tâm, lạm dụng uy quyền và lạm dụng tình dục và nhắc lại đối sách mà ngài yêu cầu mọi người trong Giáo Hội.

Đức Giáo Hoàng đã đọc bài diễn văn này vào lúc 10giờ30, ngày thứ sáu 21/12/2018, trước những cộng sự viện thân cận nhất của ngài, nhưng cũng trước báo chí quốc tế, trực tiếp trên đài Vatican News, và trực tiếp live stream, từ Hội Trường Clêmentine của dinh Giáo Hoàng tại Vatican. Đức Giáo Hoàng đã được đón chào bởi vị niên trưởng Hồng Y Đoàn, Đức Hồng Y Angelo Sodano.

Đức Giáo Hoàng đã cảm ơn các chuyên viên truyền thông đã « trao tiếng nói cho các nạn nhân » và vạch mặt « các con chó sói ».

Ngài đã kêu gọi giúp đỡ Giáo Hội để « nhận biết những trường hợp xác thực, bằng cách phân biệt với những trường hợp giả mạo, phân biệt những tố cáo và những vu cáo, những oán hận và những bóng gió, những xì xào và những vu khống ».

Ngài đã kêu gọi những kẻ xâm hại hãy phó thác cho công lý và sám hối.

Đức Giáo Hoàng đã khởi đi từ gương của vua Đavít và từ sự phân tích về « sự thoái hóa đạo đức và tinh thần một cách không thể khắc phục được » và tiếp tục hành xử « như không có chuyện gì xẩy ra ».

Ngài mô tả sự liên xuyến này, và tố cáo cái tội của kẻ chỉ sợ mình bị « phát giác » : « Từ những tia lửa của sự lười biếng và sự trụy lạc, và vì « lơ là cảnh giác », mà sự liên kết ma quỷ các tội lỗi bắt đầu : ngoại tình, nói dối và giết người. Có tham vọng, vì là vua, có quyền làm mọi chuyện và có được mọi thứ, vua Đavít tìm cách đánh lừa cả chồng bà Bethsabê, đáng lừa người khác, đánh lừa chính mình và đánh lừa cả Thiên Chúa. Đức vua bỏ bê quan hệ với Thiên Chúa, ngài vi phạm các giới răn của Chúa, xúc phạm đến chính sự liêm khiết tinh thần mà không cảm thấy mình có tội ».

Đức Giáo Hoàng đã suy ngẫm về ánh sáng Giáng Sinh và sự đợi chờ Đức Kitô giá lâm : « Bằng cách dựa trên lòng xác tín vững vàng rằng ánh sáng luôn mạnh hơn bóng tối, tôi muốn cùng anh chị em suy ngẫm về ánh sáng nối liền Giáng Sinh – lần giá lâm đầu trong khiêm nhường – với sự trở lại vinh quang của Người – và xác nhận chúng ta trong niềm hy vọng không hề gây thất vọng. Đời sống của mỗi người chúng ta và toàn thể lịch sử Giáo Hội và thế giới tùy thuộc niềm hy vọng này ».

Đức Giáo Hoàng tái xác định rằng ánh sáng sẽ thắng bóng tối : « Lôgíc của Thiên Chúa không dừng lại trước điều ác, mà trái lại, biến đổi nó cách tuyệt đối và từng bước thành điều thiện, và cái lôgíc của ma quỷ cũng thế, nó biến đổi cái thiện thành cái ác, để khiến nhân loại ở mãi trong thất vọng và trong bóng tối ».

Sau đây là bản dịch chính thức ra tiếng Pháp của bài diễn văn quan trọng này, một giai đoạn trong việc chuẩn bị cuộc họp thượng đỉnh thế giới vào tháng Hai tới đây về vấn đề bảo vệ trẻ vị thành niên. Nhưng không chỉ thế, đây là một sách cẩm nang cho sự sám hối liên tục : « Sức mạnh của một cơ chế, dù là cơ chế nào đi nữa, không nằm trong sự kiện là nó bao gồm những con người toàn hảo (không thể có được), mà trong ý chí của nó muốn được liên tục thanh tẩy », Đức Giáo Hoàng Phanxicô cũng đã nói và ngài đã kết thúc bài diễn văn của ngài về « sự êm ái » và « ánh sáng » của Giáng Sinh.

« Giáng Sinh chứng minh rằng những điều ác trầm trọng do một số người phạm phải sẽ không bao giờ làm hoen ố tất cả những điều thiện mà Giáo Hội đã làm một cách nhưng không trên thế giới », Đức Giáo Hoàng kết luận bằng cách công nhận – không phải là lần đầu tiên, và tiếp theo ĐGH Biển Đức XVI – rằng có các « thánh nhân » làm việc trong giáo triều La Mã.

Đức Giáo Hoàng đã tặng cho mỗi cộng sự viên cuốn « Giản Yếu Thần Học Khổ Hạnh và Mầu Nhiệm » của Adolphe Tanquerey (1924), về đời sống nội tâm.

Sau khi ban phép lành, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã chào hỏi từng người trong các cộng sự viên của ngài.

AB

Diễn văn trước giáo triều La Mã, 21/12/2018

Diễn văn của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

 « Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của ánh sáng để chiến đấu » (Rm 13,12)

Được bao bọc bởi niềm vui và hy vọng rạng rỡ trên khuôn mặt của Thiên Chúa Hài Nhi, chúng ta lại gặp nhau trong năm nay để trao đổi những lời cầu chúc Giáng Sinh trong khi vẫn mang trong lòng tất cả những vui buồn của thế giới và của Giáo Hội.

Tôi hết lòng chúc anh chị em một lễ Giáng Sinh thánh đức, cũng như các cộng sự viên của anh chi em, tất cả những người gánh vác một nhiệm vụ gì trong Giáo Triều, các Đại Diện tông tòa và các cộng sự viên tại các Tòa Khâm Sứ. Và tôi muốn cảm ơn anh chị em vì sự tận tụy hàng ngày của anh chị em trong việc phục vụ Tòa Thánh, Giáo Hội và Người kế vị Thánh Phêrô. Cảm ơn nhiều !

Cũng xin cho phép tôi chúc mừng sự mới đến của vị tân Bộ Trưởng Bộ Thường Vụ thuộc Phủ Quốc Vụ Khanh, Đức Cha Edgar Pena Parra, người đã bắt đầu nhiệm vụ tế nhị và quan trọng này từ ngày 15/10/2018 vừa qua. Nguồn gốc Vênêzuêla của ngài phản ánh tính Công Giáo của Giáo Hội và sự cần thiết phải luôn mở ra nhiều hơn các chân trời cho đến tận cùng trái đất. Chào mừng Đức Cha và chúc Đức Cha làm việc tốt.

Giáng sinh là một lễ hội đổ đầy niềm vui xuống cho chúng ta và ban cho chúng ta sự xác tín rằng không có tội lỗi nào sẽ bao giờ to lớn hơn được lòng thương xót của Thiên Chúa, và không có hành động con người nào có thể bao giờ ngăn cản được bình minh của ánh sáng Thiên Chúa nẩy sinh và tái sinh trong lòng mọi người. Đây là lễ hội mời gọi chúng ta nhắc lại sự dấn thân Phúc Âm là loan báo Đức Kitô, Cứu Chúa của thế gian và ánh sáng của hoàn vũ. Quả vậy, nếu « Đức Kitô, ‘‘thánh thiện, vẹn toàn, vô tội’’ (Dt 7,26) không hề phạm (x. 2Cr 5,21), Người chỉ đến để đền tội cho dân (x. DT 2,17), thì Giáo Hội lại luôn có những người tội lỗi, và như thế là vừa thánh thiện, vừa vẫn luôn được kêu gọi phải tự thanh tẩy, liên tục tiến bước trên con đường sám hối và canh tân. Giáo Hội « tiến bước trên đường lữ hành giữa những bách hại của thế gian và những an ủi của Thiên Chúa, trong khi loan báo thập giá và cái chết của Chúa cho đến khi Người đến (x. 1Cr 11,26). Nhưng được củng cố nhờ quyền lực của Chúa Phục Sinh, với sự kiên nhẫn và tình yêu thương, Giáo Hội vượt thắng những khổ nhọc và khó khăn bên trong cũng như bên ngoài, để trung thành tỏ lộ cho thế giới  mầu nhiệm của Đức Kitô, hiện vẫn đang còn bị che khuất, cho đến lúc được biểu lộ dưới ánh sáng vẹn toàn » (Công Đồng Vatican II, Hiến chế Tín lý. Lumen gentium, số 8).

Bằng cách dựa trên lòng xác tín rằng ánh sáng luôn mạnh hơn bóng tối, tôi muốn cùng anh chị em suy ngẫm về ánh sáng nối liền Giáng Sinh – lần giá lâm đầu trong khiêm nhường – với sự trở lại vinh quang của Người – và xác nhận chúng ta trong niềm hy vọng không hề gây thất vọng. Đời sống của mỗi người chúng ta và toàn thể lịch sử Giáo Hội và thế giới tùy thuộc niềm hy vọng này.

Trên thực tế, Chúa Giêsu sinh ra trong một hoàn cảnh xã hội-chính trị và tôn giáo đầy những căng thẳng, những lộn xộn và đen tối. Sự sinh ra của Người, một bên thì đợi chờ, bên kia thì từ chối, tóm lược lôgíc của Thiên Chúa vốn không dừng lại trước điều ác, mà trái lại, biến đổi nó cách tuyệt đối và từng bước thành điều thiện, và cái lôgíc của ma quỷ vốn cũng thế, nó biến đổi cái thiện thành cái ác, để khiến nhân loại ở mãi trong thất vọng và trong bóng tối : « Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng » (Ga 1,5).

Nhưng, mỗi năm, Giáng Sinh nhắc cho chúng ta rằng sự cứu độ của Thiên Chúa, được ban nhưng không cho toàn nhân loại, cho Giáo Hội, và đặc biệt là cho chúng ta, những người tận hiến, (sự cứu độ) không tác động mà không có ý của chúng ta, không có sự hợp tác của chúng ta, không có sự tự do của chúng ta, không có nỗ lực hàng ngày của chúng ta. Sự cứu độ là một ơn phúc phải được đón nhận, gìn giữ và phải làm sinh lợi (x. Mt 25, 14-30). Sự kiện là người Kitô hữu nói chung, và đối với chúng ta nói riêng, sự kiện được xức dầu, những người thánh hiến cho Chúa, không có nghĩa là chúng ta hành xử như một vòng những người được đặc quyền, tin rằng có Thiên Chúa ở trong túi, nhưng như những người biết rằng mình được Chúa thúc đẩy mặc dù mình tội lỗi và bất xứng. Những người tận hiến, quả vậy, chẳng là gì khác ngoài việc mình là những tôi tớ trong vườn nho của Chúa, đến thời điểm, phải cho ra một mùa gặt và sản phẩm của vườn nho (x. Mt 20, 1-16).

Sách Thánh và lịch sử Giáo Hội cho chúng ta sự chứng minh rằng, nhiều khi, kể cả những người được chọn, dọc đường, cũng bắt đầu nghĩ, cũng tin và cũng hành xử như những chủ nhân của ơn cứu độ chứ không phải như những người được thụ hưởng, như những kiểm soát viên các mầu nhiệm của Thiên Chúa và không như là những người phân phát khiêm nhường, như những nhân viên quan thuế của Thiên Chúa, và không như những tôi tớ của đoàn chiên được Chúa gửi gấm cho mình.

Nhiều khi – vì hăng hái quá lố và không đúng hướng – thay vì đi theo Thiên Chúa, người ta lên đứng trước Người, như ông Phêrô đã chỉ trích Thầy và đáng bị lời quở trách nặng nề nhất mà Đức Kitô chưa hề phán với ai : « Satan ! lui lại đang sau Thầy ! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người » (Mc 8,33).

Anh chị em thân mến,

Trong thế giới hỗn độn, năm nay con thuyền Giáo Hội đã trải nghiệm và đang trải nghiệm những giờ phút khó khăn, và Giáo Hội đã bị tấn công bởi những cơn phong ba bão táp. Nhiều người đã vì thế chạy đến hỏi với Thầy, dường như đang ngủ : « Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi. Thầy chẳng lo gì sao ? » (Mc 4,38). Nhiều người khác, bị xúc động bởi những tin tức, đã bắt đầu mất tin tưởng nơi Giáo Hội và bắt đầu rời bỏ Giáo Hội ; nhiều người khác nữa, vì sợ hãi, vì quyền lợi, với hậu ý, đã tìm cách làm tổn thương thân xác Giáo Hội bằng cách làm tăng thêm các thương tích ; nhiều người khác nữa không dấu diếm sự thỏa mãn của mình khi thấy Giáo Hội bị rung động ; nhưng rất đông là những người vẫn không nao núng với lòng xác tín rằng « quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi » (Mt 16,18).

Trong thời gian này, Bạn Trăm Năm của Đức Kitô tiếp tục con đường lữ hành giữa những niềm vui, những nỗi đau khổ, những thành công và những khó khăn, bên ngoài cũng như bên trong. Đương nhiên những khó khăn bên trong luôn là những khó khăn đau đớn nhất và tàn phá nhất.

Những nỗi đau khổ

Đau khổ thì nhiều. Bao người di dân – bị buộc phải rời bỏ quê hương và mạo hiểm tính mạng – đã chết, hay bao người di dân sống sót nhưng lại thấy những cánh cửa bị khép kín và những người anh em đồng loại mắc bận chinh phục chính trị và quyền lực. Biết bao sợ hãi, biết bao tổn hại ! Biết bao con người và biết bao trẻ em đã chết mỗi ngày vì thiếu nước uống, thiếu thức ăn và thuốc men ! Biết bao nghèo nàn và biết bao cùng khốn ! Biết bao bạo lực đối với những người yếu đuối và đối với phụ nữ ! Biết bao cảnh tượng chiến tranh có tuyên chiến và không tuyên chiến ! Biết bao máu người vô tội đã đổ ra mỗi ngày ! Biết bao chuyện vô nhân đạo và bao chuyện tàn nhẫn bao quanh chúng ta tứ bề ! Biết bao con người, ngày hôm nay còn bị tra tấn có hệ thống, trong các đồn công an, trong các nhà tù và các trại tỵ nạn ở nhiều nơi trên thế giới.

Trên thực tế, chúng ta cũng đang sống một thời đại tử đạo mới. Sự bách hại tàn bạo và hung ác của đế quốc La Mã dường như chưa hề chấm dứt. Những bạo chúa Nêrô mới đã không ngừng ra đời để đàn áp các tín đồ, chỉ vì lý do đức tin của họ vào Đức Kitô. Nhiều nhóm quá khích mới thi nhau xuất hiện nhằm mục đích đánh phá các thánh đường, những nơi thờ phượng, các chức sắc hay cả các giáo dân bình thường. Nhiều phường hội cũ và mới sinh sống bằng cách nuôi dưỡng hận thù và đối nghịch với Đức Kitô, với Giáo Hội và các giáo dân. Biết bao Kitô hữu, ngày hôm nay còn phải sống dưới sức nặng của bách hại, của sự tẩy chay, của sự kỳ thị và bất công trên bao vùng thế giới ! Tuy vậy, họ tiếp tục can đảm ôm lấy cái chết để không từ bỏ Đức Kitô. Thật là khó khăn biết bao, trong ngày hôm nay, để sống tự do đức tin của mình trên nhiều miền của thế giới, nơi không có tự do tôn giáo và tự do tín ngưỡng !

Ngoài ra, gương anh dũng của các thánh tử đạo và của rất đông những người samari nhân hậu, nghĩa là những người trẻ, các gia đình, các hội đoàn từ thiện và thiện nguyện viên, và biết bao tín hữu và người tận hiến, tuy thế, cũng không làm chúng ta quên được sự làm chứng phản biện và những điều tai tiếng của một số con cái và chức sắc của Giáo Hội.

Ở đây, tôi chỉ giới hạn vào những tai họa lạm dụng và bất trung.

Từ nhiều năm nay, Giáo Hội làm việc nghiêm túc để bài trừ tận gốc tội ác lạm dụng đang đòi công bằng với Chúa, với Thiên Chúa là Đấng không quên sự đau khổ được trải nghiệm bởi nhiều trẻ vị thành niên vì những giáo sĩ và những người tận hiến : lạm dụng uy quyền, lạm dụng lương tâm và tình dục.

Khi nghĩ đến đề tài đau đớn này, đã hiện ra trong trí tôi hình ảnh vua Đavít – một người « được Chúa xức dầu » (x. 1Sm 16,13 – 2Sm 11-12). Ông, mà con cháu đã sinh ra Hài Nhi thánh – cũng được gọi là « con vua Đavít » -, mặc dù ông được tuyển chọn, là vua và là người được xức dầu của Chúa, đã phạm ba tội một lúc, nghĩa là cùng một thời diểm đã phạm ba tội lạm dụng : lạm dụng tình dục, lạm dụng quyền lực và lạm dụng lương tâm. Ba tội lạm dụng riêng rẽ, nhưng đã hội tụ và chồng chất lên nhau.

Câu chuyện bắt đầu, như chúng ta đã biết, khi đức vua, mặc dù là một người thiện chiến, lại ở lì trong cung đình không làm gi cả, thay vì ra trận chiến đấu cùng với dân của Thiên Chúa. Vua Đavít lợi dụng, vì sự tiện nghi và lợi ích của mình, vì ông là vua (lạm dụng quyền lực). Người được xức dầu buông thả trong sự dễ dãi, bắt đầu tiến trình thoái hóa đạo đức và lương tâm không cưỡng nổi. Và chính trong bối cảnh này mà, từ trên sân thượng của đền vua, ông nhìn thấy bà Bethsabê, vợ ông Urie người Hittite, lúc bà đang tắm, và vua đã cảm thấy bị bà thu hút (x. 2Sm 11). Vua sai người đi gọi nàng tới và ăn nằm với bà (lạm dụng quyền lực nữa, cộng thêm lạm dụng tình dục). Vua lạm dụng như thế một người đàn bà có chồng và, để che dấu tội lỗi, vua sai gọi ông Urie về, và tìm cách bắt ông ta về nhà ông để ngủ với vợ ông, nhưng ông từ chối. Và sau đó, vua sai người chỉ huy quân đội đưa ông Urie vào chỗ nguy hiểm nhất ngoài chiến địa để giết ông ta (lạm dụng quyền lực nữa, cộng thêm lạm dụng lương tâm). Chuỗi dài tội lỗi lớn dần như một vết dầu loang và nhanh chóng trở thành một mạng lưới thối nát.

Từ những tia lửa của sự lười biếng và sự trụy lạc, và vì « lơ là cảnh giác », sự liên kết ma quỷ các tội lỗi bắt đầu : ngoại tình, nói dối và giết người. Có tham vọng, vì là vua, có quyền làm mọi chuyện và có được mọi thứ, vua Đavít tìm cách đánh lừa cả chồng bà Bethsabê, đánh lừa người khác, đánh lừa chính mình và đánh lừa cả Thiên Chúa. Đức vua bỏ bê quan hệ với Thiên Chúa, ngài vi phạm các giới răn của Chúa, xúc phạm đến chính sự liêm khiết tinh thần mà không cảm thấy mình có tội. Kẻ được xức dầu tiếp tục thi hành sứ vụ của mình như không có gì xẩy ra cả. Điều duy nhất quan trọng với người đó là bảo vệ hình ảnh và thể diện của mình. « Bởi vì những người có cảm tưởng mình không phạm tội gì nặng đối với Lể Luật của Thiên Chúa, có thể rơi vào một loại tình trạng choáng váng hay đờ đẫn. Vì họ không thấy gì là trầm trọng phải tự trách mình, họ không nhìn ra được cái nguội lạnh đang dần dần chiếm lấy đời sống thiêng liêng của họ và cuối cùng họ bị suy nhược và trở thành hư hỏng » (Tông Huấn Gaudete et exultate, số 164). Từ những tội nhân, cuối cùng họ thành hư hỏng.

Ngày hôm nay nữa, có những « người được xức dầu của Chúa », những người tận hiến, đã lạm dụng những kẻ yếu đuối bằng cách lợi dụng uy quyền đạo đức và thuyết phục của họ. Họ phạm những điều ghê tởm và vẫn tiếp tục thi hành thừa tác vụ như không có gì xẩy ra cả ; họ không kính sợ Thiên Chúa, cũng chẳng sợ sự phán xét của Người ; nhưng chỉ sợ bị phát giác và vạch mặt. Các thừa tác viên cào xé thân xác Giáo Hội, gây ra những chuyện tai tiếng và làm mất uy tín của sứ vụ cứu độ của Giáo Hội và những hy sinh của bao người anh em của họ.

Ngày hôm nay nữa, có nhiều vua Đavít, không hề chớp mắt, đi vào trong mạng lưới hủ hóa, phản bội Thiên Chúa, phản bội các giới răn của Người, phản bội ơn gọi của chính họ, phản bội Giáo Hội, phản bội dân của Thiên Chúa và sự tin tưởng của các em nhỏ và thân nhân của chúng. Nhiều khi, đàng sau sự tốt lành quá đáng của họ, công việc không chê vào đâu được của họ, khuôn mặt thiên thần của họ, họ che dấu một cách vô liêm sỉ một con chó sói đáng sợ sẵn sàng cắn xé những linh hồn trong trắng.

Lỗi lầm và tội ác của những người tận hiến được nhuộm mầu sắc đen tối hơn vì sự bất trung, nhục nhã, và làm méo mó khuôn mặt của Giáo Hội bằng cách phá hủy tính khả tín của Giáo Hội. Quả vậy, Giáo Hội, cũng như con cái trung thành của Giáo Hội, cũng là nạn nhân của những bất trung và của những « tội phạm chiếm dụng » này.

Anh chị em thân mến,

Giáo Hội sẽ không quản ngại làm tất cả những gì cần thiết để giao nộp cho công lý bất cứ ai vi phạm những tội này. Giáo Hội sẽ không bao giờ tìm cách ếm nhẹm hay đánh giá thấp bất cứ trường hợp nào. Không thể chối cãi được là đã có một số những người trách nhiệm, trong quá khứ, vì nhẹ dạ, vì hoài nghi, vì thiếu chuẩn bị, vì thiếu kinh nghiệm hay vì hời hợt về mặt tinh thần và con người, đã xử lý nhiều trường hợp một cách không nghiêm túc và không nhanh chóng như được yêu cầu. Điều này từ nay không bao giờ được xẩy ra nữa. Đây là sự lựa chọn và là quyết định của toàn Giáo Hội

Vào tháng Hai sắp tới đây, Giáo Hội sẽ nhắc lại ý chí cương quyết để kiên trì, bằng hết sức mình, trên con đường thanh tẩy. Giáo Hội sẽ tìm cách, trong khi nhờ tới các chuyên gia, làm sao bảo vệ các trẻ em, làm sao tránh những thảm họa, làm sao chữa trị và tái hội nhập các nạn nhân, làm sao tăng cường việc đào tạo trong các chủng viện. Chúng ta sẽ tìm cách biến những lỗi lầm đã phạm thành cơ hội để loại trừ tai họa này không chỉ của thân xác Giáo Hội mà còn trong xã hội nữa. Quả vậy, nếu tai họa rất trầm trọng này đã có thể chạm đến một số thừa tác viên tận hiến, người ta tự hỏi, trong tầm mức trầm trọng nào nó đã đụng tới các xã hội và gia đình của chúng ta ? Giáo Hội không chỉ giới hạn trong việc tự chữa chạy mà còn sẽ tìm cách đối đầu với điều ác này đang gây ra cái chết dần mòn của bao người trên mặt tinh thần, tâm lý và nhân bản.

Anh chị em thân mến,

Khi nói về vết thương này, không có ai, kể cả Giáo Hội, lại miệt mài chống lại một số những người chuyên nghiệp về truyền thông, bằng cách tố cáo họ đã bỏ qua phần lớn những trường hợp lạm dụng không do những thành viên của hàng giáo phẩm của Giáo Hội phạm phải, và muốn cố ý đưa ra một hình ảnh sai lạc, như là cái điều xấu này chỉ liên quan đến Giáo Hội Công Giáo mà thôi. Tôi thì lại muốn cảm ơn nhiệt thành những người chuyên nghiệp trong ngành truyền thông đại chúng đã lương thiện và khách quan và đã tìm cách vạch mặt những con chó sói và trao tiếng nói cho các nạn nhân. Dù là chỉ có một trường hợp lạm dụng – vốn bản chất cũng đã là một điều kinh khủng – Giáo Hội cũng sẽ yêu cầu không được giữ im lặng và phải khách quan đưa ra ánh sáng, bởi vì sự tai tiếng lớn nhất trên vấn đề này, chính là che dấu sự thật.

Tất cả chúng ta hãy nhớ là nhờ cuộc gặp gỡ với ngôn sứ Nathan mà vua Đavít đã hiểu được tính trầm trọng của tội lỗi mình. Ngày hôm nay, chúng ta cần có những ngôn sứ Nathan mới để giúp cho nhiều vua Đavít tỉnh ngộ từ một cuộc sống giả hình và đồi bại. Xin anh chị em vui lòng, hãy giúp cho Mẹ Thánh Giáo Hội trong nhiệm vụ khó khăn của mình, như là nhiệm vụ nhìn nhận những trường hợp thực, và phân biệt với những trường hợp giả, những tố giác với những vu khống, những oán hận với những lời bóng gió, những xì xào với những vu cáo. Đây là một nhiệm vụ khá khó khăn trong mức độ mà những thủ phạm đích thực biết ẩn nấp cẩn thận đến độ mà nhiều người phụ nữ, nhiều bà mẹ, bà chị cô em không thể phát giác chúng nơi những người thân cận nhất : chồng, bố đỡ đầu, ông bà, chú bác, anh em, hàng xóm, thầy giáo… Ngay cả những nạn nhân, được các thủ phạm chấm, nhiều khi muốn chọn im lặng và vì quá sợ hãi, đã bị khống chế bởi sự hổ thẹn và bởi nỗi hoảng sợ bị bỏ rơi.

Với những kẻ lạm dụng các trẻ vị thành niên, tôi muốn nói : hãy ăn năn hối cải và nộp mình cho công lý loài người và dọn mình cho công lý của Thiên Chúa, hãy nhớ lời Đức Kitô : « Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn nhất đang tin Thầy đây phải sa ngã, thì thà treo cối đá lớn vào cổ nó mà xô cho chìm xuống đáy biển còn hơn. Khốn cho thế gian, vì làm cớ cho người ta sa ngã. Tất nhiên phải có những cớ gây sa ngã, nhưng khốn cho kẻ làm cớ cho người ta sa ngã » (Mt 18, 6-7).

Anh chị em thân mến,

Bây giờ, cho phép tôi được nói đến mội nỗi đau khổ khác, đó là nỗi đau của sự bất trung của những người đã phản bội ơn gọi của họ, phản bội lời thề hứa của họ, phản bội sứ vụ của họ và sự tận hiến của họ cho Thiên Chúa và cho Giáo Hội ; những kẻ ẩn nấp đàng sau những ý tưởng tốt để đâm sau lưng những anh em của họ và gieo vãi cỏ lùng, sự chia rẽ và sự hỗn loạn ; những con người luôn tìm được những biện bạch, kể cả những biện bạch lôgíc và thiêng liêng, để tiếp tục bình thản đi trên con đường sa đọa.

Không phải là một sự mới lạ trong lịch sử Giáo Hội, thánh Augostinô, khi nói về hạt giống tốt và hạt cỏ lùng, khẳng định rằng « Thưa anh em của tôi, anh em có tin rằng cỏ lùng không leo lên được đến cấp giám mục không ? Anh em có tin rằng nó chỉ có ở bên dưới và không ở trên không ? Tạ ơn Chúa vì chính chúng ta không phải như thế ! [… Trong hàng ngũ các giám mục có những hạt lúa mạch và hạt cỏ lùng, cũng có hạt lúa mạch và hạt cỏ lùng trong dân nữa » (Bài giảng  73, 4 : PL 38,472).

Những lời của thánh Augostinô khuyên chúng ta nhớ tới câu phương ngôn : « đường xuống hỏa ngục được lát bằng những ý tưởng tốt » ; và giúp chúng ta hiểu rằng Tên Cám Dỗ, Tên Đại Cáo Buộc, chính là kẻ chia rẽ, gieo rắc bất hòa, loan truyền thù hận và thuyết phục trẻ em, dẫn chúng đến nghi ngờ.

Trên thực tế, đàng sau những kẻ gieo vãi bất hòa hầu như luôn luôn có ba mươi đồng bạc. Như thế, đây là lúc hình ảnh của vua Đavít dẫn chúng ta đến hình ảnh của Giuđa Iscariote, một người được tuyển chọn khác của Chúa đã bán và nộp Thầy mình đi chịu chết. Đavít tội lỗi và Giuđa Iscariote sẽ luôn hiện diện trong Giáo Hội, trong mức độ họ tượng trưng cho sự yếu đuối, vốn là thành phần của thân phận con người. Họ là những ảnh tượng của tội lỗi và tội ác do những con người được tuyển chọn, và tận hiến vi phạm. Hợp nhất trong tội lỗi, tuy nhiên họ khác nhau trong sự sám hối. Vua Đavít đã ăn năn sám hối và phó thác cho lòng thương xót của Thiên Chúa, trong lúc Giuđa thì đi tự tử.

Như thế, tất cả chúng ta – để làm rực rỡ ánh sáng của Đức Kitô – chúng ta phải đấu tranh chống mọi sự hủ hóa tinh thần, vốn « tệ hại hơn là sự sa ngã của một người tội lỗi, bởi vì đó là một sự mù quáng thoải mái và tự mãn trong đó mọi sự đều dường như hợp pháp : sự lừa dối, vu cáo, ích lỷ và nhiều hình thức tự quy chiếu tinh vi khác, bởi vì « chính Satan cũng đội lốt thiên thần sáng láng » (2Cr 11,14). Chính như thế, vua Salomon đã sống những ngày cuối, trong lúc kẻ tội đồ lớn Đavít đã biết đứng lên từ cảnh khốn cùng của mình » (Tông Huấn Gaudete exultate, số 165).

Những niềm vui

Năm nay có nhiều niềm vui, thí dụ, sự thành công mỹ mãn của Thượng Hội Đồng các giám mục dành cho giới trẻ mà vị niên trưởng đã nói tới. Những tiến bộ được hoàn thành cho tới nay trong việc cải tổ Giáo Triều : thí dụ, nhưng công việc giải thích và trong sáng hóa trong lãnh vực kinh tế ; những nỗ lực đáng khen ngợi đã hoàn tất bởi Văn Phòng Tổng Kiểm Tra và Thẩm Quyền Thông Tin Tài Chính, các kết quả tốt đẹp đạt được bởi Ngân Hàng Tòa Thánh ; bộ Luật Mới về Thành Quốc Vatican ; Nghị định về lao động tại Vatican, và nhiều thành quả ít thấy được. Chúng ta hãy nhớ niềm vui của các Tân Chân Phước và Hiển Thánh vốn là những « châu báu » trang điểm cho bộ mặt của Giáo Hội và toả ra thế giới niềm hy vọng, lòng tin và ánh sáng. Phải nhắc ở đây đến 19 thánh tử đạo của Algérie : « Mười Chín mạng sống đã được hiến dâng cho Đức Kitô, cho Phúc Âm và cho dân tộc Algérie… Những gương mẫu thánh thiện bình thường, sự thánh thiện « ở bên hàng xóm » (Thomas Georgeon, Osservatore Romano, ấn bản tiếng Pháp, 27/11/2018, trang 8) ; con số cao các tín hữu, mỗi năm, khi nhận bí tích Rửa Tội, làm trẻ lại cho Giáo Hội, với tư cách là mẹ luôn đông con, và rất nhiều con cái trở về nhà và ôm lại đức tin và đời sống Kitô giáo; các gia đình, cha mẹ đang sống đứng đắn đức tin và lưu truyền mỗi ngày cho con cái mình xuyên qua niềm vui tình yêu của họ (x. Tông huấn sau Thượng Hội Đồng Amoris Laetitia, số 259-290) ; sự làm chứng của nhiều người trẻ đã can đảm lựa chọn đời sống tận hiến và linh mục.

Một lý do vui mừng, chính cũng là con số lớn những người nam nữ tận hiến, các giám mục và linh mục, đang sống hàng ngày ơn gọi của mình trong sự trung thành, trong thinh lặng, trong sự thánh thiện và trong sự quên mình. Đó là những con người đang soi sáng những vùng bóng tối của nhân loại bằng sự làm chứng đức tin, tình yêu và đức ái của họ. Những con người đang kiên nhẫn làm việc, vi tình yêu Đức Kitô và Phúc Âm của Người, giúp cho người nghèo, người bị áp bức và người sau chót, không tìm cách xuất hiện ở trang nhất các nhật báo hay chiếm những chỗ hàng đầu. Những con người đã xả bỏ tất cả và hiến dâng đời mình, đem ánh sáng đức tin tới nơi mà Đức Kitô bị bỏ rơi, bị đói, khát, bị tù đày và trần trụi (x. Mt 25, 31-46). Tôi đặc biệt nghĩ đến nhiều cha xứ, mỗi ngày nêu gương sáng cho dân chúng của Thiên Chúa, đến những linh mục sát cánh với các gia đình, biết tên của mọi người và sống cuộc đời mình một cách đon giản, trong đức tin, với lòng hăng hái, trong sự thánh thiện và trong đức ái. Những con người bị lãng quên bởi các phương tiện truyền thông đại chúng, nhưng không có họ, bóng tối sẽ thống trị.

Anh chị em thân mến

Khi nói đến ánh sáng, đến những nỗi đau khổ, đến vua Đavít và đến Giuđa, tôi muốn nêu lên giá trị của sự ý thức, mà người ta phải biến thành một bổn phận của cảnh giác và thức tỉnh của những người, trong cơ chế cuộc sống giáo sĩ và tận hiến, thực hành công việc quản trị. Thực ra, sức mạnh của một thiết chế, thiết chế nào đi chăng nữa, không nằm trong sự kiện là nó bao gồm những con người hoàn hảo (không hề có) mà trong ý chí của nó là thanh tẩy liên tục ;  trong khả năng của nó để khiêm nhường nhận biết những lỗi lầm của mình và để sửa sai chúng ; trong khả năng để đứng dậy từ những sa ngã, để nhìn thấy ánh sáng Giáng Sinh tỏa ra từ máng cỏ Bêlem, xuyên qua lịch sử và đến tận lúc Chúa lại ngự đến.

Như thế, phải mở lòng chúng ta ra cho ánh sánh đích thực, Chúa Giêsu Kitô : ánh sáng có thể soi rọi cuộc đời và biến những bóng tối của chúng ta thành ánh sáng ; ánh sáng của sự thiện chiến thắng sự ác ; ánh sáng của tình yêu vượt lên hận thù ; ánh sáng của sự sống chiến thắng sự chết ; ánh sáng Thiên Chúa biến đổi mọi vật và mọi người thành ánh sáng ; ánh sáng của Thiên Chúa chúng ta : nghèo khó và giầu sang ; nhân lành và công chính, hiện diện và ẩn mặt, nhỏ bé và vĩ đại.

Chúng ta hãy nhớ những lời lẽ đẹp của thánh Macaire le Grand, cha của sa mạc Ai Cập thế kỷ thứ 4, khi nói về Giáng Sinh ngài đã khẳng định : « Thiên Chúa đã trở thành nhỏ bé ! Đấng không thể đụng đến và đấng không được tạo dựng, trong sự tốt lành vô hạn và không thể tưởng tượng, đã nhập thể để làm mình thành nhỏ bé. Trong lòng nhân lành của Người, Người đã bước xuống khỏi sự vinh hiển của Người. Không một ai, trên trời cũng như dưới đất có thể hiểu thấu được sự trọng đại của Thiên Chúa và không một ai, trên trời cũng như dưới đất có thể thấu hiểu được Thiên Chúa đã biến thành nghèo khó bé mọn như thế nào cho những người nghèo khó và bé mọn. Quả sự trọng đại của Người là không thể hiểu nổi, cũng như sự bé mọn của Người » (x. Bài Giảng IV, 9-10 ; XXXII, 7 in : Spirito e fuoco. Omelie spirituali. Collezione II, Qiqajon-Bose, Magnano 1995, trang 88-89.332-333)

Chúng ta hãy nhớ rằng Giáng Sinh là ngày lễ của « Thiên Chúa trọng đại đã biến thành nhó bé và trong sự bé mọn của Người, Người không ngừng trọng đại. Và trong biện chứng này, trọng đại tức là bé mọn : chính là lòng nhân hiền của Thiên Chúa. Đấng trọng đại trở thành bé mọn và Đấng bé mọn là trọng đại » (Bài giảng tại nhà Sainte Marthe, 14/12/2017 ; x. Bài Giảng tại Sainte Marthe, 25/4/2013).

Giáng Sinh mỗi năm hiến tặng cho chúng ta sự xác tín rằng ánh sáng của Thiên Chúa sẽ tiếp tục chói lọi bất kể sự khốn cùng con người của chúng ta ; sự xác tín rằng Giáo Hội sẽ ra khỏi những gian truân, còn tươi đẹp hơn và được thanh tẩy và lộng lẫy. Bởi vì, mọi tội lỗi, mọi sa ngã và điều xấu do một số con cái của Giáo Hội đã vi phạm sẽ không bao giờ làm phai lạt nét đẹp của dung nhan Giáo Hội ; trái lại, chúng còn đưa ra minh chứng xác thực rằng sức mạnh của Giáo Hội không nằm trong chúng ta mà ở trong Chúa Kitô Giêsu, Cứu Chúa của thế gian và Ánh Sáng của vũ trụ, Đấng thương yêu và ban sự sống cho Giáo Hội. Giáng Sinh chứng minh rằng những điều xấu trầm trọng do một số người phạm phải không bao giờ làm hoen ố tất cả những thiện ích là Giáo Hội đã hoàn thành một cách nhưng không trên thế giới. Giáng sinh bảo đảm rằng sức mạnh đích thực của Giáo Hội và công việc hàng ngày của chúng ta, nhiều khi được che khuất – như công việc của Giáo Triều, trong đó có những thánh nhân -, nằm trong Chúa Thánh Linh, Đấng hướng dẫn và che chở Giáo Hội qua nhiều thế kỷ, bằng cách biến đổi kể cả tội lỗi thành những cơ hội tha thứ, những sa ngã thành những cơ hội canh tân, cái ác thành cơ hội thanh tẩy và chiến thắng.

Cảm ơn rất nhiều và chúc mừng Giáng Sinh vui vẻ cho hết mọi người.

[Bản gốc : bằng tiếng Pháp]

© Libreria Editrice Vaticana

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp đăng trên Zenit

https://fr.zenit.org/articles/la-lumiere-plus-forte-que-les-tenebres-le-pape-dit-non-aux-abus-de-conscience-de-pouvoir-ou-sexuels/

 825 khách đã đọc bài này
This entry was posted in Chưa được phân loại. Bookmark the permalink.