Đức Giáo Hoàng căn dặn các tân Hồng Y hãy sống « lòng trắc ẩn »

Nói không với « thói quen vô cảm » (Toàn văn bài giảng)

OCTOBRE 05, 2019 17:06 ANNE KURIANCOLLÈGE CARDINALICEPAPE FRANÇOISROME

Hội nghị Hồng Y để thiết lập 13 vị tân Hồng Y, 5/10/2019

Ơn có tâm hồn trắc ẩn : đó là điều mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã cầu chúc cho 13 vị tân Hồng Y do ngài tấn phong ngày 05/10/2019, trong một Hội Nghị Hồng Y trong Đền Thánh Phêrô, tại Vatican. Ngài đã đả kích trước mặt các vị « thói quen nhìn ra phía khác… thói quen vô cảm ».

Trong bài huấn đức, Đức Giáo Hoàng đã nhấn mạnh « một đòi hỏi căn bản » của sứ vụ : « ý thức của lòng trắc ẩn của Thiên Chúa đối với chúng ta ». Quả vậy, ngài đã lưu ý, « nếu tôi không cảm thấy mình là đối tượng của lòng trắc ẩn của Thiên Chúa, tôi sẽ không hiểu được tình yêu của Người… Và nếu tôi không cảm nhận được lòng trắc ẩn đó, làm sao tôi có thể thông truyền nó, làm chứng về nó và hiến tặng nó đi ? ».

Ngài đã mời gọi hãy làm một cuộc xét mình : « Tôi có lòng trắc ẩn đối với người anh em đó không, vị giám mục đó không, vị linh mục đó không ?… Hay là tôi luôn phá hủy với thái độ lên án, dửng dưng của tôi ? ».

Trong buổi cử hành, 13 vị Hồng Y đã nhận lãnh từ tay Đức Giáo Hoàng những dấu chỉ của Hồng Y : mũ, nhẫn, tước hiệu. Trong các ngài, có 10 vị sẽ là cử tri bỏ phiếu trong trường hợp có mật nghị.

Với gốc gác trên toàn thế giới, các tân Hồng Y cử tri là : Đức Cha Miguel Angel Ayuso Guixot, chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về đối thoại liên tôn, Đức Cha Ignatius Suharyo Hardjoatnodjo, tổng giám mục Jakarta (Nam Dương), Đức Cha Juan de la Caridad Garcia Rodriguez, tổng giám mục San Cristóbal de La Havane (Cuba), Đức Cha Fridolin Ambongo Besungu, tổng giám mục Kinshasa (Cộng Hòa Dân Chủ Congo), Đức Cha Jean-Claude Hollenrich, tổng giám mục Luxembourg (Luxembourg), Đức Cha Alvaro L. Ramazzini Imeri, giám mục Huehuetenamgo (Guatemala), Đức Cha Matteo Zuppi, tổng giám mục Bologna (Ý), Đức Cha Cristóbal López Romero, tổng giám mục Rabat (Maroc), linh mục dòng Tên người Canada Michael Czerny, phó tổng thư ký phân bộ người di dân và tỵ nạn của Bộ Phục Vụ phát triển nhân bản toàn diện.

Bài huấn đức của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Ở giữa bài Phúc Âm mà chúng ta đã nghe (Mc 6, 30-37), có « lòng trắc ẩn » của Chúa Giêsu (x. c.34). Chạnh lòng thương, từ khóa của Phúc Âm ; nó đã được viết trong tim của Chúa Kitô, nó đã được viết từ thuở đời đời trong tim của Thiên Chúa.

Trong các Phúc Âm, chúng ta thấy nhiều lần Chúa Giêsu cảm thấy chạnh lòng thương đối với những người đau khổ. Và chúng ta càng đọc, càng suy  ngẫm, chúng ta càng hiểu rằng lòng trắc ẩn của Chúa không phải là một thái độ ngẫu nhiên, lẻ tẻ, nhưng nó bất biến, hơn nữa, nó dường như là sự sẵn sàng của trái tim Người, trong đó lòng thương xót của Thiên Chúa đã nhập thể. Thí dụ, Thánh Máccô đã kể lại rằng, khi Chúa Giêsu bắt đầu đi qua xứ Gallilê, vừa đi vừa giảng dạy và vừa trừ quỷ, « một người phong hủi đến gặp Người, anh ta quỳ xuống van xin rằng : ’’Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch.’’. Người chạnh lòng thương, đưa tay chạm vào anh và bảo anh : ‘‘Tôi muốn, anh sạch đi’’. Lập tức, chứng phong hủi biến khỏi anh, và anh được sạch » (Mc 1, 40-42). Trong cử chỉ và lời nói này, có sứ vụ của Chúa Giêsu Cứu Chuộc loài người : Cứu chuộc trong lòng trắc ẩn. Người nhập thể ý chí của Thiên Chúa để thanh tẩy con người bị bệnh phong hủi của tội lỗi ; Người là ‘‘bàn tay giơ ra của Thiên Chúa’’ đã chạm đến da thịt đau ốm của chúng ta và hoàn thành công trình đó bằng cách lấp đầy vực thẳm chia cách. Chúa Giêsu đi tìm những người bị loại bỏ, những người không còn hy vọng. Cũng như con người bại liệt ba mươi tám năm nằm cạnh hồ tắm Bethzatha, vô vọng đợi chờ có ai đó đỡ anh ta xuống nước (x. Ga 5, 1-9).

Sự chạnh lòng này không chỉ nổi lên vào một khoảnh khắc nào trong lịch sử cứu độ, không, nó đã luôn ở nơi Thiên Chúa, được ghi khắc trong tim Chúa Cha. Chúng ta thấy điều đó trong đoạn Chúa gọi ông Môsê, khi Thiên Chúa phán với ông từ trong bụi lửa rằng : « Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai Cập, ta đã nghe tiếng chúng kêu than […] Phải, Ta biết các nỗi đau khổ của chúng » (Xh 3,7). Tình yêu của Thiên Chúa đối với dân Người đều thấm nhuần lòng trắc ẩn, đến độ, trong quan hệ giao ước đó, cái gì thuộc về Thiên Chúa là lòng trắc ẩn, trong lúc mà, khốn thay, dường như cái gì là con người lại không hề có, hay rất xa. Chính Thiên Chúa đã phán : « Hỡi Ephraim, Ta từ chối người sao nổi, Hỡi Israel, Ta trao nộp ngươi sao đành ? […] Trái tim Ta thổn thức, ruột gan ta bồi hồi. […]. Vì Ta là Thiên Chúa, chứ không phải người phàm : Ở giữa người, Ta là Đấng Thánh, và Ta sẽ không đến trong cơn thịnh nộ » (Hs 11, 8-9).

Các môn đệ của Chúa Giêsu thường hay tỏ ra họ không có lòng trắc ẩn, như trong trường hợp này, trước vấn đề đám đông phải nuôi ăn. Tóm lại các ông nói rằng : ‘‘Để họ tự xoay trở lấy…’’. Đó là một thái độ chung của chúng ta, những con người, kể cả khi chúng ta là những con người tu trì hay kể cả những người trách nhiệm tế lễ. Vai trò mà chúng ta đảm nhận không đủ để làm cho chúng ta trở thành có lòng trắc ẩn như thái độ của thầy tư tế và thầy Lêvi kia, khi nhìn thấy một người hấp hối bên vệ đường, đã bước né sang một bên (x. Lc 10, 31-32). Trong thâm tâm những người này, có lẽ họ tự nhủ : ‘‘ Không phải chuyện của tôi’’. Luôn có những lời biện hộ ; đôi khi nó còn được hệ thống hóa và dẫn tới những cách ’’hắt hủi mang tính thế chế’’, như trong trường hợp những người bị phong hủi. ‘‘Tất nhiên, họ phải ở ngoài, cái đó tự nhiên’’. Từ cái thái độ rất, quá con người đó cũng lạc sang những cơ cấu vô cảm.

Ở giai đoạn đó, chúng ta có thể tự hỏi : chúng ta có ý thức rằng chúng ta là những người đầu tiên, là đối tượng của lòng trắc ẩn của Thiên Chúa không ? Tôi đặc biệt nói với anh em, các Hồng Y và những anh em sắp trở thành Hồng Y : sự ý thức đó có sống động trong anh em không ? Đã được và luôn được đi trước và tháp tùng bởi lòng thương xót của Người không ? Ý thức đó đã là sự sẵn lòng liên tục của trái tim vô nhiễm nguyên tội của Đức Trinh Nữ Maria luôn ca ngợi Thiên Chúa như ‘‘Đấng cứu chuộc của Mẹ’’ Đấng ‘‘đoái thương nhìn tới phận nữ tỳ hèn mọn của Người’’ (Lc 1,48).

Rất có ích cho tôi khi soi mình trong trang sách Êdêkien 16 : câu chuyện tình của Thiên Chúa với Giêrusalem, trong kết luận này : « Còn chính Ta, Ta sẽ thiết lập giao ước giữa Ta và ngươi. Bấy giờ ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa, để ngươi nhớ lại mà lấy làm xấu hổ và, trong lúc tủi nhục, ngươi sẽ không còn mở miệng nói được gì nữa, khi Ta tha thứ cho ngươi tất cả những việc ngươi đã làm » (Ed 16, 62-63). Hay là trong lời sấm khác này của ngôn sứ Hôsê : « Ta sẽ đưa nó vào sa mạc, để cùng nó thố lộ tâm tình […] Ở đó, nó sẽ đáp lại như buổi thanh xuân, như ngày nó đi lên từ Ai Cập » (Hs 2, 16-17).

Ý thức về lòng trắc ẩn của Thiên Chúa đối với chúng ta liệu nó có sống động trong chúng ta hay không ?… Đây không phải là một chuyện tùy tiện, và cũng không phải, tôi có thể nói là một ‘‘lời khuyên Phúc Âm’’. Không ! đây là một đòi hỏi chủ yếu. Nếu tôi không cảm thấy mình là đối tượng của lòng trắc ẩn của Thiên Chúa, tôi không hiểu được tình yêu của Người.  Đây không phải là một thực tế có thể giải thích được. Hoặc là tôi cảm nhận được tình yêu đó, hoặc là tôi không cảm nhận được. Và nếu tôi không cảm nhận được, làm sao tôi có thể thông truyền nó, làm chứng cho nó và hiến tặng nó ? Cụ thể : tôi có chạnh lòng đối với người anh em đó, vị giám mục đó , vị linh mục đó không ?… Hay là tôi luôn phá hủy với cái thái độ kết án, vô cảm của tôi.

Tùy thuộc vào ý thức sống động này là khả năng trung thành với thừa tác vụ của mình, kể cả đối với các anh em Hồng Y nữa. Sự sẵn lòng đổ máu của một vị Hồng Y – được tượng trưng bởi mầu đỏ sắc phục của ngài – là chắc chắn khi nó được bắt rễ trong ý thức đã nhận lãnh được lòng trắc ẩn và trong khả năng có được lòng trắc ẩn. Nếu không, người ta không thể trung thành được.

Nhiều thái độ bất trung của những con người của Hội Thánh tùy thuộc vào sự thiếu ý nghĩa chạnh lòng này đã nhận được, và vào thói quen nhìn ra phía khác, vào thói quen vô cảm.

Ngày hôm nay, chúng ta hãy cầu xin, nhờ lời chuyển cầu của Tông Đồ Phêrô, ơn có một tấm lòng trắc ẩn, để làm chứng nhân của Đấng đã đoái nhìn chúng ta với lòng thương xót, đã chọn chúng ta, đã thánh hiến chúng ta và đã sai chúng ta mang Phúc Âm cứu độ đến cho mọi người.

© Librairie éditrice du Vatican

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

https://fr.zenit.org/articles/le-pape-recommande-aux-nouveaux-cardinaux-de-vivre-la-compassion/

 610 khách đã đọc bài này
This entry was posted in Chưa được phân loại. Bookmark the permalink.