« Với một trái tim của người cha » hay Phúc Âm của tình từ phụ theo thánh Giuse

Chữa lành thương tích của những tình cha con giả mạo

DÉCEMBRE 08, 2020 22:36 ANITA BOURDINPAPE FRANÇOIS

Triều kiến chung ngày 29/4/2020

« Với một trái tim người cha » : trong tông thư của người về thánh Giuse, mở ra Năm Thánh Giuse, ngày thứ ba 08/12/2020, nhân ngày lễ kính Đức Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đề nghị một kiểu Tin Mừng của tình cha con theo thánh Giuse, có thể coi như một phương thuốc trị các tình cha con đồi bại đã xuất hiện dưới dạng những lạm dụng mà nhiều nạn nhân phải gánh chịu : lạm dụng tinh thần, lạm dụng xã hội, lạm dụng uy quyền, lạm dụng tình dục. Một phương thuốc cũng có thể chữa lành những « người cha » đang trong khó khăn trước sự thực hiện tình cha con đó. Đức Giáo Hoàng, người cha thiêng liêng, biết rõ điều này ; « Người ta không sinh ra là làm cha ngay, mà phải trở thành cha ». Một phương thuốc cho những người cảm thấy bị « mồ côi », theo cách nói của Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Nói cách khác, bằng cách mở ra Năm Thánh Giuse, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đề nghị một con đường chữa lành từ nội tâm. 

Một tình cha con phổ quát

Tông thư đánh dấu ngày kỷ niệm 150 năm bản tuyên bố thánh Giuse là Quan Thầy của Hội Thánh hoàn vũ, bởi Đức Chân Phước Giáo Hoàng Piô IX, ngày 08/12/1870. Đức Giáo Hoàng Phanxicô cho biết rằng còn hơn là một danh hiệu Quan Thầy, một tình cha con phổ quát. Và ngài sẽ phân định trong tình cha con đó bẩy điểm khác nhau.

« Với một trái tim người cha : chính như thế mà thánh Giuse đã yêu thương Chúa Giêsu, Đấng đã được cả bốn bản Tin Mừng gọi là « con ông Giuse », Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã viết trong bức tông thư kể rõ vẻ đẹp của một tình cha con như thế, của trái tim.

Và ngài phác họa thánh Giuse như là chân dung của vị thánh ở « hàng thứ hai » : « Tất cả chúng ta có thể tìm thấy nơi thánh Giuse con người đi qua mà không ai nhìn thấy, con người của sự hiện diện hàng ngày, kín đáo và ẩn náu, một người biện hộ, một sự nâng đỡ và một người dẫn đường trong những lúc khó khăn. Thánh Giuse nhắc cho chúng ta rằng tất cả những ai bề ngoài, ẩn dật hay ở « hàng thứ nhì » đều thủ một vai trò không ai bằng trong lịch sử cứu độ. Với tất cả các vị đó, xin gửi một lời tri ân và lòng cảm tạ ».

Trước hết đây là một « người Cha được mến yêu » : « Vì vai trò của ngài trong lịch sử cứu độ, thánh Giuse là một người cha luôn được yêu mến bởi dân Kitô giáo như đã được chứng minh bởi sự kiện là, trên toàn thế giới, nhiều thánh đường đã được cung hiến cho ngài. Nhiều tu viện, nhiều huynh đoàn và nhiều nhóm Giáo Hội đã lấy ý từ tinh thần của ngài và mang tên ngài, và nhiều biểu tượng thánh đã diễn ra từ nhiều thế kỷ để tôn kính ngài. Nhiều vị thánh nam nữ đã là những người đam mê sùng kính ngài, trong đó có nữ thánh Têrêxa thành Avila, người đã nhận ngài là trạng sư và là người chuyển cầu, rất trông cậy vào ngài và nhận được tất cả các ơn phúc mà bà xin với ngài ; được khuyến khích bởi kinh nghiệm của ngài, nữ thánh đã thuyết phục những người khác sùng kính ngài ». Đức Giáo Hoàng Phanxicô là một trong những người đó.

Ngài nói thêm, và viện dẫn tổ phụ Giuse : « Sự tin tưởng của dân vào thánh Giuse được tóm tắt trong thành ngữ « ite at Joseph », « « Hãy đi tới thánh Giuse ». Một tình cha con sẽ chữa lành mỗi khi mà người ta cảm thấy bị một người cha bỏ rơi.

Thánh Giuse cũng là « Cha của lòng từ ái ». Tình cha con của ngài là một phương thuốc cho những tình cha con hung bạo hay không gần gũi, nó giúp cho khám phá ra lòng từ ái của Thiên Chúa : « Chúa Giêsu đã thấy trong thánh Giuse lòng từ ái của Thiên Chúa : « Như là lòng từ ái của người cha đối với con mình, lòng từ ái của Chúa đối với ai kính sợ Người » ».

Một người cha không đòi hỏi con cháu mình phải là siêu nhân hay anh thư và cũng không trách con cái vì những yếu hèn của chúng : « Lịch sử cứu độ hoàn tất bằng cách ‘‘hy vọng trong vô vọng’’, qua những yếu đuối của chúng ta. Chúng ta suy nghĩ quá nhiều rằng Thiên Chúa chỉ tính cái mạnh cái hay của chúng ta, trong lúc thực tế, phần lớn của các chủ định của Người được thực hiện thông qua và bất kể sự yếu hèn của chúng ta (…). Chúng ta phải học hỏi đón nhận sự yếu đuối của chúng ta với một lòng từ ái sâu đậm. Ác Thần thúc đẩy chúng ta nhìn vào sự mong manh của chúng ta với một sự xét đoán tiêu cực. Trái lại, Thánh Thần đưa nó ra ánh sáng với lòng từ ái. Lòng từ ái là cách tốt nhất để đụng tới những thứ mỏng giòn nơi chúng ta. Sự kiện soi mói và xét đoán mà chúng ta sử dụng với người khác thường là một dấu chỉ sự bất lực để đón nhận nơi chúng ta sự yếu hèn của chính chúng ta, sự mỏng giòn của chính chúng ta. Chỉ có lòng từ ái sẽ cứu thoát chúng ta ra khỏi mưu chước của Ác Thần »

Đức Giáo Hoàng mời gọi hãy làm một cuộc thí nghiệm trong bí tích Hòa Giải : « Thật là quan trọng để gặp được Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, nhất là trong Bí Tích Hòa Giải, bằng cách làm một cuộc thí nghiệm về sự thật và về lòng từ ái. Một cách mâu thuẫn, Ác Thần cũng có thể nói sự thật với chúng ta. Nhưng nếu nó nói, chính là để lên án chúng ta. Tuy nhiên chúng ta biết rằng Sự Thật đến từ Thiên Chúa không hề lên án chúng ta, mà nó đón nhận chúng ta, ôm ấp chúng ta, nâng đỡ chúng ta, tha thứ cho chúng ta. Sự thật luôn hiện ra với chúng ta như Ngưòi Cha nhân từ trong dụ ngôn ».

« Thánh Giuse dạy cho chúng ta, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh, rằng đức tin vào Thiên Chúa cũng bao gồm sự kiện là tin rằng Người có thể hành động qua cả những nỗi sợ hãi, những mỏng giòn, sự yếu đuối của chúng ta. Và ngài dạy cho chúng ta rằng, trong những cơn bão tố của cuộc đời, chúng ta đừng sợ để cho Thiên Chúa cầm lái con tầu của chúng ta. Đôi khi, chúng ta muốn kiểm soát tất cả, nhưng Người luôn nhìn xa hơn ».

Thánh Giuse là « Người Cha trong vâng phục ». Bằng một cách chữa lành tất cả những lần chúng ta phải vâng phục bạo lực chứ không phải lòng từ ái. Đức Giáo Hoàng nhắc nhở rằng thánh Giuse là người mà Thiên Chúa phán với ngài vào ban đêm, trong giấc mộng, để mặc khải cho ngài thánh ý của Người, và, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh, « nhờ vào sự vâng phục, ngài vượt khỏi thảm trạng và cứu được Đức Maria », rồi bằng vâng phục một lần thứ hai, ngài cứu Chúa Hài Đồng Giêsu và Đức Mẹ Maria thoát khỏi cơn thịnh nộ chết người của Hêrôđê. Một giấc mộng thứ ba đã bảo ông trở về từ Ai Cập và ông đã định cư với Đức Maria và Hài Nhi tại thành Nazareth.

Hơn thế nữa, Đức Maria và thánh Giuse được mô tả như là trung thành với Lề Luật « đặc biệt, Thánh Luca, chú tâm nhấn mạnh rằng cha mẹ của Chúa Giêsu tuân giữ tất cả những quy định của Lề Luật : các nghi thức cắt bì cho Chúa Giêsu, sự thanh tẩy của Đức Maria sau khi sinh nở, sự dâng tiến con trai đầu lòng cho Thiên Chúa ».

Bởi vậy, theo Đức Giáo Hoàng Phanxicô, thánh Giuse cũng là người của sự tin tưởng, của « xin vâng » : « Trong mỗi hoàn cảnh của cuộc đời ngài, thánh Giuse đã biết thưa lên câu « xin vâng » của ngài, cũng như Đức Maria vào lúc Truyền Tin, và cũng như Chúa Giêsu trong vườn Giêtsêmani ».

Hơn thế nữa, ngài dạy thái độ này cho Chúa Hài Đồng Giêsu : « Trong vai trò gia trưởng, thánh Giuse đã dạy Chúa Giêsu phải vâng phục cha mẹ mình, theo điều răn của Thiên Chúa. Trong cuộc đời ẩn dật tại Nazareth, Chúa Giêsu đã học làm theo ý Đức Chúa Cha trong trường học của thánh Giuse ».

Như thế, theo Đức Giáo Hoàng Phanxicô, « thánh Giuse ‘‘đã được ơn gọi bởi Thiên Chúa để phục vụ trực tiếp con người và sứ vụ của Chúa Giêsu bằng cách hành xử tình cha con của ngài. Đúng là bằng cách này mà ngài đã cộng tác trong sự viên mãn của thời gian với mầu nhiệm Cứu Chuộc vĩ đại và ngài thực sự là người thừa tác của ơn cứu độ’’ ».

Thánh Giuse là « Người Cha trong sự đón nhận ». Tình cha con của ngài chữa lành mọi thứ tình cha con làm bằng sự chối từ hay bỏ rơi, sự cứng rắn, sự loại trừ, thậm chí bạo lực với người phụ nữ. Một sự đón nhận vô điều kiện.

« Thánh Giuse, Đức Giáo Hoàng viết, đón nhận Đức Maria mà không hề ấn định những điều kiện tiên quyết nào. Ngài tin tưởng lời của Thiên Sứ. « Lòng cao thượng của ngài đã khiến những gì ngài học từ Lề Luật phải phụ thuộc vào lòng bác ái. Và ngày hôm nay, trên thế giới này, nơi mà bạo lực về tâm lý, trong phát ngôn và trên thân thể đối với người phụ nữ là hiển nhiên, thánh Giuse thể hiện như là hình ảnh một người đàn ông tôn trọng, tế nhị, dù cho không có thông tin đầy đủ, ngài cũng chọn lấy thanh danh, phẩm giá và sự sống của Đức Maria. Và, trong sự nghi ngờ của mình về cách tốt nhất để tiến hành, Thiên Chúa đã giúp ngài chọn lựa bằng cách soi sáng sự xét đoán của ngài’’ ». 

Theo Đức Giáo Hoàng, thánh Giuse dạy « phải làm hòa với lịch sử của mình » : « thánh Giuse gác sang một bên những lý luận của ngài để dành chỗ cho chuyện gì xẩy ra, và dù có huyền bí đến mấy dưới mắt của ngài, ngài cũng đón nhận nó, cũng đảm nhận trách nhiệm và hòa giải với lịch sử của chính mình. Nếu chúng ta không hòa giải với lịch sử của chúng ta, chúng ta sẽ không thành công bước đi bước tiếp theo, bởi vì chúng ta sẽ luôn là con tin của những kỳ vọng của chúng ta và của những thất vọng đến từ chúng ».

Hơn thế nữa, sự đón nhận của thánh Giuse dạy cho ta sự mở ra cho cái mới mẻ của đời sống sẽ đến làm đảo lộn các kế hoạch, thay vì cứng nhắc : « Sự sống thiêng liêng mà thánh Giuse cho chúng ta thấy không phải một con đường giải thích, mà là một con đường đón nhận ».

« Chính chỉ từ sự đón nhận này, sự hòa giải này, mà người ta cũng có thể hé thấy được một lịch sử to lớn hơn, một ý nghĩa sâu xa hơn », Đức Giáo Hoàng nói tiếp.

Không phải là sự cam chịu, Đức Giáo Hoàng lưu ý : « Ngài là người dấn thân một cách mạnh mẽ và can đảm. Sự đón nhận là một cách qua đó ơn sức mạnh đến với chúng ta từ Thánh Thần thể hiện trong cuộc đời chúng ta. Chỉ có Chúa mới có thể ban cho chúng ta sức mạnh để đón nhận sự sống như nó vốn là thế, để cũng nhường chỗ cho cái phần mâu thuẫn, bất ngờ, đáng thất vọng này của cuộc sống ».

Đó là con đường hòa giải được chỉ ra bởi tình cha con của thánh Giuse : « Sự ngự đến của Chúa Giêsu giữa chúng ta là một hồng ân của Chúa Cha để cho mỗi người hòa giải với da thịt của lịch sử riêng của mình, kể cả khi ngài không hiểu một cách trọn vẹn (…). Phải để sang bên sự nóng giận và sự thất vọng, và không một sự khuất phục trần thế nào, mà với một sức mạnh đầy hy vọng, để nhường chỗ cho điều mà chúng ta không hề lựa chọn và tuy vậy vẫn hiện hữu. Đón nhận như thế đời sống, dẫn đưa chúng ta vào một ý nghĩa tiềm ẩn. Đời sống của mỗi người có thể tái xuất phát một cách lạ kỳ nếu chúng ta tìm được can đảm để sống nó theo những gì Phúc Âm đã chỉ bảo chúng ta. Và bất kể mọi thứ dường như đã có một nếp xấu rồi và nhiều sự việc từ nay đã không thể tái hồi trở lại được nữa. Thiên Chúa có thể làm nẩy mầm những bông hoa mọc trên đá. Dù rằng trái tim chúng ta tố cáo chúng ta, ‘‘Người lớn hơn trái tim chúng ta và Người biết hết mọi chuyện’’ ».

Theo Đức Giáo Hoàng, « tính hiện thực Kitô giáo, vốn không loại bỏ những gì đang hiện hữu, trở lại một lần nữa. Thực tế, trong tính chất không thể rút gọn và phức tạp huyền bí của nó, mang theo một ý nghĩa của sự tồn tại với những ánh sáng và bóng tối của nó (…). Đức tin mang tới một ý nghĩa cho mọi biến cố, vui sướng hay buồn khổ ».

Không phải những « giải pháp an ủi dễ dàng », trái lại, « thánh Giuse không đi tìm những lối tắt mà đã đối đầu với ‘‘đôi mắt rộng mở’’ những gì xẩy đến cho ngài bằng cách đích thân đảm nhận trách nhiệm ».

Sau cùng, theo Đức Giáo Hoàng, « sự đón nhận của thánh Giuse mời gọi chúng ta hãy đón nhận người khác không loại trừ ai, như họ vốn như thế, với một sự ưu tiên cho những người yếu đuối bởi vì Thiên Chúa chọn kẻ yếu đuối (…). Ngài ra lệnh phải yêu thương người xa lạ ».

Thánh Giuse cũng là « Người Cha với lòng can đảm sáng tạo ». Một sự sáng tạo làm nên phép lạ… và giúp cho ơn cứu độ của Thiên Chúa đến được với mỗi người, bất kể những trắc trở do những kẻ « quyền thế » sắp đặt.

Đức Giáo Hoàng tiếp tục con đường « chữa lành nội tâm » này mà giai đoạn thứ nhất là « đón nhận lịch sử của chính mình », là « dọn chỗ trong chính chúng ta, kể cả cho những gì chúng ta đã không chọn lựa trong cuộc đời chúng ta », nhưng với lòng can đảm và sự sáng tạo : « Trước một khó khăn, người ta có thể dừng lại và bỏ cuộc, hay là người ta có thể bỏ công sức ra đối phó. Đôi khi đó là những khó khăn lấy ra trong chúng ta những tài nguyên mà cả chúng ta cũng không nghĩ rằng chúng ta có ».

« Thiên Chúa, Đức Giáo Hoàng lưu ý, can thiệp qua những biến cố và những con người » và đó là cách mà thánh Giuse thể hiện sự sáng tạo của ngài : «  thánh Giuse là con người qua đó Thiên Chúa sắp xếp những sự khởi đầu của lịch sử cứu chuộc. Ngài là ‘‘phép lạ’’ đích thực qua đó Thiên Chúa cứu Hài Nhi và Mẹ Người. Trời can thiệp bằng cách tin tưởng vào lòng can đảm sáng tạo của con người đó, con người khi tới Bêlem và không tìm được nhà trọ để Đức Maria có thể sinh nở, đã biết dọn dẹp một cái chuồng gia xúc và sắp xếp để nó trở thành nơi tốt nhất có thể, để đón tiếp Con của Thiên Chúa sinh ra trên đời. Trước nguy hiễm trước mắt của Hêrôđê đang muốn giết hại Hài Nhi, thánh Giuse được báo động, một lần nữa trong mộng, để bảo vệ Người, và ngài đã tổ chức chuyến vượt biên trốn chạy sang Ai Cập giữa đêm tối ».

Đức Giáo Hoàng đọc các biến cố và phác thảo một thần học về lịch sữ : « ‘‘Tin tốt’’ của Phúc Âm là tỏ ra làm thế nào, bất chấp sự ngạo mạn và bạo lực của những kẻ thống trị trái đất, luôn tìm được một phương tiện để thực hiện chương trình cứu độ của Người. Dù rằng cuộc đời chúng ta đôi khi bị phó mặc cho các bạo quyền. Nhưng Phúc Âm nói với chúng ta rằng, điều đáng kể, Thiên Chúa luôn có thể cứu độ với điều kiện là chúng ta có can đảm sáng tạo của người thợ mộc thành Nazareth đã biết biến đổi một vấn đề thành cơ hội, luôn tin cậy vào sự Quan Phòng của Thiên Chúa ».

Thánh Giuse là một kiểu mẫu của sự tin cậy : « Nếu đôi khi Thiên Chúa có vẻ như không giúp đỡ chúng ta, điều này không có nghĩa là Người bỏ rơi chúng ta, nhưng Người tin tưởng nơi chúng ta, Người tin tưởng vào điều mà chúng ta có thể dự kiến, sáng chế, tìm ra ». 

Đức Giáo Hoàng cũng gợi lại cuộc di tản sang Ai Cập và những kho tàng những sự tài tình được thực hiện bởi thánh Giuse để cung cấp cho những nhu cầu của gia đình non trẻ của ngài : « Thánh gia đã phải đối phó những vấn đề cụ thể như tất cả những gia đình khác, như nhiều các anh em di dân của chúng ta, ngày hôm nay họ còn phải liều mạng sống của mình, bị bắt buộc bởi những bất hạnh và nạn đói. Trên chiều hướng đó, tôi tin rằng thánh Giuse thực sự là quan thầy đặc biệt cho tất cả những người đã phải bỏ lại đất nước bởi vì chiến tranh, hận thù, bách hại và khốn cùng ».

Và chính là cho ngài mà Thiên Chúa đã giao phó các kho tàng quý báu nhất : « Chúa Giêsu và Đức Maria quả thật là kho tàng quý báu nhất của đức tin chúng ta ».

Đức Giáo Hoàng đề nghị một cuộc xét mình về điểm này : « Chúng ta luôn phải tự hỏi nếu chúng ta có bảo vệ với hết sức mình Chúa Giêsu và Đức Maria, các Đấng đã được giao phó một cách mầu nhiệm cho trách nhiệm, cho sự chăm sóc, cho sự gìn giữ của chúng ta không ? ».

Như thế Đấng canh giữ Chúa Cứu Thế và cũng là Đấng canh giữ Hội Thánh : « Thánh Giuse không thể không là Người Canh Giữ Hội Thánh, bởi vì Hội Thánh là sự nối dài của Nhiệm Thể Đức Kitô trong lịch sử, và đồng thời trong tình Mẫu Tử của Hội Thánh đã phác họa tình Mẫu Tử của Đức Maria. Thánh Giuse, khi tiếp tục bảo vệ Hội Thánh, ngài cũng tiếp tục bảo vệ Hài Nhi và Mẹ Người, và cả chúng ta nữa bằng cách yêu mến Hội Thánh, chúng ta tiếp tục yêu mến Hài Nhi và Mẹ Người ».

Hơn nữa, « mỗi người thiếu thốn, mỗi người nghèo khó, mỗi người đau khổ, mỗi người hấp hối, mỗi người khách lạ, mỗi người tù tội, mỗi người đau ốm đều là ‘‘Hài Nhi’’ mà thánh Giuse tiếp tục bảo vệ » : « Chúng ta phải học thánh Giuse những săn sóc như thế và trách nhiệm như thế : yêu thương Hài Nhi và Mẹ Người ; yêu thương các Bí Tích và lòng bác ái ; yêu thương Hội Thánh và người nghèo. Mỗi thực tế này đều luôn là Hài Nhi và Mẹ Người ».

Thánh Giuse cũng là « Người Cha lao động ». Một thông điệp với tính thời sự nóng bỏng, trong một thời đại nơi các lạm dụng xã hội hay nạn thất nghiệp đang là những vết thương xã hội : « Vào thời đại của chúng ta, trong đó việc làm dường như tiêu biểu trở lại cho một vấn đề xã hội khẩn cấp, và trong đó nạn thất nghiệp đôi khi đạt đến những tầm mức kinh khủng, kể cả trong những nước mà trải qua hàng chục năm người ta đã sống một cách sung túc nào đó, cần thiết là phải hiểu, với một ý thức mới mẻ, ý nghĩa của công ăn việc làm, nó mang đến phẩm giá mà vị Thánh của chúng ta là quan thầy gương mẫu ».

« Việc làm, Đức Giáo Hoàng lưu ý, trở thành sự tham gia vào công trình cứu độ, là dịp để làm cho Vương Quốc mau trị đến, phát triển những tiềm năng và những phẩm chất cá nhân bằng cách đưa vào phục vụ xã hội và hiệp thông. Việc làm trở thành cơ hội thực hiện, không chỉ cho cá nhân mình, mà nhất là cho cái cốt lõi tiên khởi của xã hội là gia đình. Một gia đình mà thiếu việc làm là có nguy cơ gặp những khó khăn, những căng thẳng, những rạn nứt và kể cả cám dỗ thất vọng và vô vọng của sự đổ vỡ. Làm thế nào chúng ta có thể nói đến phẩm giá con người mà lại không muốn bảo đảm, cho tất cả mọi người, khả năng có một cuộc sống xứng đáng ? ».

Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh trên ơn gọi rất cao trọng này của việc làm của con người : « Con người làm việc, bất kể nhiệm vụ của mình ra sao, cộng tác với chính Thiên Chúa và trở thành một chút sáng tạo cho thế giới bao quanh chúng ta (…). Công việc của thánh Giuse nhắc chúng ta rằng chính Thiên Chúa làm người phàm đã không chê làm việc. Sự mất đi việc làm đang giáng xuống nhiều anh chị em chúng ta, và đang gia tăng trong thời gian gần đây vì nạn đại dịch Covid-19, là một sự nhắc nhở phải duyệt lại những ưu tiên của chúng ta. Chúng ta hãy cầu xin thánh Giuse lao động để cho chúng ta có thể tìm được những con đường khiến chúng ta nói : không người trẻ nào, không con người nào, không gia đình nào là không có việc làm ! ».

Ghi chú cuối cùng về tình cha con của thánh Giuse : « Người Cha trong bóng tối ». Bóng của Cha trên trời, gần gũi, êm dịu và làm yên lòng. Đủ để nhẹ nhàng  chữa lành tất cả những biến thái của con người về tình cha con. Một tình cha con suốt cả đời, « dạy dỗ » theo nghĩa cao quý nhất và vô vị lợi nhất. Tuy nhiên tình phụ tử đó không mang tính chiếm đoạt hay bóp nghẹt.

Đức Giáo Hoàng viện dẫn cuốn sách của Jan Dobraczynski Cái bóng người Cha, một cuốn tiểu thuyết về cuộc đời của thánh Giuse : « Ông xác định hình ảnh của thánh Giuse vốn là cái bóng trên thế gian của Cha Trên Trời đối với Chúa Giêsu ». Ngài gìn giữ Người, che chở Người, không bao giờ rời xa Người để đi theo chân Người. Chúng ta hãy nghĩ đến điều mà ông Môsê nhắc cho dân Israel : « Anh em cũng đã thấy Người trong sa mạc : Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, mang anh em như một người cha mang con mình ». Chính như thế mà thánh Giuse đã hành xử tình cha con trong suốt cuộc đời của ngài ».

Đức Giáo Hoàng nói về « trách nhiệm về sự sống « : « Người ta không sinh ra đã làm cha ngay, người ta trở thành cha. Và người ta không chỉ trở thành cha bởi vì người ta sinh ra một đứa con, mà vì người ta chăm sóc nó một cách có trách nhiệm. Mỗi lần mà có ai đảm đang phần trách nhiệm về sự sống của một người khác, trong một ý nghĩa nào đó, tức là người này hành xử tình cha con đối với kẻ đó ».

Một sự chữa lành đối với kẻ cảm thấy mình mồ côi đã khiến Đức Giáo Hoàng ghi nhận : « Trong xã hội thời đại chúng ta, các trẻ em dường như hay bị mồ côi cha. Kể cả Hội Thánh ngày hôm nay cũng cần những người cha (…). Là người cha có nghĩa đưa dẫn đứa con vào với kinh nghiệm của cuộc đời, đi vào thực tế. Đừng ngăn cản nó, đừng tù hãm nó, đừng quá chiếm hữu nó, nhưng phải cho nó có khả năng chọn lựa, khả năng tự do, khả năng ra đi ».

Đức Giáo Hoàng giải thích rằng nhân đức đáng được đề cập chính là nhân đức « trinh khiết ». Bên cạnh danh từ cha, truyền thống đã tặng danh hiệu « rất trinh khiết » cho thánh Giuse. Đây không chỉ là một sự biểu hiện tình cảm, mà đó là sự tổng hợp của một thái độ biều lộ sự trái ngược với chiếm hữu. Đức trinh khiết là sự kiện giải thoát ra khỏi sự chiếm hữu trong mọi lãnh vực của đời sống. Chỉ khi nào một tình yêu được trinh khiết thì đó mới là tình yêu thật sự. Tình yêu mà chỉ muốn chiếm hữu, cuối cùng luôn trở thành nguy hiểm, nó giam hãm, bóp nghẹt là làm cho đau khổ. Chính Thiên Chúa đã thương yêu con người với một tình yêu khiết tịnh, bằng cách để cho con người được tự do, kể cả tự do lầm lạc và tự do phản lại Người. Lôgíc của tình yêu luôn là một thứ lôgíc của tự do, và thánh Giuse đã biết yêu mến một cách tự do phi thường. Ngài không bao giờ đặt mình vào trung tâm. Ngài đã biết chuyển mình ra khỏi trọng tâm và đặt Đức Maria và Chúa Giêsu vào trung tâm cuộc đời của ngài.

Đức Giáo Hoàng cảnh báo, vấn đề không phải là những ghi chép khổ hạnh hay « hy sinh », nhưng là những ghi chép « hạnh phúc » và « hiến thân » : « Hạnh phúc của thánh Giuse không nằm trong lôgíc hy sinh bản thân, nhưng là sự hiến tặng bản thân. Người ta không bao giờ ghi nhận nơi con người đó sự thất vọng, nhưng chỉ ghi nhận lòng tin tưởng. Sự im lặng bền vững của ngài không chứa đựng những than vãn nhưng luôn chứa đựng những cử chỉ cụ thể của tin tưởng. Thế giới cần những người cha, nó từ chối các thủ lãnh, nó từ chối kẻ muốn sử dụng sự chiếm hữu người khác để lấp đầy cái trống rỗng của riêng mình ; nó từ chối những kẻ lầm lẫn uy quyền với độc tài, phục vụ với nô lệ, đối chất với đàn áp, bác ái với trợ cấp, sức mạnh với tàn phá. Tất cả ơn gọi thực sự sinh ra từ sự hiến thân vốn là sự trưởng thành của sự hy sinh đơn giản ».

Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh rằng tất cả cuộc đời tận hiến được kêu gọi đến với cái « trưởng thành » này : « Loại trưởng thành này được yêu cầu ngay cả trong thiên chức linh mục và trong đời sống thánh hiến. Ở đâu mà một ơn gọi hôn nhân, độc thân hay trinh tiết không đi tới sự trưởng thành của sự hiến mình bằng cách chỉ dừng lại ở cái lôgíc của sự hy sinh, lúc đó, thay vì được coi là dấu hiệu của nét đẹp và của niềm vui của tình yêu, nó có nguy cơ biểu lộ sự bất hạnh, buồn bã và thất vọng ».

Người ta biết rằng Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã suy nghĩ rất nhiều về chủ đề giáo dục. Đây là một chứng minh mới : « Tình cha con khi từ chối cám dỗ sống cuộc đời của con cái, luôn mở rộng ra những không gian chưa từng thấy. Mỗi đứa con luôn mang trong mình một huyền bí, một sự chưa từng thấy, nó chỉ có thể bộc lộ với sự giúp đỡ của một người cha tôn trọng tự do của nó. Một người cha vốn ý thức bổ túc hành động giáo dục và sống đầy đủ tình cha con chỉ khi người cha đó tự coi mình là ‘‘vô dụng’’ khi người cha đó thấy rằng con cái tự chủ và có thể một mình bước đi trên đường đời, khi người cha đó đặt mình vào trong hoàn cảnh của thánh Giuse, người luôn biết rằng Người Con đó không phải là con ruột của mình, mà chỉ đuợc gửi gấm cho sự chăm sóc của mình mà thôi ».

« Mỗi lần chúng ta ở vào tình trạng phải hành xử quyền làm cha, Đức Giáo Hoàng căn dặn, chúng ta luôn phải nhớ rằng không bao giờ được hành xử quyền chiếm hữu, nhưng phải là một ‘‘dấu chỉ’’ để hướng đến một tình cha con cao trọng hơn. Bằng cách nào đó, chúng ta tất cả luôn trong hoàn cảnh của thánh Giuse : một cái bóng của Chúa Cha duy nhất trên trời, Đấng « làm cho mặt trời mọc lên trên cả kẻ dữ lẫn người lành, và làm mưa xuống trên cả những người công chính lẫn những kẻ bất lương » ; và một cái bóng đi theo Chúa Con ».

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

“Avec un coeur de père” ou l’Evangile de la paternité selon saint Joseph – ZENIT – Francais

 399 khách đã đọc bài này
This entry was posted in Chưa được phân loại. Bookmark the permalink.