Diễn văn của ĐGH Phanxicô tại cuộc gặp gỡ các Quốc Gia Tiên Khởi, các Người Lai và Người Inuit bản địa

« Tôi đến đây trên các vùng đất quê hương của quý anh chị em để đích thân tôi nói lên với quý anh chị em sự đau đớn của tôi đến chừng nào, để cầu xin Thiên Chúa sự tha thứ, sự chữa lành và sự hòa giải, để thể hiện với quý anh chị em sự gần gũi của tôi, để cầu nguyện cùng với quý anh chị em và cho quý anh chị em ».

JUILLET 26, 2022 08:40 PAPE FRANCOISEGLISES LOCALESPAPE FRANÇOIS

Cuộc gặp gỡ với các Dân Bản Địa tại Maskwacis

Phòng Báo Chí Tòa Thánh, bản tin s. 0556, ngày thứ hai 25/7/2022 

Kính thưa bà Toàn Quyền,
Kính thưa ngài Thủ Tướng,
Các dân tộc bản địa thân mến của Maskwacis và của vùng đất Canada này,
Quý anh chị em thân mến,

Tôi đã chờ đợi giây phút này để được ở giữa quý anh chị em. Chính từ đây, từ cái nơi gợi nhớ sự đau buồn, mà tôi muốn bắt đầu những điều đã ám ảnh tâm hồn tôi : một cuộc hành hương đền tội. Tôi đến đây trên các vùng đất quê hương của quý anh chị em để đích thân tôi nói lên với quý anh chị em sự đau đớn của tôi đến chừng nào, để cầu xin Thiên Chúa sự tha thứ, sự chữa lành và sự hòa giải, để thể hiện với quý anh chị em sự gần gũi của tôi, để cầu nguyện cùng với quý anh chị em và cho quý anh chị em

Tôi còn nhớ những buổi gặp gỡ ở Rôma cách đây 4 tháng. Người ta đã tặng tôi hai đôi giầy da mộc của người da đỏ, dấu hiệu của sư đau khổ mà các trẻ em bản địa đã phải chịu đựng, nhất là những em, đáng tiếc, đã không bao giờ còn trở về nhà từ các trường nội trú nữa. Người ta đã yêu cầu tôi trả lại đôi giầy da mộc đó khi nào tới Canada ; tôi sẽ làm điều này vào cuối bài diễn văn của tôi, tôi đã được gợi hứng bởi chính biểu tượng này đã làm sống dậy trong tôi sự đau đớn, sự phẫn nộ và sự hổ thẹn trong những tháng vừa qua. Ký ức về các trẻ em này dấy lên một nỗi đau và thúc đẩy hành động để mỗi đứa trẻ đều được đối xử với lòng yêu thương, với niềm danh dự và sự tôn trọng. Nhưng đôi giầy da mộc cũng nói với chúng ta về một hành trình, một hành trình mà chúng ta muốn cùng nhau bước đi. Cùng nhau bước đi, cùng nhau cầu nguyện, cùng nhau làm việc, để những đau khổ của quá khứ  nhường chỗ cho một tương lai của công lý, của sự chữa lành của của hòa giải.

Bởi vậy, chặng đầu cuộc hành hương của tôi giữa quý anh chị em diễn ra trong vùng này, đã chứng kiến, từ những thời xa xưa, sự hiện diện của các dân tộc bản địa. Đây là vùng đất biết nói với chúng ta, biết cho phép chúng ta nhớ lại.

Nhớ lại : quý anh chị em thân mến, quý anh chị em đã sống trên vùng đất này từ hàng ngàn năm nay theo những kiểu sống tôn trọng đất đai này, được kế thừa từ các thế hệ đã qua và gìn giữ cho những thế hệ tương lai. Quý anh chị em đã đối xử với nó như một món quà của Đấng Tạo Hóa để chia sẻ với những người khác và để yêu mến một cách hài hòa với tất cả những gì hiện hữu, trong một mối quan hệ sống lẫn nhau giữa các sinh vật. Như thế, quý anh chị em đã học hỏi được cách nuôi dưỡng một ý nghĩa về gia đình và cộng đồng, và quý anh chị em đã triển khai những dây liên lạc vững chắc giữa các thế thệ, bằng cách tôn kính những người già cả và bằng cách chăm lo cho các trẻ em. Biết bao những tập tục và giáo huấn tốt đẹp, tập trung vào sự quan tâm đến người khác và đến lòng yêu chuộng sự thật, đến lòng can đảm và sự tôn trọng, đến lòng khiêm nhượng và sự lương thiện, đến sự khôn ngoan của cuộc sống.

Nhưng, nếu đó là những bước đầu phải thực hiện trên đất đai này, thật buồn là ký ức dẫn chúng ta đến nhũng bước tiếp theo. Nơi mà chúng ta đang ở hiện nay làm vang lên trong lòng tôi một tiếng kêu đau đớn, một tiếng kêu bị bóp ngạt đã đeo đuổi tôi trong những tháng gần đây. Tôi nghĩ lại thảm kịch mà nhiều người trong quý anh chị em, các gia đình của quý anh chị em, các cộng đồng của quý anh chị em phải gánh chịu ; tới những điều quý anh chị em đã kể với tôi về những đau khổ phải chịu đựng trong các trường nội trú. Đó là những chấn thương, mà bằng cách nào đó, sẽ xuất hiện trở lại mỗi lần được nhắc tới và tôi nhận ra rằng kể cả cuộc gặp gỡ của chúng ta ngày hôm nay cũng có thể làm thức dậy những ký ức và những vết thương, và nhiều người trong quý anh chị em có thể gặp những khó khăn vào lúc mà tôi nói đến. Nhưng thật là chính đáng phải nhắc lại, bởi vì sự lãng quên dẫn đến sự vô cảm, và như người ta đã nói, « phản nghĩa của tình yêu không phải là hận thù, mà là sự vô cảm […], phản nghĩa với sự sống không phải là sự chết, nhưng là sự thờ ơ đối với sự sống hay với sự chết » (E. WIESEL). Nhớ lại những kinh nghiệm tàn khốc đã diễn ra trong các trường nội trú đánh động chúng ta, khiến chúng ta xúc động, bị xúc phạm và làm cho chúng ta cảm thấy đau lòng, nhưng điều đó là cần thiết.

Cần thiết là phải nhắc tới các chính sách đồng hóa và giải phóng, bao gồm cả hệ thống các trường học nội trú, đã mang tính cách tàn phá đến mức độ nào đối với các cư dân của các vùng đất này. Khi những người di dân Âu Châu lần đầu đến đây, đã có cái cơ hội lớn lao để triển khai một cuộc gặp gỡ sung mãn giữa các nền văn hóa, các truyền thống và tâm linh. Nhưng ở mức độ rộng lớn, điều đó đã không xẩy ra. Và những câu chuyện của quý anh chị em đã hiện ra lại trong tâm trí của tôi : làm sao mà các chính sách đồng hóa có thể gạt các dân tộc bản địa ra ngoài lề xã hội một cách có hệ thống ; cũng vậy, làm sao mà thông qua hệ thống trường nội trú, các ngôn ngữ và văn hóa của quý anh chị em đã bị bôi nhọ và bị hủy bỏ ; làm sao mà các trẻ em đã phải chịu những lạm dụng thế chất và lời nói, tâm lý và tinh thần ; làm sao mà các em đã bị cướp đi ra khỏi gia đình của các em khi chúng còn bé bỏng và làm sao mà những điều đó đã hằn sâu dấu ấn không thể xóa nhòa lên quan hệ giữa cha mẹ và con cái, giữa ông bà và các cháu.

Tôi cảm ơn quý anh chị em đã làm cho tôi được đi vào giữa tất cả những điều này, đã có thể trút bỏ được gánh nặng mà quý anh chị em vẫn mang trong lòng, đã chia sẻ với tôi kỷ niệm thống thiết này. Ngày hôm nay, tôi ở nơi này, trên một vùng đất còn mang, cùng với một ký ức của cha ông, những vết sẹo của các thương tích còn chưa lành. Tôi ở nơi này bởi vì chặng đầu tiên của chuyến hành hương đền tội này giữa quý anh chị em là phải nhắc lại lời xin tha thứ và nói với quý anh chị em, với hết lòng mình, rằng tôi vô cùng đau buồn : tôi xin tha thứ vì phong cách mà, đáng tiếc, nhiều người Kitô hữu đã ủng hộ tâm tư thực dân của những cường quốc đã đàn áp các dân tộc bản địa. Tôi đau buồn. Tôi cầu xin tha thứ, cách riêng, vì phong cách mà nhiều thành viên của Hội Thánh và những cộng đoàn tu sĩ đã cộng tác, dù chỉ là bởi sự thờ ơ, với những dự án phá hoại văn hóa và đồng hóa bằng vũ lực của các chính quyền thời đó, vốn đã dẫn tới các trường học nội trú.

Mặc dù tổ chức bác ái Kitô giáo đã hiện diện và đã có nhiều trường hợp gương mẫu tận tâm với trẻ em, những hậu quả chung của các chính sách gắn liền với các trường nội trú quả là tai hại. Điều mà đức tin Kitô giáo dạy chúng ta, đó là một sai lầm mang tính hủy  hoại, không phù hợp với Phúc Âm của Chúa Giêsu Kitô. Thật là đau buồn khi biết rằng nền tảng vững chắc của các giá trị, của ngôn ngữ và văn hóa, đã từng cống hiến cho các dân tộc của quý anh chị em một ý thức về bản sắc, đã bị soi mòn, và quý anh chị em vẫn tiếp tục hứng chịu các hậu quả. Trước điều ác gây phẫn nộ này, Hội Thánh sấp mình trước Thiên Chúa và cẩu khẩn sự tha thứ các tội lỗi của con cái Người (x. THÁNH GIOAN PHAOLÔ II, Sắc chỉ Incarnationis mysterium [29/11/1998], s.11 : AAS [1999], trg. 140). Tôi hổ thẹn muốn nhắc lại một cách rõ ràng : tôi khiêm tốn cầu xin sự tha thứ cho điều ác đã vi phạm bởi nhiều Kitô hữu đối với các dân tộc bản địa.

Quý anh chị em thân mến, nhiều người trong quý anh chị em và trong các đại biểu của anh chị em đã khẳng định rằng xin tha thứ chưa phải là chấm hết. Tôi hoàn toàn đồng ý : đó chỉ là chặng đường đầu tiên, là điểm xuất phát. Tôi cũng ý thức rằng, « xét về quá khứ, những gì người ta có thể làm để xin tha thứ và đền bù thiệt hại đã bị gây ra sẽ không bao giờ đủ » và rằng, « xét về tương lai, không được bỏ sót điều gì để phát huy một nền văn hóa có khả năng không chỉ làm sao cho những tình trạng tương tự không tái diễn nữa mà còn phải để cho những tình huống đó không tìm được những điều kiện thuận lợi để bị che dấu và kéo dài » (Thư gửi Dân Thiên Chúa, ngày 20/8/2018). Một phần quan trọng của tiến trình này là tiến hành một cuộc nghiên cứu nghiêm túc về sự thật của quá khứ và giúp cho những ngưởi sống sót của các trường nội trú có được những hành trình chữa lành cho những chấn thương đã chịu đựng.

Tôi cầu nguyện và hy vọng rằng các Kitô hữu và xã hội của vùng đất này sẽ lớn lên trong khả năng của mình để đón nhận và tôn trọng bản sắc và kinh nghiệm của các dân tộc bản địa. Tôi hy vọng rằng những phương tiện cụ thể sẽ được tìm thấy để nhận biết và trân quý chúng, bằng cách học hỏi cùng nhau tiến lên. Về phần tôi, tôi sẽ tiếp tục khuyến khích sự dấn thân của mọi người công giáo đối với các dân tộc bản địa. Tôi đã làm chuyện này nhiều lần ở nhiều nơi, qua những cuộc gặp gỡ, những lời kêu gọi và kể cả một Tông Huấn. Tôi biết rằng điều này đòi hỏi thời gian và sự kiên nhẫn : đó là những tiến trình phải chinh phục trái tim chúng ta. Sư hiện diện của tôi nơi đây và sự cam kết của các giám mục Canada chứng tỏ ý chí tiến tới trên đường hướng này.

Các bạn thân mến, chuyến hành hương này kéo dài trong ít ngày và sẽ đến những nơi rất cách xa nhau, tuy nhiên, nó sẽ không cho phép tôi thỏa mãn nhiều nơi yêu cầu tôi tới thăm như các trung tâm Kamloops, Winnipeg, những địa điểm tại Saskatchewan, ở Yukon hay ở các Vùng Đất Tây-Bắc. Dù là không thể thực hiện, xin quý anh chị em biết cho rằng tất cả quý anh chị em đều ở trong tư tưởng và trong kinh nguyện của tôi. Xin quý anh chị em hiểu cho rằng tôi biết rõ những đau khổ, những chấn thương và những thách thức của các dân tộc bản địa trong mọi vùng của đất nước này. Những lời tôi nói trên suốt cuộc hành trình đền tội này được gửi tới tất cả các cộng đồng và tới tất cả mọi người dân bản địa, mà tôi hết lòng yêu quý.

Với chặng đầu tiên này, tôi đã muốn dành cho ký ức. Ngày hôm nay, tôi ở nơi đây để nhớ đến quá khứ, để khóc với quý anh chị em, để im lặng nhìn xuống đất và để cầu nguyện trên những nấm mồ. Chúng ta hãy để cho sự thinh lặng giúp cho tất cả chúng ta dồn nén nỗi đau vào trong lòng. Thinh lặng. Và cầu nguyện : đối mặt với điều ác, chúng ta hãy cầu nguyện Chúa của điều thiện và đối mặt với sự chết, chúng ta hãy cầu nguyện Thiên Chúa của sự sống. Chúa Giêsu Kitô đã làm cho một ngôi mộ, vốn là ngõ cụt của hy vọng, trước nó tất cả mọi ước mơ đều tan biến và ở đó chỉ còn tiếng khóc than, sự đau đớn và sự cam chịu, Người đã biến ngôi mộ đó thành cái nơi của sự tái sinh, của sự sống lại, từ đó xuất phát một câu chuyện của cuộc sống mới và của sự hòa giải phổ quát. Các nỗ lực của chúng ta không đủ để chữa lành và hòa giải, chúng ta cần có ân sủng của Người : chúng ta cần sự khôn ngoan dịu dàng và mạnh mẽ của Thánh Thần, cần sự dịu dàng của Đấng An Ủi. Cầu xin Người lấp đầy những chờ đợi của trái tim chúng ta. Cầu xin Người hãy nắm lấy tay chúng ta. Cầu xin Người làm cho chúng ta cùng nhau tiến bước.

[01124-FR.01] [Bản gốc : tiếng Tây Ban Nha]

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Discours du pape François lors de la rencontre avec les Premières nations, les Métis et les Inuits autochtones – ZENIT – Francais

 14 khách đã đọc bài này
This entry was posted in Chưa được phân loại. Bookmark the permalink.