ĐGH Phanxicô đả kích « tâm lý âm mưu »

Bài huấn đức trong thánh lễ cho Ngày Thế Giới Người Nghèo

NOVEMBRE 14, 2022 19:34 HÉLÈNE GINABATPAPE FRANÇOIS

Đền Thánh Phêrô – Ngày Thế Giới Người Nghèo, 13/11/2022

« Nếu lịch sử loài người giăng mắc nhiều biến cố thảm khốc, nhiều hoàn cảnh đau thương, nhiều cuộc chiến tranh, nhiều cuộc cách mạng và nhiều thiên tai, thì cũng thật sự – Chúa Giêsu phán – tất những thứ đó không phải là chung cục » : đó là điều mà ĐGH Phanxicô đã khẳng định, qua đó, ngài đả kích « tâm lý âm mưu » trong đó « Thần Khí của Chúa không hiện diện ».

ĐGH Phanxicô đã ban bài huấn đức trong thánh lễ ngày chúa nhật 13/11/2022, Ngày Thế Giới Người Nghèo, trong Đền Thánh Phêrô. Lấy ra từ bài Phúc Âm trong ngày, nói về Chúa Giêsu mời gọi những người nghe Người hãy đọc kỹ các biến cố rối loạn của thời đại họ « với con mắt đức tin », Đức Giáo Hoàng đã nhấn mạnh về tầm quan trọng phải « biết phân định thời đại chúng ta đang sống », nhằm để « luôn là các môn đệ của Tin Mừng dù là ở giữa những xáo trộn của lịch sử ».

Người Kitô hữu, ĐGH Phanxicô tuyên bố, không để mình bị « lạc » cũng không để mình bị « tê liệt bởi sự sợ hãi » và không để bị thua với « chủ nghĩa chủ bại », mà phải tự hỏi : « Chúa phán dạy chúng ta điều gì bằng cuộc thế chiến thứ ba » và « tôi có thể làm điều gì tốt ? ». Quả là, vị Giáo Hoàng Dòng Tên 85 tuổi này đã nhấn mạnh, có khả năng làm điều gì tốt từ những hoàn cảnh của đời sống là « một nghệ thuật đẹp mang tính đặc trưng Kitô giáo ».

Trong Ngày Thế Giới Người Nghèo này, ĐGH Phanxicô đã nhắc nhở là người nghèo là những « nạn nhân bị thiệt thòi nhiều nhất » trong mọi cuộc khủng hoảng. Ngài đã khuyến dụ hãy « nắm bắt cơ hội » để « làm chứng » và để đấu tranh nhằm « nói cho lịch sử này biết rằng chúng ta đang sống với bộ mặt khác ». Và ngài mời gọi « hãy nhận biết Đền Thờ Thiên Chúa đích thực nơi con người, đặc biệt là người nghèo, trong khuôn mặt của họ, trong lịch sử của họ, trong những vết thương của họ có Chúa Giêsu ».

Bài huấn đức của ĐGH Phanxicô

Trong lúc một số người nói về vẻ đẹp bề ngoài của Đền Thánh và chiêm ngưỡng những tảng đá của đền, Chúa Giêsu đã thức tỉnh sự chú ý của họ về những biến cố hỗn loạn và thảm khốc đánh dấu lịch sử loài người. Quả vậy, trong lúc mà đền thánh được xây cất bởi bàn tay con người sẽ biến đi, như mọi sự trên thế gian này, quan trọng là phải biết phân định thời đại chúng ta đang sống, để luôn là những môn đệ của Phúc Âm kể cả giữa những hỗn loạn của lịch sử.

Và, để chỉ cho chúng ta con đường phân định, Chúa ban cho chúng ta hai lời khuyên : anh em đừng để bị lừa và hãy làm chứng.

Điều đầu tiên mà Chúa Giêsu nói với những người nghe Người, đang bận tâm về « khi nào » và « như thế nào » thì xẩy ra những biến cố đáng sợ mà Người đã phán, là : « Anh em hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt. Vì sẽ có nhiều người mạo danh Thầy đến nói rằng : « Chính ta đây » và : « Thời kỳ đã đến gần ». Anh em chớ có theo họ ! » (Lc 21,8). Và Người phán thêm : « Khi anh em nghe có chiến tranh, loạn lạc, thì đừng sợ hãi » (c.9). Và điều này vào lúc này rất đúng với chúng ta. Như thế, Chúa Giêsu muốn giải thoát chúng ta ra khỏi sự lừa gạt nào ? Từ cám dỗ biết được những sự kiện thảm khốc nhất bằng cách mê tín hay thảm họa, như thể chúng ta bây giờ đã gần với tận thế và không cần phải tốn công dấn thân vào những gì là thiện ích nữa. Nếu chúng ta nghĩ theo cách này, chúng ta sẽ để cho mình bị hướng dẫn bởi sự sợ hãi, và có lẽ lúc đó chúng ta đi tìm những lời giải đáp với một sự tò mò bệnh hoạn trong những con vịt của các pháp sư hay những bói toán tử vi, vốn không bao giờ thiếu – và ngày hôm nay có nhiều người Kitô hữu đi gặp những pháp sư, họ tìm đọc những trang tử vi như thể đó là tiếng nói của Thiên Chúa – ; Hoặc là, một lần nữa, chúng ta dựa vào những lý thuyết bông lông được cống hiến bởi một số « cứu tinh » của giờ thứ hai mươi lăm, thường luôn là những kẻ chủ bại và những lý thuyết gia âm mưu – thậm chí cả môn tâm lý mưu phản cũng xấu xa, nó làm hại chúng ta – Ở những nơi sau đây, không có Thần Khí của Chúa : không có trong sự tìm kiếm các « giáo chủ », cũng không trong tinh thần mưu phản ; không có Chúa ở đó. Chúa Giêsu cảnh báo cho chúng ta : « Anh em đừng để mình bị làm lóa mắt bởi một sự tò mò dễ tin, anh em đừng đối đầu với những biến cố trong lúc bị thúc đẩy bởi sự sợ hãi, mà hãy học phân tích những biến cố với đôi mắt của đức tin, chắc chắn gần gũi với Thiên Chúa, « Nhưng dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng sẽ không bị mất đâu » (c.18).

Nếu lịch sử loài người giăng mắc nhiều biến cố thảm khốc, nhiều hoàn cảnh đau thương, nhiều cuộc chiến tranh, nhiều cuộc cách mạng và nhiều thiên tai, thì thật sự – Chúa Giêsu phán – tất cả những thứ đó không phải là chung cục (x. c.9). Đó không phải là một lý do để mình bị tê liệt vì sợ hãi hay nhượng bộ trước chủ nghĩa chủ bại của những người nghĩ rằng mọi sự tiêu tan cả rồi, và không cần phải dấn thân cho cuộc sống nữa. Người môn đệ của Chúa không để mình bị teo lại bởi sự cam chịu, không nhượng bộ trước sự nản lòng kể cả trong những hoàn cảnh khó khăn nhất, bởi vì Thiên Chúa của người đó là Thiên Chúa của sự phục sinh và của hy vọng, Đấng luôn trổi dậy : Với Người chúng ta luôn có thể ngước mắt lên, làm lại từ đầu và xuất phát lại. Như thế, người Kitô hữu tự hỏi trước thử thách, bất kỳ thử thách nào, văn hóa, lịch sử, cá nhân : « Qua thời điểm khủng hoảng này, Chúa phán điều gì với chúng ta ? ». Ngày hôm nay, tôi cũng đặt câu hỏi này : Chúa phán điều gì với chúng ta qua cuộc thế chiến thứ ba này ? Chúa phán điều gì với chúng ta ? Và, trong lúc xẩy ra những biến cố xấu gieo rắc nghèo khó và đau khổ, người Kitô hữu tự hỏi : « Cụ thể tôi có thể làm được điều gì tốt ? ». Không bỏ chạy, tự đặt câu hỏi, Chúa muốn phán với tôi điều gì, tôi có thể làm được điều gì tốt ?

Không phải ngẫu nhiên mà điều khuyến dụ thứ hai của Chúa Giêsu đến ngay sau đó « Anh em hãy coi chừng kẻo bị lường gạt », là tích cực. Người phán « Đó là cơ hội để anh em làm chứng cho Thầy » (c. 13). Cơ hội để làm chứng.  Tôi muốn nhấn mạnh từ ngữ đẹp này : cơ hội. Nó có nghĩa là có khả năng làm chuyện gì đó tốt từ những hoàn cảnh của đời sống, kể cả khi những hoàn cảnh đó không lý tưởng. Đó là một nghệ thuật điển hình Kitô giáo : không chịu là nạn nhân của điều gì đã xẩy ra, – người Kitô hữu không là nạn nhân và tâm lý nạn nhân hóa là xấu, nó có hại – nhưng nắm bắt cơ hội được che dấu trong tất cả những gì xẩy ra cho chúng ta, cái tốt là có thể – cái tốt ít ỏi này có thể thực hiện được -, và cũng xây dựng từ những hoàn cảnh tiêu cực. Mọi cuộc khủng hoảng là một cơ hội và cống hiến những cơ hội phát triển. Bởi vì mọi khủng hoảng đều được mở ra cho sự hiện diện của Thiên Chúa, cho sự hiện diện của nhân loại. Nhưng ác thần làm gì chúng ta ? Nó muốn rằng chúng ta biến đổi khủng hoảng thành tranh chấp, và sự tranh chấp luôn bị khép kín, không có chân trời và không có lối ra. Không. Chúng ta hãy sống khủng hoảng với tư cách là những con người, với tư cách là các Kitô hữu, đừng biến nó thành tranh chấp vì mọi khủng hoảng là một khả năng và cống hiến một cơ hội phát triển. Chúng ta nhận thấy chuyện này khi chúng ta ôn lại lịch sử cá nhân : trong cuộc sống, thường thì những bước tiến quan trọng nhất lại được thực hiện từ bên trong của một số khủng hoảng, một số cảnh huống thử thách, mất kiểm soát, bất an. Và lúc đó, chúng ta hiểu được lời mời gọi mà Chúa Giêsu ngày hôm nay gửi trực tiếp đến tôi, đến anh, đến mỗi người chúng ta : trong khi anh thấy chung quanh anh những sự kiện hỗn loạn, trong lúc dấy lên các cuộc chiến và những tranh chấp, trong lúc xẩy ra các trận động đất, nạn đói và dịch bệnh, anh thì anh làm gì ? Tôi thì tôi làm gì ? Anh đãng trí để không nghĩ tới đó sao ? Anh vui chơi để không liên lụy sao ? Anh đi con đường thế tục, con đường để không đụng đến tay, để không tha thiết tới những tình huống bi thảm sao ? Anh quay mặt đi để khỏi nhìn thấy sao ? Anh thích nghi, khuất phục và cam phận, với những gì xẩy ra sao ? Hay những tình huống đó trở thành những cơ hộ để làm chứng cho Phúc Âm ? Hôm nay mỗi người trong chúng ta phải tự hỏi trước biết bao thiên tai, trước cuộc thế chiến thứ ba hung bạo này, trước nạn đói của bao trẻ em, của bao nhiêu người : liệu tôi có thể phí phạm không, phí phạm tiền bạc, phí phạm đời mình, phí phạm ý nghĩa của cuộc đời mình mà không có lấy can đảm và tiến bước không ?

Thưa quý anh chị em, trong Ngày Thế Giới Người nghèo, Lời của Chúa Giêsu là một cảnh báo mạnh mẽ để đập tan cái bệnh điếc nội tâm mà tất cả chúng ta đều có, và nó ngăn cản chúng ta nghe được tiếng kêu đau đớn bị tắt nghẹn của những người yếu đuối nhất. Ngày hôm nay nữa, chúng ta đang sống trong những xã hội bị thương tích và chúng ta chứng kiến, như Phúc Âm đã nói , những cảnh bạo lực, – chỉ cần nghĩ đến sự độc ác mà dân tộc Ukraina đang chịu đựng – những cảnh bất công và bách hại. Hơn nữa, chúng ta phải đối mặt với cuộc khủng hoảng gây ra bởi sự biến đổi khí hậu và nạn đại dịch, chúng đã để lại vết hằn sâu của đau khổ không chỉ trên mặt thể lý, mà còn trên mặt tâm lý, kinh tế và xã hội. Ngày hôm nay nữa, thưa quý anh chị em, chúng ta thấy sự kiện dân tộc này đứng lên chống dân tộc kia và chúng ta lo ngại khi chứng kiến sự lan rộng kịch liệt của các cuộc tranh chấp, chứng kiến sự bất hạnh của chiến tranh đang gây ra chết chóc cho bao người vô tội và làm gia tăng nọc độc của hận thù. Ngày hôm nay nữa, hơn ngày hôm qua rất nhiều, nhiều anh chị em, bị thử thách và nản lòng, đã phải di cư đi tìm hy vọng, và nhiều người phải sống trong tình trạng bấp bênh, tạm bợ vì lý do không có việc làm hay vì lý do những điều kiện làm việc bất công và bất xứng. Và ngày hôm nay nữa, người nghèo là những nạn nhân bị thiệt thòi nhất của mọi cơn khủng hoảng. Nhưng, nếu trái tim chúng ta bị bóp ngẹn và thờ ơ, chúng ta không thể nghe được tiếng kêu yếu ớt của họ, không thể khóc than cùng với họ và cho họ, không thể nhìn thấy biết bao cô đơn và lo sợ đang ẩn nấp ngay trong những xó xỉnh bị bỏ quên trong chính thành phố của chúng ta. Cần phải đi đến những ngóc ngách của các thành phố, những ngóc ngách kín đáo và đen tối đó : ở đó, ta thấy nhiều những sự khốn khổ và nhiều sự đau đớn, và nhiều sự nghèo khó đang bị bỏ rơi.

Chúng ta hãy lấy lời mời gọi mạnh mẽ và rõ ràng của Phúc Âm làm của mình là đừng để bị lường gạt. Chúng ta đừng nghe những tiên tri loan báo tai họa ; chúng ta đừng để bị mê hoặc bởi những mỹ nhân ngư của chủ nghĩa dân tuý, nó công cụ hóa những nhu cầu của nhân dân bằng cách đề nghị những giải pháp quá dễ dàng và quá vội vã. Chúng ta đừng đi theo những « cứu tinh » giả, họ thường nhân danh lợi nhuận, tuyên bố những công thức chỉ làm gia tăng sự giầu có của một số ít người, đầy đọa người nghèo ra bên lề xã hội. Trái lại, chúng ta hãy làm chứng : chúng ta hãy thắp lên những ánh sáng của hy vọng ở giữa vùng đen tối ; chúng ta hãy nắm bắt, trong những cảnh huống thảm thương, những cơ hội để làm chứng cho Phúc Âm của sự vui mừng và xây dựng một thế giới huynh đệ, ít là một chút tình huynh đệ hơn trước ; chúng ta hãy dấn thân với lòng can đảm vì công lý, vì sự bình đẳng và vì hòa bình, luôn ở bên cạnh những người yếu đuối nhất. Chúng ta đừng bỏ chạy để tự bảo vệ trước lịch sử, nhưng hãy đấu tranh để cống hiến cho cái lịch sử này mà chúng ta đang sống với một diện mạo mới.

Và tìm đâu ra sức mạnh cho mọi chuyện đó ? Trong Chúa. Trong sự tin cậy vào Thiên Chúa, Người vốn là Cha và Người luôn dõi theo chúng ta. Nếu chúng ta mở lòng chúng ta  ra với Người, Người sẽ làm gia tăng khả năng yêu thương trong chúng ta. Con đường là thế đó : lớn lên trong tình yêu. Quả thật, Chúa Giêsu sau khi phán về kịch bản của bạo lực và khủng bố, đã kết luận như sau : “Dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu” (c.18). Nhưng điều này có nghĩa là gì ? Nghĩa là Người ở với chúng ta, Người là Đấng canh giữ cho chúng ta, Người bước đi với chúng ta. Liệu tôi có đức tin đó không ? Anh có đức tin rằng Chúa bước đi với anh không ? Điều này, chúng ta phải luôn nhắc nhở chúng ta, đặc biệt là trong những lúc đau khổ nhất : Thiên Chúa là Cha và Người ở bên cạnh tôi, Người biết tôi và Người thương yêu tôi, Người canh giữ tôi, Người không ngủ, Người chăm sóc tôi, và với Người, không một sợi tóc nào trên đầu tôi sẽ bị mất đi. Và tôi đã đáp trả những sự kiện đó như thế nào ? Bằng cách nhìn thấy các anh chị em đang ở trong thiếu thốn, bằng cách nhìn thấy cái văn hóa thải loại đang xua đuổi những người nghèo, đang xua đuổi những người kém khả năng hơn, đang xua đuổi những người già, đang xua đuổi các thai nhi chưa sanh ra đời… Khi nhìn thấy tất cả những điều đó, tôi cảm thấy phải làm gì vào lúc này, với tư cách là người Kitô hữu ?

Thưa những người được Chúa thương, chúng ta hãy quyết định yêu thương các trẻ em bị bỏ rơi nhiều nhất. Chúa đang ở trong họ. Có một truyền thống lâu đời, kể cả trong những ngôi làng bé nhỏ của nước Ý, một số người còn bảo tồn nó : vào bữa tiệc tối Giáng Sinh, họ để một chỗ trống trên bàn ăn cho Chúa, Đấng chắc chắn sẽ gõ cửa dưới dạng con người của một người khèo khó. Liệu trong tim anh, có một chỗ trống cho những người đó không ? Liệu trong tim tôi, có luôn có một chỗ trống cho những người này không ? Hay là chúng ta quá bận bịu với các bạn bè, với các biến cố xã hội, với những bổn phận ? Bộ chúng ta không bao giờ có một chỗ trống cho những ngưòi đó sao ? Chúng ta hãy chăm sóc người nghèo vì trong họ có Chúa Kitô, Đấng vì chúng ta đã làm người nghèo khó (x. 2Cr 8,9). Người đồng nhất hóa với người nghèo. Chúng ta hãy cảm thấy được chất vấn vì không một sợi tóc nào trên đầu các ông bị mất. Chúng ta không thể, như những người được Phúc Âm nhắc đến, đứng đó để chiêm ngưỡng những tảng đá đẹp của Đền Thờ mà không biết đến Đền Thờ đích thực của Thiên Chúa, là con người, nam và nữ, đặc biệt là người nghèo, trong diện mạo của họ, trong lịch sử đời họ, trong những thương tích của họ có Chúa Giêsu ở đó. Chính Người phán điều đó. Chúng ta đừng bao giờ quên !

Copyright © Libreria Editrice Vaticana

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Le pape François fustige « la psychologie du complot » – ZENIT – Francais

 5 khách đã đọc bài này
This entry was posted in Chưa được phân loại. Bookmark the permalink.