Kazakhstan – theo chương trình có 4 bài diễn văn và 1 bài giảng lễ

Đức Giáo Hoàng sẽ nói với các nhà lãnh đạo tôn giáo

AOÛT 02, 2022 18:36 HÉLÈNE GINABATPAPE FRANÇOISVOYAGES

Ông chủ tịch Kazakh Kassym-Jomart Tokaïev, nguồn : US Mission in Geneva

Phòng Báo Chí Tòa Thánh đã công bố chương trình chuyến tông du của ĐGH Phanxicô tại Kazakhstan hôm thứ ba 02/8/2022, ngày hôm sau thông báo chính thức về chuyến đi sẽ diễn ra từ 13 tới 15/9/2022 sắp tới đây.

Đức Giáo Hoàng sẽ đi tới Nour-Soultan, thể theo lời mời của ông tổng thống nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ, Kassym-Jomart Tokaïev, để tham dự ‘‘Hội Nghị các nhà lãnh đạo tôn giáo thế giới và truyền thống kỳ thứ VII’’.

Nhằm giữ gìn sức khỏe cho Đức Giáo Hoàng, không một sự di chuyển nào được dự trù ra ngoài thủ đô của Nước Kazakh này. Tuy nhiên, Đức Giáo Hoàng không đọc ít hơn 4 bài diễn văn và một bài giảng lễ.

Sau đây là chương trình chuyến tông du quốc tế lần thứ 38 này tới Trung Á.

Thứ Ba 13/9, Đức Giáo Hoàng sẽ rời phi trường quốc tế Rôma-Fiumicino vào lúc 07giờ15 và sẽ được chính thức đón chào khi ngài tới phi trường quốc tế Nour-Soultan, vào lúc 17giờ45.

Lễ nghi nghênh đón, vào lúc 18giờ30, sẽ diễn ra tại Dinh Tổng Thống ở Nour-Soultan, tiếp đó có một cuộc thăm viếng xã giao Tổng Thống nước Cộng Hòa Kazakhstan.

Đức Giáo Hoàng sau đó sẽ đọc bài diễn văn đầu tiên của ngài trước các giới chưc chính quyền, các đại diện xã hội dân sự và ngoại giao đoàn, lúc 19giờ30, tại Phòng Qazaq Concert Hall.

Thứ Tư 14/9, Ngày của ĐGH Phanxicô sẽ diễn ra tại Cung Hòa Bình và Hòa Giải. Bắt đầu là một thời thinh lặng cầu nguyện của các vị trách nhiệm tôn giáo, vào lúc 10 giờ, trước khi khai mạc ‘‘Hội Nghị các nhà lãnh đạo tôn giáo thế giới và truyền thống lần thứ VII’’. Đức Giáo Hoàng sẽ đọc ở đây bài diễn văn thứ nhì của ngài.

Vào buổi trưa, ĐGH Phanxicô sẽ có các cuộc gặp gỡ riêng tại chỗ với một số nhà lãnh đạo tôn giáo.

ĐGH Phanxicô sẽ có bài giảng trong thánh lễ, được cử hành vào lúc 16giờ45 trên thềm Cung Triển Lãm.

Thứ Năm 15/9, sau một cuộc gặp gỡ riêng với các thành viên của Dòng Tên tại tòa khâm sứ, cũng như từ nay là thường lệ trong các chuyến tông du của Đức Giáo Hoàng dòng tên, Đức Giáo Hoàng sẽ đến Thánh Đường Đức Mẹ Hắng Cứu Giúp, nơi ngài sẽ đọc bài diễn văn thứ ba trước các giám mục, linh mục, phó tế, những giáo dân thánh hiến, các chủng sinh và các nhân viên mục vụ.

Hội Nghị lần thứ VII sẽ kết thúc với sự tuyên đọc Bản Tuyên Ngôn Bế Mạc, vào lúc 15 giờ ; một bài diễn văn cuối cùng của Đức Giáo Hoàng cũng được dự trù.

Sau lễ nghi từ giã tại phi trường quốc tế Nour-Soultan, phi cơ của Đức Giáo Hoàng sẽ cất cánh vào lúc 16giờ45 để đáp xuống phi trường quốc tế Rôma-Fiumicino vào lúc 10giờ15.

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Kazakhstan : au programme 4 discours et 1 homélie – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Kazakhstan – theo chương trình có 4 bài diễn văn và 1 bài giảng lễ

Kinh Truyền Tin – lòng tham : một « căn bệnh » phá hủy con người và xã hội

Nguồn gốc ở trong lòng mỗi người

AOÛT 01, 2022 18:57 HÉLÈNE GINABATANGÉLUS

Kinh Truyền Tin ngày 31 tháng 7 năm 2022

Lòng tham lam, « sự thèm muốn vô độ của cải » là một « căn bệnh » phá hoại con người bởi vì nó làm cho con người « lệ thuộc » và « nô lệ » ; đó cũng là một căn bệnh « nguy hiểm đối với xã hội », là nguồn gốc của các cuộc chiến tranh và những cuộc xung đột, ĐGH Phanxicô đã cảnh báo trước Kinh Truyền Tin ngày cuối cùng của tháng Bẩy.   

Trước Kinh Truyền Tin ngày 31/7/2022, từ cửa sổ văn phòng Dinh Tông Tòa của Vatican, ĐGH Phanxicô đã bình giảng bài Phúc Âm của phụng vụ trong ngày trong đó có vấn đề phân chia gia tài giữa hai anh em. Trước đám đông khoảng chừng 12 000 người, tập trung trên Quảng Trường Thánh Phêrô, ĐGH Phanxicô đã cảnh giác chống lại loại tranh chấp về quyền thừa kế, rất thường xẩy ra trong các gia đình.

Không hề lên án những sự giầu có tự thân, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh đến sự nguy hiểm là quá « gắn bó » với nó ; ngài nói : người ta trở thành « nô lệ » của cái đáng lẽ phải phục vụ con người « để sống tự do và thảnh thơi ». Tương tự như vậy, ngài đặt câu hỏi, « có bao nhiêu lợi nhuận che dấu sau một cuộc chiến tranh ? ». Các cuộc xung đột vá các cuộc chiến tranh « hầu hết luôn là do sự khao khát tài nguyên và của cải ».   

Đức Giáo Hoàng đã mời gọi hãy nhìn vào nguồn gốc của những điều xấu đó, vốn là « lòng ham muốn trong lòng của mỗi người » và có thể dẫn tới việc coi của cải như là « một sự tôn thờ ngẫu tượng đích thực ». Do đó, sự cảnh báo của Phúc Âm theo đó thì người ta không thể phục vụ « cùng một lúc hai chủ, Thiên Chúa và tiền bạc ». « Sử dụng của cải, được, phục vụ của cải, không ! Đó là tôn thờ ngẫu tượng, là xúc phạm Thiên Chúa », ĐGH Phanxicô kết luận.

Lời ĐGH Phanxicô trước Kinh Truyền Tin

Thân chào quý anh chị em !

Trong bài Phúc Âm của phụng vụ ngày hôm nay, một người nói với Chúa Giêsu một yêu cầu này : « Thưa Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi » (Lc 12,13). Đó là một tình huống rất bình thường, những vấn đề kiểu này vẫn còn thường xẩy ra : có bao nhiêu anh chị em, có bao nhiêu thành viên của cùng một gia đình tranh giành nhau quyền thừa kế, và có lẽ họ không còn nói chuyện với nhau nữa.

Khi trả lời người đó, Chúa Giêsu không đi vào chi tiết, nhưng Người đi vào cội rễ của những chia rẽ gây ra bởi sự sở hữu của cải và Người phán : « Anh em hãy giữ mình khỏi mọi thứ tham lam » (c.15). Tham lam là gì ? Đó là sự thèm muốn vô độ của cải, luôn muốn làm giầu. Đó là một căn bệnh phá hoại con người, bởi vì sự khát khao chiếm hữu tạo ra sự lệ thuộc. Và nhất là, kẻ có nhiều không bao giờ vừa lòng : hắn luôn muốn có nhiều hơn nữa, và chỉ cho mình hắn. Nhưng như thế, hắn không còn tự do nữa : hắn bị ràng buộc, bị làm nô lệ cho điều mà một cách mâu thuẫn, đáng lẽ phải phục vụ hắn để sống tự do và thảnh thơi. Thay vì sử dụng tiền bạc, hắn ta trở thành đầy tớ tiền bạc. Nhưng lòng tham lam cũng là một căn bệnh nguy hiểm cho xã hội : vì nó, chúng ta đã đi đến những nghịch lý khác, đến một sự bất công chưa từng xẩy ra từ xưa đến nay trong lịch sử, trong đó một nhóm nhỏ có rất nhiều và rất nhiều người có rất ít nếu không muốn nói là không có gì. Chúng ta cũng hãy nghĩ tới những cuộc chiến tranh và những cuộc xung đột : chúng hầu như luôn luôn vì sự khao khát tài nguyên và của cải. Biết bao là lợi nhuận được che dấu đàng sau một cuộc chiến ? Một trong những lợi nhuận này, chắc chắn là việc buôn bán vũ khí. Nền buôn bán này là một vụ tai tiếng mà chúng ta không thể và chúng ta không được cam chịu.

Ngày hôm nay, Chúa Giêsu dạy chúng ta rằng ở trung tâm của tất cả những chuyện đó, không chỉ có một vài kẻ quyền năng hay một số hệ thống kinh tế, mà ở trung tâm, có lòng tham lam vốn ở trong lòng mỗi người. Như thế, chúng ta hãy thử tự hỏi : tôi đi đến đâu trong việc xả bỏ những của cải, những giầu sang ? Liệu tôi có than vãn vì những gì mình bị thiếu thốn hay là tôi biết vui lòng với những gì mình đang có ? Tôi có bị cám dỗ nhân danh tiền bạc và cơ hội, để hy sinh những quan hệ của tôi và hy sinh thời gian của tôi cho người khác không ? Hay là : đã xẩy ra cho tôi là hy sinh tính hợp pháp và lòng lương thiện trên bàn thờ của lòng tham không ? Tôi đã nói « bàn thờ », bàn thờ của lòng tham, mà tại sao tôi lại nói « bàn thờ » nhỉ ?  Bởi vì những của cải vật chất, tiền bạc, các sự giầu sang có thể trở thành một sự sùng bái, một sự sùng bái ngẫu tượng đích thực. Bởi vậy, Chúa Giêsu đã cảnh báo chúng ta bằng những lời lẽ mạnh mẽ. Người phán rằng, người ta không thể thờ hai chủ, và nếu chúng ta chú ý, Người không nói : Thiên Chúa và quỷ dữ, không, hay là điều thiện và điều ác, mà Người phán : Thiên Chúa và tiền của (x. Lc 16,13). Người ta có thể đã chờ đợi Người sẽ phán : không thể phục vụ hai chủ, Thiên Chúa và ác quỷ. Nhưng Người phán : Thiên Chúa và tiền của. Sử dụng của cải, được ; phục vụ của cải, không ! Đó là sùng bái ngẫu tượng, đó là xúc phạm Thiên Chúa.

Như vậy, chúng ta có thể có suy nghĩ rằng chúng ta không thể mong muốn giầu có sao ? Đương nhiên là có thể, và thậm chí mong muốn như thế là chính đáng, thật là tốt đẹp khi trở nên giầu có ; nhưng phải giầu có theo Thiên Chúa ! Thiên Chúa giầu có hơn tất cả mọi người : Người giầu lòng trắc ẩn, Người giầu lòng thương xót. Sự giầu có của Người không làm người nào nghèo đi hết, Người không gây ra tranh chấp cũng không có những chia rẽ. Đó là một sự giầu có mà Người thích ban phát, phân phối và chia sẻ. Thưa quý anh chị em, tích luỹ của cải vật chất không đủ để sống tốt bởi vì, như Chúa Giêsu cũng đã phán, mạng sống không tùy thuộc vào những gì chúng ta sở hữu (x. Lc 12,15). Thay vào đó, nó tùy thuộc vào những quan hệ tốt : với Thiên Chúa, với những người khác và cũng với kẻ có ít hơn. Như thế, chúng ta tự hỏi : và tôi, tôi muốn làm giầu phải như thế nào ? Liệu tôi có muốn làm giầu theo Thiên Chúa hay theo lòng tham lam của tôi ? Và, để trở lại vấn đề gia tài, gia tài nào mà tôi muốn để lại đây ? Tiền bạc trong ngân hàng, những đồ đạc vật chất hay những con người hạnh phúc chung quanh tôi, những việc thiện mà người ta không quên, những con người mà tôi đã giúp đỡ để lớn lên và trưởng thành ?

Cầu xin Đức Trinh Nữ Maria phù giúp chúng ta hiểu được đâu là những của cải đích thực của đời sống, những của cải trường cửu vĩnh viễn.

© Traduction de Zenit, Hélène Ginabat

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Angelus : l’avidité, une « maladie » qui détruit la personne et la société – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Kinh Truyền Tin – lòng tham : một « căn bệnh » phá hủy con người và xã hội

Kazakhstan – ĐGH Phanxicô sẽ tới từ ngày 13 đến 15 tháng 9 năm 2022

Để dự Hội Nghị các Nhà Lãnh Đạo của các tôn giáo thế giới và truyền thống lần thứ VII

AOÛT 01, 2022 16 :11 HÉLÈNE GINABATPAPE FRANÇOISVOYAGES

Astana, Kazakhstan

ĐGH Phanxicô sẽ đi Kazakhstan từ ngày 13 đến 15/9/2022 tới đây, ông giám đốc Phòng Báo Chí Tòa Thánh, Matteo Bruni, cho biết trong một bản thông cáo được phổ biến bằng tiếng Ý, tiếng Nga và tiếng Anh, hôm thứ hai 01/8/2022. Được mời bởi các nhà chức trách chính quyền dân sự và Giáo Hội của nước này, Đức Giáo Hoàng sẽ tới thủ đô Nur-Sultan, nhân dịp Hội Nghị các nhà lãnh đạo của các tôn giáo thế giới và truyền thống lần thứ VII.

Hôm 31/5 vừa qua, một bản thông cáo song phương đã xác nhận sự tham gia của ĐGH Phanxicô vào Hội Nghị được tổ chức tại Nur-Sultan vào tháng 9/2022, « như thỏa thuận nhân cuộc tiếp xúc cấp cao giữa tổng thống Kazakhstan, Ngài Kassym-Jomart Tokaïev, và Đức Giáo Hoàng hôm 11/4/2022 ».

Được công bố nhân kỷ niệm 30 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa tiểu quốc Vatican và nước Cộng Hòa Kazakhstan – ngày 17/10/2022 – bản tài liệu tiếng Anh đã được ký kết bởi Thứ trưởng Tòa Thánh về Quan Hệ với các Quốc Gia, Đức Cha Phaolô R. Gallagher, và ông phó thủ tướng kiêm Ngoại Trưởng của Nước Công Hòa Trung Á, ông Mukhtar Tileuberdi.

Hội Nghị lần thứ VII sẽ với chủ đề : « vai trò của những người trách nhiệm của các tôn giáo thế giới và truyền thống trong sự phát triển xã hội – thiêng liêng của nhân loại trong thời kỳ hậu đại dịch.

Cũng nên nhắc lại là Hội Nghị đầu tiên của các tôn giáo thế giới và truyền thống đã diễn ra tại Astana (được đổi tên là Nour-Soultan từ năm 2019) vào năm 2003, lấy cảm hứng từ « Ngày cầu nguyện cho hòa bình » được triệu tập bởi ĐGH Gioan Phaolô II vào tháng 01/2002. Đức Giáo Hoàng người Balan đích thân đã thực hiện trong một nước thuộc Liên Xô cũ một cuộc tông du 4 ngày vào tháng 9/2001, trong bối cảnh cuộc khủng hoảng quốc tế, ít ngày sau cuộc tấn công xẩy ra tại Hoa Kỳ.

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Kazakhstan : le pape François s’y rendra du 13 au 15 septembre – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Kazakhstan – ĐGH Phanxicô sẽ tới từ ngày 13 đến 15 tháng 9 năm 2022

Cuộc gặp gỡ của ĐGH Phanxicô với người dân Inuit của Canada

ĐGH Phanxicô đã trải qua ngày cuối của cuộc hành hương đền tội ở chỗ người dân Inuit tại thành phố Iqualuit của Canada, thủ phủ của địa hạt Nunavut, bên bờ biển Bắc Hải.

JUILLET 30, 2022 21:14 RÉDACTIONEGLISE ET MONDEPAPE FRANÇOISVOYAGES APOSTOLIQUES

Zenit – thứ sáu 29/7/2022

Thành phố này, với 7 500 cư dân, là thành phố lớn nhất của địa hạt hành chánh của Nunavut, nằm trong vùng rộng lớn phía đông bắc Canada. Trong vùng đất này được bao phủ bởi tuyết trắng và nước đá, từ đầu tháng 10 đến đầu tháng sáu, nơi mà nhiệt độ xuống đến âm 45 độ C vào tháng giêng, từ thuở xa xưa dến giờ đã có một giống dân sinh sống gọi là dân Inuit.

Ở đây, cũng như ở nhiều vừng của Canada, chính quyền Canada đã thiết lập các trường nội trú chia cắt các trẻ em và các gia đình của chúng, với mục đích là đồng hóa chúng vào văn hóa của Canada và làm cho chúng thành những công dân hoàn toàn, theo tâm tư của thời đại đó. Bởi vì một số lớn các trường học đó được quản lý bởi người công giáo, Đức Thánh Cha đã đến cầu xin tha thứ vì những đau khổ mà biết bao trẻ em và các gia đình đã phải chịu đựng.

Trước hết ĐGH Phanxicô đã gặp gỡ riêng các cựu học sinh của các trường nội trú đó, để lắng nghe họ nói tận tai những trải nghiệm của họ và những sự đau đớn của họ. Sau khi cầu xin họ tha thứ, Đức Giáo Hoàng đã mời gọi họ cùng với ngài đọc Kinh Lạy Cha và ngài đã ban phép lành cho họ.

« Cảm ơn, vì những điều mà quý anh chị em đã có can đảm để nói lên, bằng tách chia sẻ những đau khố lớn lao mà người ta không thể tưởng tượng được. Điều đó làm sống lại trong tôi sự phẫn nộ và sự hổ thẹn đã ám ảnh tôi trong những tháng qua », ngài nói sau đó trong bài diễn văn của ngài đọc trước đám đông, đã tụ tập trong sân bên ngoài khu trường tiểu học Nakasuk.

Trên lễ đài bên ngoài trường học này, Đức Thánh Cha đã được chào đón bởi những người lớn tuổi của dân Inuit và sau đó đã có thể thưởng thức, với nhiều người Inuit hiện diện, âm nhạc, vũ điệu và các bài ca tiếng Inuit, kể cả « giọng ca cổ họng » độc nhất trên thế giới.

Trong bài diễn văn, Đức Thánh Cha đã nói với họ : « Ở đây cũng vậy, tôi muốn nói với quý anh chị em rằng tôi rất buồn và tôi muốn cầu xin quý anh chị em sự tha thứ vì điều xấu mà một số đông những người công giáo đã phạm phải trong các trường học, đóng góp vào những chính sách đồng hóa văn hóa và giải phóng ».

« Chúng tôi ở đây với ý chí là cùng nhau thực hiện hành trình chữa lành và hòa giải, vốn với sự phù trợ của Đấng Tạo Hóa, sẽ giúp chúng ta đưa ra ánh sáng những gì đã xẩy ra và vượt qua khỏi sự tối tăm của quá khứ ».

« Quý anh chị em đã thắp sáng ngọn đèn Kudlik (một loại đèn của dân Inuit). Ngọn đèn này, ngoài việc tỏa ra ánh sáng trong những đêm dài mùa đông, còn cho phép, bằng cách toát ra hơi ấm, chống lại sự khắc nghiệt thời tiết. Như thế, nó là thiết yếu cho sự sống. Ngày hôm nay nữa, ngọn đèn này là một biểu tượng đẹp của sự sống, của một cuộc sống sáng lạn không nhường bước cho bóng tối của màn đêm. Quý anh chị em cũng thế : là một sự làm chứng của sự sống vốn không hề tắt lịm… của ánh sáng chói lọi mà không ai có thể bóp ngạt được ».

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Rencontre du pape François avec les Inuits canadiens – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Cuộc gặp gỡ của ĐGH Phanxicô với người dân Inuit của Canada

Lời thưa « xin vâng » anh dũng của Đức Trinh Nữ Maria và của nữ thánh Kateri

Bài diễn văn của Đức Giáo Hoàng tại Québec nhân cuộc gặp gỡ tại tòa tổng giám mục với một phái đoàn người dân bản địa.

JUILLET 29, 2022 19:43 RÉDACTIONEGLISES LOCALESVOYAGES APOSTOLIQUES

Gặp gỡ với một phái đoàn người dân bản địa hiện diện tại Québec

Sáng nay, sau khi dâng thánh lễ riêng, Đức Thánh Cha đã gặp gỡ những thành viên của Dòng Tên hiện diện tại Canada. Rồi, vào lúc 10giờ45 ; Đức Giáo Hoàng đã gặp một phái đoàn người dân bản địa tại tòa tổng giám mục. Trong cuộc tiếp kiến, ĐGH Phanxicô ngỏ lời chào phái đoàn dân bản địa và vào lúc chót, ngài đã chào hỏi từng người một.

Sau buổi hội ngộ, sau khi từ giã nhân viên của tòa tổng giám mục, ngài đã được đưa bằng xe hơi ra phi trường quốc tế, từ đó, vào lúc 12giờ45 – trên chiếc máy bay A330/ITA Airways – ngài đã cất cánh đi Iqaluit. Chúng tôi đăng tải dưới đây lời chào mừng tới phái đoàn dân bản địa có mặt tại Québec :

« Đức Trinh Nữ Maria và nữ thánh Kateri đã nhận được từ Thiên Chúa một dự án đời sống, và không hỏi ý kiến của bất cứ ai, đã dâng lên lời « xin vâng » với lòng can đảm. Những người phụ nữ này có thể phản ứng xấu đối với tất cả những người chống đối dự án này, hay vẫn phục tùng những tiêu chuẩn gia trưởng của thời đại và cam chịu, không chiến đấu vì những dự án mà Thiên Chúa đã khắc dấu ấn trong tâm hồn các bà. Các bà đã không có chọn lựa này, nhưng với lòng dịu dàng và sự kiên quyết, với những lời tiên tri và những cử chỉ mang tính quyết định, các bà đã mở ra con đường và hoàn tất những gìi các bà đã được kêu gọi. Mong rằng các bà có thể chúc lành hành trình chung của chúng ta, chuyển cầu cho chúng ta và cho công trình chữa lành và hòa giải vĩ đại rất làm Thiên Chúa vui lòng này. Tôi hết lòng ban phép lành cho quý anh chị em ».

Thưa quý anh chị em,

Tôi nhiệt liệt chào mừng quý anh chị em và cảm ơn quý anh chị em vì đã đến đây từ nhiều nơi khác nhau.

Sự mênh mông của vùng đất này làm cho chúng ta nghĩ đến chiều dài của cuộc hành trình chữa lành và hòa giải mà chúng ta cùng nhau đối mặt. Quả vậy, câu nói đồng hành với chúng ta từ hồi tháng ba, từ lúc các đại diện dân bản địa đã đến thăm tôi tại Rôma, và đã định hình chuyến viếng thăm của tôi giữa quý anh chị em, là Cùng nhau bước đi : Walking Together.

Tôi đến Canada với tư cách là người bạn để gặp gỡ quý anh chị em, để thấy, để nghe, để học hỏi và trân quý phong cách các dân tộc bản địa của đất nước này sinh sống. Tôi đến với tư cách một người anh em, để tự mình khám phá những hệ quả tốt, xấu gây ra bởi những thành viên của gia đình công giáo địa phương theo dòng thời gian. Tôi đến trong một tinh thần đền tội, để bầy tỏ cùng anh chị em nỗi đau đớn mà tôi mang nặng trong lòng vì điều xấu mà một số người công giáo nào đó đã gây ra bằng cách ủng hộ các chính sách đàn áp và bất công đối với quý anh chị em. Tôi tới như khách hành hương, với những khả năng thể chất bị hạn chế, để bước những bước đi mới cùng với quý anh chị em và cho quý anh chị em : để tiếp tục đi tìm sự thật, để tiến tới trong sự phát huy những hành trình chữa lành và hòa giải, để đi tới bằng cách gieo trồng Hy Vọng cho các thể hệ tương lai của dân bản địa và của những người không phải là dân bản địa, vốn mong muốn cùng nhau chung sống trong tình huynh đệ, trong sự hài hòa.

Nhưng tôi muốn nói với quý anh chị em, lúc gần chấm dứt cuộc hành hương mãnh liệt này, rằng nếu tôi đã đến đây với những ước mong này trong lòng, tôi sẽ trở về thêm phong phú, bởi vì tôi mang trong lòng tôi kho tàng vô giá làm bằng những con người và những dân tộc đã in dấu trong tôi ; những khuôn mặt, những nụ cười và những lời lẽ khắc ghi trong tôi ; những cầu chuyện và những nơi chốn mà tôi sẽ không thể nào quên được ; những âm thanh, những mầu sắc và những xúc động còn đang rung động mạnh mẽ trong tôi. Thật sự, tôi có thể nói rằng, khi tôi đến thăm quý anh chị em, đó là những thực tế của quý anh chị em, những thực tế bản địa của vùng đất này, đã viếng thăm tâm hồn của tôi : chúng đã đi vào trong tôi và sẽ luôn đồng hành với tôi. Tôi dám nói, nếu quý anh chị em hứa với tôi rằng, bây giờ bằng cách nào đó, tôi cảm thấy mình cũng như một thành viên của gia đình quý anh chị em, và tôi rất lấy làm hân hạnh.

Gặp gỡ với một phái đoàn người dân bản địa hiện diện tại Québec

Một kỷ niệm của lễ kính thánh nữ Anna, được cùng nhau trải nghiệm với những thế hệ khác nhau và nhiều những gia đình người dân bản địa, sẽ không bao giờ xóa nhòa trong lòng tôi. Trong một thế giới, đáng tiếc quá nhiều khi mang tính cá nhân chủ nghĩa, thật là quý giá biết bao cái tình cảm thân thuộc và cộng đoàn vốn là quá chân thực ở nơi quý anh chị em ! Và thật là quan trọng biết bao để vun trồng tốt đẹp sợi dây liên hệ giữa những người trẻ và những vị cao niên, và để gìn giữ một mối quan hệ lành mạnh và hài hòa với toàn bộ công trình sáng tạo.

Thưa quý anh chị em thân mến, tôi muốn gửi những điều chúng ta đã cùng nhau trải nghiệm trong những ngày này và phần còn lại của con đường đang chờ đợi chúng ta cho sự chăm sóc cẩn trọng của những người đã biết giữ gìn những gì đáng kể trên đời : tôi nghĩ tới các phụ nữ, và đặc biệt tới ba người phụ nữ. Trước hết là thánh nữ Anna, mà tôi đã có thể cảm nhận được sự dịu dàng và che chở của ngài, bằng cách tôn kính thánh nữ cùng với một dân Thiên Chúa biết công nhận và tôn kính các bậc ông bà trong gia đình.

Tiếp đến, tôi nghĩ tới Đức Mẹ Thiên Chúa : Không vật thụ tạo nào xứng đáng hơn Mẹ để được gọi là khách hành hương, bởi vì từ xưa đến nay, kể cả bây giờ, Mẹ luôn ở trên đường : trên con đường giữa Trời và Đất, để săn sóc chúng ta nhân danh Thiên Chúa và để dắt tay chúng ta đến cho Con của Mẹ. Sau cùng, trong những ngày này, lời cầu nguyện và suy nghĩ của tôi thường hay hướng tới một người phụ nữ thứ ba với sự hiện diện đã đồng hành với chúng ta, và những thánh tích của thánh nhân được giữ không xa chỗ này : tôi muốn nói đến Thánh Nữ Kateri Tekakwitha. Chúng ta tôn kính thánh nữ vì cuộc đời thánh thiện của bà, nhưng liệu chúng ta sẽ không thể chỉ tưởng nhớ đến sự thánh thiện của bà, được ghi dấu bởi một sự tận tụy gương mẫu trong kinh nguyện và trong hành động, cũng như bởi khả năng chịu đựng biết bao thử thách với lòng kiên nhẫn là sự dịu hiền, đã có thể thực hiện được nhờ những nét cao quý và đức hạnh thừa hưởng được từ cộng đồng và từ môi trường bản địa trong đó bà đã trưởng thành ? Các phụ nữ này có thể đóng góp để tập họp, để tạo dệt lại một sự hòa giải đảm bảo các quyền mỏng manh nhất và biết nhìn vào lịch sử mà không hề hận thù hay lãng quên.

Hai người trong các thánh nữ, Đức Trinh Nữ Maria và thánh nữ Kateri, đã nhận được từ Thiên Chúa một dự án đời sống, và không hỏi han gì ai, đã dâng lên lời « xin vâng » với lòng can đảm. Các phụ nữ này có thể phản ứng xấu đối với tất cả những người chống đối với dự án này, hay là vẫn phục tùng những tiêu chuẩn gia trưởng của thời đại và cam chịu, không chiến đấu vì những dự án mà Thiên Chúa đã khắc dấu ấn trong tâm hồn các bà. Các bà đã không làm sự chọn lựa này, nhưng với lòng nhân lành và kiên quyết, với những lời lẽ ngôn sứ và những cử chỉ cương quyết, các bà đã mở ra con đường và đã hoàn thành điều mà các bà được kêu gọi thi hành. Mong rằng các bà chúc lành cho hành trình chung của chúng ta, chuyển cầu cho chúng ta và cho công trình vĩ đại của sự chữa lành và hòa giải rất đẹp lòng Thiên Chúa. Tôi hết lòng ban phép lành cho quý anh chị em.

Và tôi xin quý anh chị em, vui lòng, tiếp tục cầu nguyện cho tôi. Cảm ơn.

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Le fiat héroïque de la Vierge Marie et de sainte Kateri – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Lời thưa « xin vâng » anh dũng của Đức Trinh Nữ Maria và của nữ thánh Kateri

Québec – chặng thứ nhì cuộc hành hương của ĐGH Phanxicô

ĐGH Phanxicô tới thành phố Québec : lễ nghi nghênh đón, các cuộc gặp gỡ với Bà Toàn Truyền của Canada, ông Thủ Tướng Canada, các đại diện các dân tộc bản địa, các chính quyền dân sự và ngoại giao đoàn.

JUILLET 28, 2022 20:07 RÉDACTIONEGLISES LOCALESVOYAGES APOSTOLIQUES

Các cuộc gặp gỡ đã được đã được hoãn lại một giờ để cho phép sự tham dự của các giới thẩm quyền dân bản địa của miền Tây đất nước, vì máy bay của họ đã bị trễ.

—–  

(Zenit/Edmonton và Québec, Canada, ngày 27/7/2022)

Trong buổi sáng ngày thứ tư 27/7/2022, sau khi cử hành một thánh lễ riêng và từ giã các nhân viên của Chủng Viện Thánh Giuse tại Edmonton, Đức Thánh Cha đã tới phi trường quốc tế bằng xe hơi để đáp máy bay vào lúc 09giờ10 đi thành phố Québec, cách Edmonton 3 500 km về phía đông.

Thành phố Québec là thủ phủ của vùng Québec.

Sau 5giờ30 bay, Đức Giáo Hoàng đã đáp xuống phi trường Québec vào lúc 14giờ43 (20giờ43, giờ Rôma) tại đây, ngài đã được nghênh đón bởi một số giới chức chính quyền địa phương. Sau đó, ngài đã di chuyển bằng xe hơi tới tòa tổng giám mục.

———–   

Vì máy bay chuyên chở các giới chức thẩm quyền các dân tộc bản địa đến từ miền Tây tới trễ, tất cả các biến cố đều đã được hoãn lại 01 giờ, để bảo đảm họ có thể tham dự.

————

Vào lúc 16giờ20, Đức Thánh Cha đã đi đến Thành cổ Québec là dinh của Bà Đặc Mệnh Toàn Quyền, bà Mary Simon, bà vốn là một người dân bản địa của Canada. Tại đây đã diễn ra lễ nghi nghênh đón.

Bà Toàn Quyền đại diện Nữ Hoàng Elisabeth II và nhân danh Nữ Hoàng thực hành một số thẩm quyền của Nữ Hoàng trên đất nước này. Thực chất, trước khi một đạo luật mới, được biểu quyết tại quốc hội Canada có hiệu lực, nó phải có chữ ký của Bà Toàn Quyền.

ĐGH Phanxicô với ông Justin Trudeau và bà Mary Simon

Bà Mary Simon đón tiếp ĐGH Phanxicô trong sân của Cổ Thành Québec. Sau lễ nghi quân cách, quốc thiều của hai nước và sự giới thiệu các phái đoàn đôi bên, mọi người đã vào phòng hội họp riêng.

Bà Mary Simon đón chào ĐGH Phanxicô

(c) Vatican Media

——————–   

Trong lúc Đức Giáo Hoàng tới, đã có một cuộc họp giữa Quốc Vụ Khanh của Vatican, ĐHY Pietro Parolin, Bà Toàn Quyền Canada, Mary Simon, và Thủ Tướng Canada, Justin Trudeau. Vị Đại Diện Quốc Vụ Khanh, Đức Cha Edgar Peña Parra, vị thứ trưởng ngoại giao, Đức Cha Paul Richard Gallagher, cũng như vị khâm sứ Tòa Thánh tại Canada, Đức Cha Ivan Jurkovic cũng đã tham dự cuộc họp này.

Đức Giáo Hoàng tới Québec

Cuối cuộc gặp gỡ, người ta đã giới thiệu với Đức Giáo Hoàng gia đình bà Toàn Quyền. Sau đó, đã có một cuộc gặp riêng giữa ĐGH Phanxicô và ông Thủ Tướng. Sau đó, sau một tấm hình chính thức, Đức Giáo Hoàng, vị nguyên thủ quốc gia và chính phủ Canada đã tới phòng hội để gặp gỡ ngoại giao đoàn.

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Québec : deuxième étape du pèlerinage du pape François – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Québec – chặng thứ nhì cuộc hành hương của ĐGH Phanxicô

Con đường Emau – từ thất bại tới hy vọng

Bài giảng của Đức Thánh Cha trong lễ tại thánh địa Thánh Anna thành Beaupré

JUILLET 28, 2022 19:39 RÉDACTIONPAPE FRANÇOISVOYAGES APOSTOLIQUES

Thánh Lễ Hòa Giải tại thánh đường Thánh Anna thành Beaupré

Nguồn : Phòng Báo Chí Tòa Thánh

Chuyến đi của các môn đệ trên đường Emau, ở cuối Tin Mừng theo thánh Luca, là một hình ảnh con đường cá nhân của chúng ta và con đường của Hội Thánh. Trên con đường đời, và đời sống đức tin, trong lúc chúng ta theo đuổi những ước mơ, những dự án, những đợi chờ và những hy vọng trong lòng chúng ta, chúng ta cũng vấp phải những mỏng giòn, những yếu đuối của chúng ta, chúng ta trải nghiệm những thất bại và những thất vọng, và đôi khi chúng ta vẫn là những tù nhân của cảm tưởng thất bại đang khiến chúng ta bị tê liệt. Tin Mừng loan báo cho chúng ta rằng, chính vào cái lúc đó, chúng ta không cô đơn : Chúa đến gặp gỡ chúng ta, đến với chúng ta, bước đi trên cùng con đường với chúng ta với sự kín đáo của một khách bộ hành đáng yêu đang muốn mở lại đôi mắt của chúng ta và sưởi ấm lại trái tim chúng ta. Và khi sự thất bại nhường chỗ cho sự gặp gỡ với Chúa, cuộc sống tái sinh trong hy vọng và chúng ta có thể hòa giải : với chính chúng ta, với các anh em chúng ta, với Thiên Chúa.

Như thế, chúng ta hãy đi theo con đường mà chúng ta có thể gọi là : từ thất bại sang hy vọng. Trước hết, có cảm tưởng thất bại, nó ám ảnh trong lòng hai người môn đệ sau cái chết của Chúa Giêsu. Các ông đã theo đuổi một ước mơ với lòng nhiệt thành. Nơi Chúa Giêsu, các ông đã đặt trọn vẹn những hy vọng và mong muốn của các ông. Bây giờ, sau cái chết tai tiếng trên thập giá, các ông quay lưng lại với Giêrusalem để đi về nhà mình, đi về cuộc đời khi trước. Cuộc hành trình của các ông là cuộc hành trình trở về, như để muốn quên đi cuộc trải nghiệm này đã làm lòng mình tràn ngập cay đắng, Đấng Mêsia đó bị xử tử như một kẻ gian ác trên cây thập giá. Các ông trở về với tâm trạng chán nản ; « vẻ mặt buồn rầu » (Lc 24,17) : những chờ đợi mà các ông đã vun trồng, đã rơi vào hư không, những hy vọng mà các ông đã tin tưởng đã tan vỡ, những ước mơ mà các ông đã muốn thực hiện nhường chỗ cho sự tuyệt vọng và sự đắng cay.

Đó là một trải nghiệm cũng liên quan đến cuộc sống và hành trình thiêng liêng của chúng ta, trong mọi trường hợp mà chúng ta bị bắt buộc phải thay đổi kích thước lại cho những đợi chờ của chúng ta và đối mặt với những mơ hồ của thực tế, với những đen tối của cuộc đời, với sự yêu đuối của chúng ta. Điều đó xẩy ra với chúng ta mỗi khi những lý tưởng của chúng ta vấp phải những vỡ mộng của cuộc sống và khi những ý định của chúng ta bị bỏ qua vì sự mỏng manh của chúng ta ; khi chúng ta vun trồng những dự án của điều thiện nhưng mà chúng ta không có khả năng thực hiện chúng (x. Rm 7,18) ; khi trong những hoạt động mà chúng ta tiến hành hay trong những quan hệ của chúng ta, sớm muộn gì, chúng ta cũng trải nghiệm một sự thất bại, một sai lầm, một sự không thành công hay một sự vấp ngã, trong lúc mà chúng ta thấy sụp đổ điều mà chúng ta đã tin tưởng hay chúng ta đã dấn thân, trong lúc chúng ta cảm thấy bị đè bẹp bởi tội lỗi của chúng ta và mặc cảm tội lỗi nơi chúng ta.

Điều này xẩy ra cho ông Ađam và bà Eva trong Bài Đọc Một : tội lỗi của ông bà không chỉ làm cho ông bà xa cách Thiên Chúa, nhưng đã khiến ông bà xa cách nhau : ông bà chỉ có thể đổ lỗi cho nhau. Và chúng ta cũng thấy điều này nơi các môn đệ trên đường Emau, mà sự khó chịu đã thấy sụp đổ dự án của Chúa Giêsu chỉ dành chỗ cho một cuộc tranh luận cằn cỗi. Và điều này cũng có thể xẩy ra trong đời sống của Hội Thánh, cộng đoàn các môn đệ của Chúa mà hai người trên đường Emau là đại diện. Dù cho là cộng đoàn của Đấng Phục Sinh, cộng đoàn này vẫn có thể bị mất mát và thất vọng trước sự tai tiếng của điều ác và bạo lực của Đồi Canve. Như thế, cộng đoàn không thể làm được gì ngoài việc nắm chặt trong tay cảm tưởng thất bại và tự hỏi : điều gì đã xẩy ra ? Tại sao điều đó lại xẩy ra ? Làm sao mà điều đó đã có thể xẩy ra được ?

Thưa anh chị em, đó là những câu hỏi mà mỗi người trong chúng ta tự đặt ra cho mình ; và đó cũng là những câu hỏi nóng bỏng mà Hội Thánh hành hương này ở Canada làm vang lên trong lòng về một con đường chữa lành và hòa giải đầy thử thách. Chúng ta cũng vậy,  trước sự tai tiếng của điều ác và trước Thánh Thể Đức Kitô bị thương tích trong da thịt của những người anh em dân bản địa của chúng ta, chúng ta bị dìm trong nỗi cay đắng và chúng ta cảm thấy sức nặng của thất bại. Xin mạn phép được hợp nhất cách thiêng liêng với nhiều khách hành hương đang đi ‘‘Bực thang thánh’’ tại đây, nó nhắc lại sự tiến bước của Chúa Giêsu lên pháp đình của Pilatô ; và được cùng đồng hành với anh chị em với tư cách là Hội Thánh trong những câu hỏi nẩy sinh từ trong lòng chứa chất sự đau buồn : tại sao tất cả những điều đó đã xẩy ra ? Làm thế nào mà nó có thể xẩy ra trong cộng đoàn những người đi theo Chúa Giêsu ?

Thánh Lễ hòa giải tại thánh đường Thánh Anna thành Beaupré

Tuy nhiên, ở đây, chúng ta phải chú ý đến cám dỗ bỏ trốn, hiện diện nơi hai môn đệ của Phúc Âm : lùi bước, chạy trốn cái nơi xẩy ra những sự kiện, tìm cách lấy chúng đi, tìm lấy một ‘‘nơi yên tĩnh’’ như làng Emau để không nghĩ đến chỗ đó nữa. Không có gì tệ hơn, là đối mặt với những thất bại của cuộc đời, mà bỏ chạy để không phải đương đầu với chúng. Đó là một cám dỗ của kẻ thù, nó đe dọa hành trình thiêng liêng của chúng ta và bước tiến của Hội Thánh : nó muốn làm cho chúng ta tin rằng sự thất bại này, từ nay là vĩnh viễn, nó muốn làm chúng ta tê liệt trong nỗi cay đắng và trong sự buồn khổ, thuyết phục chúng ta rằng không còn có thể làm gì được nữa và rằng chuyện đó không đáng để tìm cách khởi sự lại.

Trái lại, Phúc Âm cho chúng ta thấy rằng chính trong những tình huống vỡ mộng và đau khổ, chính khi chúng ta trải nghiệm với sự ngạc nhiên bạo lực của điều ác và sự hổ thẹn của lỗi lầm, khi mà dòng sông cuộc đời chúng ta khô cạn trong tội lỗi và trong thất bại, khi bị lột trần đi mọi thứ, dường như chúng ta không còn gì nữa, chính lúc đó, Chúa đến gặp gỡ chúng ta và bước đi với chúng ta. Trên con đường Emau, Người đến với chúng ta một cách kín đáo để chia sẻ những bước đi cam chịu của các môn đệ đau buồn này. Và Người làm gì ? Người không cống hiến những lời khuyến khích chung chung, những lời lẽ mang tính hợp tình huống hay những lời an ủi dễ dãi, mà bằng cách tỏ rõ qua Thánh Kinh mầu nhiệm của sự chết và sự sống lại của Người, Người soi sáng câu chuyện của các ông và những biến cố mà các ông đã trải nghiệm.

Như thế, Người mở mắt các ông ra với mọi sự. Chúng ta cũng vậy, chúng ta chia sẻ Thánh Thể trong Vương Cung Thánh Đường này, chúng ta có thể đọc lại nhiều biến cố của lịch sử. Cũng trên cùng mảnh đất này, trước đây có ba đền thánh ; và có những người đã không chạy trốn trước những khó khăn, đã mơ trở lại mặc dù những sai lầm của họ và những sai lầm của những người khác ; họ đã không để bị đánh bại bởi trận hỏa hoạn đáng sợ cách đây một trăm năm, và với lòng can đảm và sự sáng tạo, họ đã xây dựng nên thánh đường này. Và những người chia sẻ bí tích Thánh Thể từ những Đồng Bằng Ápraham lân cận, cũng có thể cảm thấy linh hồn của những người không để mình bị bắt làm con tin bởi hận thù của chiến tranh, bởi sự phá hoại và bởi đau khổ, nhưng đã biết thiết kế lại một thành phố và một đất nước.

Sau cùng, trước các môn đệ trên đường Emau, Chúa Giêsu đã bẻ bánh, mở mắt lại cho các ông và tỏ ra một lần nữa như là Thiên Chúa của tình yêu, Đấng đã ban mạng sống Người cho các bằng hữu của Người. Bằng cách đó, Người giúp các ông tiếp tục lên đường với niềm vui mừng, để bắt đầu lại, để đi từ thất bại qua niềm hy vọng. Thưa quý anh chị em, Chúa muốn làm như thế với mỗi người trong chúng ta và với Hội Thánh của Người. Làm thế nào đôi mắt của chúng ta có thể được mở ra, làm thế nào trái tim chúng ta có thể cháy lên vì Phúc Âm ? Làm gì khi chúng ta bị đau khổ bởi những thử thách tinh thần và vật chất, khi chúng ta tìm kiếm con đường tới một xã hội công bằng hơn và có tình huynh đệ hơn, khi chúng ta mong muốn phục hồi sau những thất vọng và mệt mỏi của chúng ta, khi chúng ta hy vọng chữa lành các vết thương của quá khứ và chúng ta hòa giải với Thiên Chúa và giữa chúng ta với nhau ?

Thánh Lễ hòa giải tại thánh đường Thánh Anna thành Beaupré

Chỉ có một con đường, một con đường duy nhất : đó là con đường của Chúa Giêsu, con đường đó chính là Chúa giêsu (x. Ga 14,6). Chúng ta hãy tin rằng Chúa Giêsu gia nhập vào hành trình của chúng ta và chúng ta hãy để Người gặp gỡ chúng ta ; chúng ta hãy để Lời Người diễn giảng lịch sử mà chúng ta đang sống như những con người và như cộng đồng và chỉ cho chúng ta con đường để chữa lành và để chúng ta hòa giải ; chúng ta hãy cùng nhau bẻ Bánh Thánh Thể với đức tin, để cho, chung quanh bàn tiệc này, chúng ta có thể khám phá ra chúng ta là những con cái được Chúa Cha thương yêu, được kêu gọi tất cả mọi người đều là anh em. Chúa Giêsu, khi Người bẻ bánh, Người xác nhận điều mà các môn đệ đã nhận được như là chứng ngôn của các bà mà các ông đã không muốn tin : rằng Người đã trỗi dậy ! Trong Vương Cung Thánh Đường này, nơi chúng ta nhớ lại người mẹ của Đức trinh Nữ Maria, và nơi còn có nhà thờ hầm thánh hiến cho Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, chúng ta chỉ có thể nhấn mạnh vai trò mà Thiên Chúa đã muốn ban cho người phụ nữ trong chương trình cứu độ của Người. Thánh Anna, Rất Thánh Trinh Nữ Maria, các phụ nữ của sáng hôm Phục Sinh cho chúng ta thấy một con đường mới của sự hòa giải : Lòng nhân từ hiền mẫu của nhiều phụ nữ có thể đồng hành với chúng ta – như Hội Thánh – đến những thời đại sung mãn lại, nơi chúng ta sẽ bỏ lại đàng sau chúng ta nhiều sự khô cằn và nhiều sự chết chóc, và chúng ta sẽ đặt Chúa Giêsu vào giữa, Đấng Chịu Đóng Đinh Đã Sống Lại.

Quả vậy, ở giữa những vấn đề, những nỗi buồn mà chúng ta mang nặng trong lòng, kể cả đời sống mục vụ, chúng ta không thể đặt chúng ta và sự thất bại của chúng ta vào đó ; chúng ta phải đặt Người, chính Người, Chúa Giêsu vào đó. Ở trung tâm của mọi sự, chúng ta hãy đặt Lời của Người, Đấng soi sáng các biến cố và trả lại cho chúng ta nhãn quan để phát hiện ra sự hiện diện mang tính tác động của tình yêu Thiên Chúa và khả năng của điều thiện, kể cả trong những tình huống có vẻ như tuyệt vọng ; chúng ta hãy đặt tấm Bánh Thánh Thể, mà Chúa Giêsu còn bẻ ra ngày hôm nay cho chúng ta, để chia sẻ sự sống của Người với sự sống của chúng ta, ôm lấy những yếu hèn của chúng ta, nâng đỡ những bước chân mỏi mệt của chúng ta và ban cho chúng ta sự chữa lành trong lòng. Và một khi hòa giải với Thiên Chúa, với những người khác và với chính chúng ta, chúng ta có thể, cả chúng ta nữa, trở thành những khí cụ của sự hòa giải và hòa bình trong xã hội mà chúng ta đang sống.

Lạy Chúa Giêsu là con đường của chúng con, là sức mạnh và niềm an ủi của chúng con, chúng con thưa lên cùng Chúa như các môn đệ trên đường Emau : “Xin Chúa ở lại với chúng con, vì trời đã xế chiều” (x. Lc 24,29). Lạy Chúa, xin ở lại với chúng con, khi hy vọng đã lặn xuống và khi màn đêm của sự tuyệt vọng buông dần. Xin Chúa ở lại với chúng con bởi vì với Chúa, lạy Chúa Giêsu, tiến trình các biến cố thay đổi và sự ngạc nhiên vui mừng tái sinh từ ngõ cụt của sự nản lòng. Lạy Chúa, xin Chúa ở lại cùng chúng con, bởi vì với Chúa màn đêm của đau đớn biến thành một bình minh rạng ngời của cuộc sống. Chúng con chỉ xin đơn sơ thưa lên rằng : Lạy Chúa, xin Chúa ở lại với chúng con, bởi vì nếu Chúa đồng hành bên cạnh chúng con, thất bại mở ra cho hy vọng của một sự sống mới. Amen.

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Chemin d’Emmaüs : de l’échec à l’espérance – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Con đường Emau – từ thất bại tới hy vọng

Kinh cáo mình của ĐGH Phanxicô

ĐGH Phanxicô đã bầy tỏ lòng hối cải sâu sắc và sự đau buồn trong lòng ngài khi nhớ lại những điều xấu xa đã xúc phạm đối với các trẻ em các dân tộc bản địa.

JUILLET 26, 2022 15:08 RÉDACTIONEGLISES LOCALESPAPE FRANÇOIS

Cuộc gặp gỡ của Đức Giáo Hoàng với các Dân Tộc Bản Địa tại Maskwacis, Canada

Trong bài diễn văn của ngài, đọc tại địa điểm gợi nhớ của trường nội trú Ermineskin cũ, Đức Giáo Hoàng đã đặc biệt nhấn mạnh sự hổ thẹn ngài cảm thấy vì các thành viên của Giáo Hội đã tham gia vào thảm kịch này. Đó là điều đã đưa ngài đến việc thực hiện cuộc hành hương đền tội này.

Từ tín vật biểu tượng là hai đôi giày da mộc của các em bé, nhận được tại Vatican bốn tháng trước đây và Đức Thánh Cha sẽ trả lại vào cuối bài diễn văn của ngài, ngài đã gợi nhớ vừa là ký ức về những lạm dụng thể chất và lời nói, tâm lý và tinh thần của các trẻ em, và viễn cảnh một hành trình cầu nguyện, làm việc, chữa lành và hòa giải.

Đức Giáo Hoàng đã ghi nhớ những truyền thống và những lối sống tôn trọng trái đất được Đấng Tạo Hóa trao ban, kế thừa từ các thế hệ trước và truyền lại cho các thế hệ sau. Trong một giai đoạn tiếp nối của lịch sử đất nước, những người di dân Âu Châu đã không biết nắm bắt cơ hội để tiến hành một cuộc gặp gỡ sung mãn giữa các nền văn hóa, các truyền thống và tâm linh.

« Nơi chúng ta đang đứng đây bây giờ làm vang lên trong tôi một tiếng kêu đau đớn, một tiếng kêu bị bóp ngạt… », ngài đã khẳng định khi nói về những chính sách đồng hóa và giải phóng, trong đó có các thành viên của Giáo Hội và của các tu hội đã đồng ý, thậm chí còn cộng tác. Chính trong bối cảnh này mà các trường nội trú đã được thai nghén để cướp đi các trẻ em ra khỏi khu đất gia đình và văn hóa của các em, khỏi cha mẹ, ông bà của các em. Như thế « nền tảng vững chắc của các giá trị, của ngôn ngữ và văn hóa, đã được trao ban cho các dân tộc của quý anh chị em một ý nghĩa bản sắc đích thực, đã bị soi mòn… »

Ngài cầu khẩn Thiên Chúa sự tha thứ của Người, cũng như ân điển của sự chữa lành và của sự hòa giải. Sự tha thứ không phải là điểm chấm hết, nhưng là sự khởi hành của một quy trình công lý và sự thật. Nó phải buộc người công giáo phải có « một nền văn hóa có khả năng làm thế nào để những tình huống tương tự không tái diễn nữa mà còn phải để cho những tình huống đó không tìm được những điều kiện thuận lợi để bị che dấu và kéo dài »

Để cùng nhau bước đi đến sự chữa lành và sự hoà giải, Đức Giám Mục Rôma khuyến nghị nội tâm hóa cầu nguyện : « Chúa Giêsu Kitô đã làm cho ngôi mộ, vốn là ngõ cụt của hy vọng,… thành nơi của sự tái sinh, của sự sống lại, từ đó đi ra một lịch sử của sự sống mới và của sự hòa giải phổ quát ». Những nỗ lực cần ân điển của Thiên Chúa, « sự khôn ngoan dịu dàng và mạnh mẽ của Thánh Thần,… sự dịu dàng của Đấng An Ủi ».

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Le mea culpa du pape François – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Kinh cáo mình của ĐGH Phanxicô

Diễn văn của ĐGH Phanxicô tại cuộc gặp gỡ các Quốc Gia Tiên Khởi, các Người Lai và Người Inuit bản địa

« Tôi đến đây trên các vùng đất quê hương của quý anh chị em để đích thân tôi nói lên với quý anh chị em sự đau đớn của tôi đến chừng nào, để cầu xin Thiên Chúa sự tha thứ, sự chữa lành và sự hòa giải, để thể hiện với quý anh chị em sự gần gũi của tôi, để cầu nguyện cùng với quý anh chị em và cho quý anh chị em ».

JUILLET 26, 2022 08:40 PAPE FRANCOISEGLISES LOCALESPAPE FRANÇOIS

Cuộc gặp gỡ với các Dân Bản Địa tại Maskwacis

Phòng Báo Chí Tòa Thánh, bản tin s. 0556, ngày thứ hai 25/7/2022 

Kính thưa bà Toàn Quyền,
Kính thưa ngài Thủ Tướng,
Các dân tộc bản địa thân mến của Maskwacis và của vùng đất Canada này,
Quý anh chị em thân mến,

Tôi đã chờ đợi giây phút này để được ở giữa quý anh chị em. Chính từ đây, từ cái nơi gợi nhớ sự đau buồn, mà tôi muốn bắt đầu những điều đã ám ảnh tâm hồn tôi : một cuộc hành hương đền tội. Tôi đến đây trên các vùng đất quê hương của quý anh chị em để đích thân tôi nói lên với quý anh chị em sự đau đớn của tôi đến chừng nào, để cầu xin Thiên Chúa sự tha thứ, sự chữa lành và sự hòa giải, để thể hiện với quý anh chị em sự gần gũi của tôi, để cầu nguyện cùng với quý anh chị em và cho quý anh chị em

Tôi còn nhớ những buổi gặp gỡ ở Rôma cách đây 4 tháng. Người ta đã tặng tôi hai đôi giầy da mộc của người da đỏ, dấu hiệu của sư đau khổ mà các trẻ em bản địa đã phải chịu đựng, nhất là những em, đáng tiếc, đã không bao giờ còn trở về nhà từ các trường nội trú nữa. Người ta đã yêu cầu tôi trả lại đôi giầy da mộc đó khi nào tới Canada ; tôi sẽ làm điều này vào cuối bài diễn văn của tôi, tôi đã được gợi hứng bởi chính biểu tượng này đã làm sống dậy trong tôi sự đau đớn, sự phẫn nộ và sự hổ thẹn trong những tháng vừa qua. Ký ức về các trẻ em này dấy lên một nỗi đau và thúc đẩy hành động để mỗi đứa trẻ đều được đối xử với lòng yêu thương, với niềm danh dự và sự tôn trọng. Nhưng đôi giầy da mộc cũng nói với chúng ta về một hành trình, một hành trình mà chúng ta muốn cùng nhau bước đi. Cùng nhau bước đi, cùng nhau cầu nguyện, cùng nhau làm việc, để những đau khổ của quá khứ  nhường chỗ cho một tương lai của công lý, của sự chữa lành của của hòa giải.

Bởi vậy, chặng đầu cuộc hành hương của tôi giữa quý anh chị em diễn ra trong vùng này, đã chứng kiến, từ những thời xa xưa, sự hiện diện của các dân tộc bản địa. Đây là vùng đất biết nói với chúng ta, biết cho phép chúng ta nhớ lại.

Nhớ lại : quý anh chị em thân mến, quý anh chị em đã sống trên vùng đất này từ hàng ngàn năm nay theo những kiểu sống tôn trọng đất đai này, được kế thừa từ các thế hệ đã qua và gìn giữ cho những thế hệ tương lai. Quý anh chị em đã đối xử với nó như một món quà của Đấng Tạo Hóa để chia sẻ với những người khác và để yêu mến một cách hài hòa với tất cả những gì hiện hữu, trong một mối quan hệ sống lẫn nhau giữa các sinh vật. Như thế, quý anh chị em đã học hỏi được cách nuôi dưỡng một ý nghĩa về gia đình và cộng đồng, và quý anh chị em đã triển khai những dây liên lạc vững chắc giữa các thế thệ, bằng cách tôn kính những người già cả và bằng cách chăm lo cho các trẻ em. Biết bao những tập tục và giáo huấn tốt đẹp, tập trung vào sự quan tâm đến người khác và đến lòng yêu chuộng sự thật, đến lòng can đảm và sự tôn trọng, đến lòng khiêm nhượng và sự lương thiện, đến sự khôn ngoan của cuộc sống.

Nhưng, nếu đó là những bước đầu phải thực hiện trên đất đai này, thật buồn là ký ức dẫn chúng ta đến nhũng bước tiếp theo. Nơi mà chúng ta đang ở hiện nay làm vang lên trong lòng tôi một tiếng kêu đau đớn, một tiếng kêu bị bóp ngạt đã đeo đuổi tôi trong những tháng gần đây. Tôi nghĩ lại thảm kịch mà nhiều người trong quý anh chị em, các gia đình của quý anh chị em, các cộng đồng của quý anh chị em phải gánh chịu ; tới những điều quý anh chị em đã kể với tôi về những đau khổ phải chịu đựng trong các trường nội trú. Đó là những chấn thương, mà bằng cách nào đó, sẽ xuất hiện trở lại mỗi lần được nhắc tới và tôi nhận ra rằng kể cả cuộc gặp gỡ của chúng ta ngày hôm nay cũng có thể làm thức dậy những ký ức và những vết thương, và nhiều người trong quý anh chị em có thể gặp những khó khăn vào lúc mà tôi nói đến. Nhưng thật là chính đáng phải nhắc lại, bởi vì sự lãng quên dẫn đến sự vô cảm, và như người ta đã nói, « phản nghĩa của tình yêu không phải là hận thù, mà là sự vô cảm […], phản nghĩa với sự sống không phải là sự chết, nhưng là sự thờ ơ đối với sự sống hay với sự chết » (E. WIESEL). Nhớ lại những kinh nghiệm tàn khốc đã diễn ra trong các trường nội trú đánh động chúng ta, khiến chúng ta xúc động, bị xúc phạm và làm cho chúng ta cảm thấy đau lòng, nhưng điều đó là cần thiết.

Cần thiết là phải nhắc tới các chính sách đồng hóa và giải phóng, bao gồm cả hệ thống các trường học nội trú, đã mang tính cách tàn phá đến mức độ nào đối với các cư dân của các vùng đất này. Khi những người di dân Âu Châu lần đầu đến đây, đã có cái cơ hội lớn lao để triển khai một cuộc gặp gỡ sung mãn giữa các nền văn hóa, các truyền thống và tâm linh. Nhưng ở mức độ rộng lớn, điều đó đã không xẩy ra. Và những câu chuyện của quý anh chị em đã hiện ra lại trong tâm trí của tôi : làm sao mà các chính sách đồng hóa có thể gạt các dân tộc bản địa ra ngoài lề xã hội một cách có hệ thống ; cũng vậy, làm sao mà thông qua hệ thống trường nội trú, các ngôn ngữ và văn hóa của quý anh chị em đã bị bôi nhọ và bị hủy bỏ ; làm sao mà các trẻ em đã phải chịu những lạm dụng thế chất và lời nói, tâm lý và tinh thần ; làm sao mà các em đã bị cướp đi ra khỏi gia đình của các em khi chúng còn bé bỏng và làm sao mà những điều đó đã hằn sâu dấu ấn không thể xóa nhòa lên quan hệ giữa cha mẹ và con cái, giữa ông bà và các cháu.

Tôi cảm ơn quý anh chị em đã làm cho tôi được đi vào giữa tất cả những điều này, đã có thể trút bỏ được gánh nặng mà quý anh chị em vẫn mang trong lòng, đã chia sẻ với tôi kỷ niệm thống thiết này. Ngày hôm nay, tôi ở nơi này, trên một vùng đất còn mang, cùng với một ký ức của cha ông, những vết sẹo của các thương tích còn chưa lành. Tôi ở nơi này bởi vì chặng đầu tiên của chuyến hành hương đền tội này giữa quý anh chị em là phải nhắc lại lời xin tha thứ và nói với quý anh chị em, với hết lòng mình, rằng tôi vô cùng đau buồn : tôi xin tha thứ vì phong cách mà, đáng tiếc, nhiều người Kitô hữu đã ủng hộ tâm tư thực dân của những cường quốc đã đàn áp các dân tộc bản địa. Tôi đau buồn. Tôi cầu xin tha thứ, cách riêng, vì phong cách mà nhiều thành viên của Hội Thánh và những cộng đoàn tu sĩ đã cộng tác, dù chỉ là bởi sự thờ ơ, với những dự án phá hoại văn hóa và đồng hóa bằng vũ lực của các chính quyền thời đó, vốn đã dẫn tới các trường học nội trú.

Mặc dù tổ chức bác ái Kitô giáo đã hiện diện và đã có nhiều trường hợp gương mẫu tận tâm với trẻ em, những hậu quả chung của các chính sách gắn liền với các trường nội trú quả là tai hại. Điều mà đức tin Kitô giáo dạy chúng ta, đó là một sai lầm mang tính hủy  hoại, không phù hợp với Phúc Âm của Chúa Giêsu Kitô. Thật là đau buồn khi biết rằng nền tảng vững chắc của các giá trị, của ngôn ngữ và văn hóa, đã từng cống hiến cho các dân tộc của quý anh chị em một ý thức về bản sắc, đã bị soi mòn, và quý anh chị em vẫn tiếp tục hứng chịu các hậu quả. Trước điều ác gây phẫn nộ này, Hội Thánh sấp mình trước Thiên Chúa và cẩu khẩn sự tha thứ các tội lỗi của con cái Người (x. THÁNH GIOAN PHAOLÔ II, Sắc chỉ Incarnationis mysterium [29/11/1998], s.11 : AAS [1999], trg. 140). Tôi hổ thẹn muốn nhắc lại một cách rõ ràng : tôi khiêm tốn cầu xin sự tha thứ cho điều ác đã vi phạm bởi nhiều Kitô hữu đối với các dân tộc bản địa.

Quý anh chị em thân mến, nhiều người trong quý anh chị em và trong các đại biểu của anh chị em đã khẳng định rằng xin tha thứ chưa phải là chấm hết. Tôi hoàn toàn đồng ý : đó chỉ là chặng đường đầu tiên, là điểm xuất phát. Tôi cũng ý thức rằng, « xét về quá khứ, những gì người ta có thể làm để xin tha thứ và đền bù thiệt hại đã bị gây ra sẽ không bao giờ đủ » và rằng, « xét về tương lai, không được bỏ sót điều gì để phát huy một nền văn hóa có khả năng không chỉ làm sao cho những tình trạng tương tự không tái diễn nữa mà còn phải để cho những tình huống đó không tìm được những điều kiện thuận lợi để bị che dấu và kéo dài » (Thư gửi Dân Thiên Chúa, ngày 20/8/2018). Một phần quan trọng của tiến trình này là tiến hành một cuộc nghiên cứu nghiêm túc về sự thật của quá khứ và giúp cho những ngưởi sống sót của các trường nội trú có được những hành trình chữa lành cho những chấn thương đã chịu đựng.

Tôi cầu nguyện và hy vọng rằng các Kitô hữu và xã hội của vùng đất này sẽ lớn lên trong khả năng của mình để đón nhận và tôn trọng bản sắc và kinh nghiệm của các dân tộc bản địa. Tôi hy vọng rằng những phương tiện cụ thể sẽ được tìm thấy để nhận biết và trân quý chúng, bằng cách học hỏi cùng nhau tiến lên. Về phần tôi, tôi sẽ tiếp tục khuyến khích sự dấn thân của mọi người công giáo đối với các dân tộc bản địa. Tôi đã làm chuyện này nhiều lần ở nhiều nơi, qua những cuộc gặp gỡ, những lời kêu gọi và kể cả một Tông Huấn. Tôi biết rằng điều này đòi hỏi thời gian và sự kiên nhẫn : đó là những tiến trình phải chinh phục trái tim chúng ta. Sư hiện diện của tôi nơi đây và sự cam kết của các giám mục Canada chứng tỏ ý chí tiến tới trên đường hướng này.

Các bạn thân mến, chuyến hành hương này kéo dài trong ít ngày và sẽ đến những nơi rất cách xa nhau, tuy nhiên, nó sẽ không cho phép tôi thỏa mãn nhiều nơi yêu cầu tôi tới thăm như các trung tâm Kamloops, Winnipeg, những địa điểm tại Saskatchewan, ở Yukon hay ở các Vùng Đất Tây-Bắc. Dù là không thể thực hiện, xin quý anh chị em biết cho rằng tất cả quý anh chị em đều ở trong tư tưởng và trong kinh nguyện của tôi. Xin quý anh chị em hiểu cho rằng tôi biết rõ những đau khổ, những chấn thương và những thách thức của các dân tộc bản địa trong mọi vùng của đất nước này. Những lời tôi nói trên suốt cuộc hành trình đền tội này được gửi tới tất cả các cộng đồng và tới tất cả mọi người dân bản địa, mà tôi hết lòng yêu quý.

Với chặng đầu tiên này, tôi đã muốn dành cho ký ức. Ngày hôm nay, tôi ở nơi đây để nhớ đến quá khứ, để khóc với quý anh chị em, để im lặng nhìn xuống đất và để cầu nguyện trên những nấm mồ. Chúng ta hãy để cho sự thinh lặng giúp cho tất cả chúng ta dồn nén nỗi đau vào trong lòng. Thinh lặng. Và cầu nguyện : đối mặt với điều ác, chúng ta hãy cầu nguyện Chúa của điều thiện và đối mặt với sự chết, chúng ta hãy cầu nguyện Thiên Chúa của sự sống. Chúa Giêsu Kitô đã làm cho một ngôi mộ, vốn là ngõ cụt của hy vọng, trước nó tất cả mọi ước mơ đều tan biến và ở đó chỉ còn tiếng khóc than, sự đau đớn và sự cam chịu, Người đã biến ngôi mộ đó thành cái nơi của sự tái sinh, của sự sống lại, từ đó xuất phát một câu chuyện của cuộc sống mới và của sự hòa giải phổ quát. Các nỗ lực của chúng ta không đủ để chữa lành và hòa giải, chúng ta cần có ân sủng của Người : chúng ta cần sự khôn ngoan dịu dàng và mạnh mẽ của Thánh Thần, cần sự dịu dàng của Đấng An Ủi. Cầu xin Người lấp đầy những chờ đợi của trái tim chúng ta. Cầu xin Người hãy nắm lấy tay chúng ta. Cầu xin Người làm cho chúng ta cùng nhau tiến bước.

[01124-FR.01] [Bản gốc : tiếng Tây Ban Nha]

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Discours du pape François lors de la rencontre avec les Premières nations, les Métis et les Inuits autochtones – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Diễn văn của ĐGH Phanxicô tại cuộc gặp gỡ các Quốc Gia Tiên Khởi, các Người Lai và Người Inuit bản địa

Chào mừng người khách hành hương trên con đường đền tạ

Tiến sĩ Wilton Littlechild đọc một bài diễn văn nồng nhiệt chào mừng ĐGH Phanxicô

JUILLET 25, 2022 20:40 RÉDACTIONEGLISES LOCALESPAPE FRANÇOIS

Zenit.org – 25.7.2022

Trong bài diễn văn chào mừng, Tù Trưởng Tiến sĩ Wilton Littlechild, đại diện các cộng đoàn của các Quốc Gia Tiên Khởi, Những Người Lai và Người Inuit, đã dâng lên Đức Giáo Hoàng lời chào mừng nồng nhiệt, và nói rằng ông rất hân hạnh vì chuyến viếng thăm này của ngài.

Trước sự chứng kiến của Bà Toàn Quyền, của ông Thủ Tướng, của các cựu học sinh nội trú, còn sống đến bây giờ, của các người đứng đầu và những người canh giữ kiến thức, ông đã giới thiệu người đối thoại của ông với đất của Thỏa Hiệp Sáu, vùng đất xưa cũ của các sắc dân Cree, Deene, Blackfood, Saulteaux và Nakota Sioux.

Chính ông cũng là một cựu học sinh của trường nội trú Ermineskine, với tên thật lúc sinh ra của ông là Usaw Kihew (Kim Đại Bàng), ông Littlechild đã nhân danh tất cả các trường nội trú và các trường cư ngụ của đất nước, nhắc lại những chứng tích của sự lạm dụng, trong đó có 7000 hồ sơ đã được đệ nạp vào tháng ba vừa qua tại Vatican. Những sự kiện được kể lại liên quan đến những vụ lạm dụng thể xác và tinh thần trên các trẻ em, sự đàn áp ngôn ngữ, sự tịch thu văn hóa, sự bôi nhọ tâm linh.

Tù Trưởng đã nhiệt liệt cảm ơn phẩm chất của sự lắng nghe và sự chạnh lòng thương xót mà Đức Giáo Hoàng đã chứng tỏ và chào mừng sự gần gũi của ngài bằng cách đáp lời mời gọi mà Đức Giáo Hoàng La Mã đã thể hiện bằng cuộc hành hương trên những nẻo đường hòa giải và chữa lành.

Mai Khôi dịch từ bản tiếng Pháp của Zenit.

Salutation au pèlerin sur le sentier de la réconciliation – ZENIT – Francais

Posted in Chưa được phân loại | Chức năng bình luận bị tắt ở Chào mừng người khách hành hương trên con đường đền tạ